Nguyễn Hưng Quốc - Đọc ‘Đứng vững ngàn năm’ của Ngô Nhân Dụng
at 8/08/2013 10:28:00 AM
Nguyễn Hưng Quốc
Tôi được Ngô Nhân Dụng tặng cuốn Đứng vững ngàn năm: Nhờ đâu nước Việt
vẫn còn sau ngàn năm Bắc thuộc? vừa được Người Việt xuất bản trong
chuyến đi California vừa qua. Lúc ở Cali, tôi đọc loáng thoáng được
chương đầu. Rất thích. Nhưng vì quá bận bịu với bạn bè nên không thể đọc
tiếp được. Tôi chỉ đọc trọn cuốn sách dày ngót 500 trang ấy trên chuyến
bay từ Los Angeles về lại Sydney. Đọc say sưa. Nhờ thế, chuyến bay dài
15 tiếng tự dưng thấy ngắn hẳn lại.
Đây là tác phẩm biên khảo thứ tư của Ngô Nhân Dụng, sau ba cuốn đã in
dưới nhiều bút hiệu khác nhau: Yêu con, dạy con nên người Việt (ký Đỗ
Quý Toàn, 1987), Đổi Mới Kinh Tế: Thí nghiệm Cộng sản đã thất bại, Việt
Nam đi về đâu? (ký Vương Hữu Bột, 1989) và Tìm thơ trong tiếng nói (ký
Đỗ Quý Toàn, 1992) (1).
Nhìn vào danh sách bốn tác phẩm trên, nhận xét đầu tiên cần được rút ra
là: Phạm vi nghiên cứu của Ngô Nhân Dụng thật rộng: Ông đi từ giáo dục
đến kinh tế, lý thuyết văn học, và cuối cùng, lịch sử và văn hóa (hoặc,
đúng hơn, nhân học, anthropology). Các tác phẩm thuộc các lãnh vực không
những khác nhau mà có khi còn rất xa nhau, ngỡ như trái ngược hẳn nhau
(như giữa thơ và… tài chính, chẳng hạn!)
Ngoài sự đa dạng, tất cả các cuốn sách ấy đều có hai đặc điểm chung: Thứ
nhất, tính chất nghiêm túc trong học thuật. Được đào tạo có bài bản ở
Tây phương, lại có kinh nghiệm giảng dạy ở đại học trong nhiều năm, Ngô
Nhân Dụng nắm rất vững các phương pháp nghiên cứu, nên cuốn sách nào của
ông cũng đều có độ dày về tài liệu, độ sâu của sự phân tích, sự giàu có
của các chứng cứ và sự mạch lạc trong cách lý luận, tránh được những
kết luận vội vã, võ đoán, xuất phát từ thành kiến quen thuộc thường
thấy. Thứ hai, tính chất khám phá. Mỗi cuốn sách của Ngô Nhân Dụng đều
mang lại cho người đọc nhiều phát hiện thú vị, hoặc trong tư liệu hoặc
trong quan điểm hoặc trong cả hai. Dù chuyển dịch qua nhiều lãnh vực
khác nhau, ở đâu Ngô Nhân Dụng cũng nghiên cứu kỹ lưỡng, cập nhật được
những kiến thức mới nhất trong ngành và ở đâu ông cũng cố gắng đưa ra
một cách nhìn khác, ít nhất so với giới cầm bút Việt Nam. Cái gọi là
“cách nhìn khác” ấy hiếm khi được đẩy đến cùng, có lẽ do Ngô Nhân Dụng
ngại sự “cực đoan”: Ông thường dừng lại ở thao tác tổng hợp để bao quát
nhiều quan điểm khác nhau, từ nhiều góc độ khác nhau, hầu vẽ nên một bức
tranh nhiều chiều và nhiều tầng. Đọc ông, nhờ vậy, người ta vừa thấy
thích thú vừa thấy gần gũi. Ông không gây hấn với truyền thống và thành
kiến, không đẩy người đọc vào thế đối lập. Ông chọn cách đối thoại khoan
hòa và dung hòa.
Trong các tác phẩm của Ngô Nhân Dụng, cuốn sách mới nhất, Đứng vững ngàn
năm, là cuốn sách hay và rất cần thiết. Nó vừa có ý nghĩa học thuật vừa
có ý nghĩa chính trị: Nó trả lời được nhiều câu hỏi không những của
giới nghiên cứu về lịch sử và văn hóa mà còn của mọi người Việt Nam bình
thường trước tình hình chính trị, đặc biệt trong quan hệ với Trung Quốc
hiện nay. Nhưng ở đây, tôi chỉ xin tập trung vào khía cạnh học thuật.
Đặc điểm đầu tiên của cuốn Đứng vững ngàn năm là sự mới mẻ.
Trước hết là sự mới mẻ trong đề tài. Thường, viết về lịch sử Việt Nam,
hầu hết giới cầm bút đều tập trung vào thời kỳ từ thế kỷ thứ 10 trở về
sau. Với thời kỳ trước đó, người ta chỉ thường nhắc một cách họa hoằn và
thoáng qua. Lý do dễ hiểu: ít tài liệu. Đứng vững ngàn năm là một cuốn
sách hiếm hoi tập trung vào cái vùng được xem là ít tài liệu và cũng ít
được đề cập ấy. Trong cái vùng hoang vắng ấy, Đứng vững ngàn năm lại
xoáy sâu vào một khía cạnh hầu như chưa có ai nghiên cứu thật sâu: tại
sao, trước sự bành trướng dữ dội và liên tục của Trung Hoa, trong khi
các sắc dân khác ở Quảng Đông, Vân Nam và nhiều vùng khác đều lần lượt
bị thôn tính và đồng hóa, Việt Nam vẫn có thể đứng vững và cuối cùng,
giành được độc lập sau cả ngàn năm Bắc thuộc? Đã có nhiều học giả tìm
cách trả lời câu hỏi ấy. Ví dụ, với Trần Trọng Kim, đó là nhờ nghị lực
và tính chất riêng của người Việt; với Lê Thành Khôi, nhờ người Việt có
tiếng nói riêng; với Keith Taylor, ngoài yếu tố ngôn ngữ, người Việt còn
có một sức mạnh khác: Phật giáo; với Lê Mạnh Hùng, nhờ Việt Nam có dân
số đông và một nền kinh tế dựa trên nghề trồng lúa nước vững chắc (tr.
12).
Câu trả lời của Ngô Nhân Dụng không hoàn toàn mới mẻ nhưng có tính chất
bao quát và sâu sắc. Ông không tin vào một lý do duy nhất (tr. 13). Ông
cho sự tồn tại của dân tộc Việt Nam xuất phát từ nhiều lý do khác nhau.
Theo ông, lòng yêu nước và tinh thần bất khuất tuy cần, rất cần, nhưng
không đủ để bảo vệ một quốc gia. Cả ngôn ngữ cũng vậy. Hầu hết các dân
tộc phía Bắc Việt Nam, tuy cũng có tiếng nói riêng, nhưng cuối cùng, đều
bị người Hán nuốt chửng, và trở thành một tỉnh hay một quận của đế quốc
Trung Hoa mênh mông hiện nay. Lập luận của Ngô Nhân Dụng được xây dựng
dựa trên một giả thuyết: trước và trong khi tiếp xúc với Trung Hoa,
“[đ]ời sống tập thể của dân Việt phải có những cơ cấu khá vững chắc làm
nền tảng thì mới có sức đề kháng trước làn sóng văn minh Trung Hoa” (tr.
359).
Cái gọi là “cơ cấu vững chắc” ấy bao gồm: “Nhiều yếu tố kinh tế, xã hội
và văn hóa tạo nên sức mạnh của dân Việt, làm vốn liếng để xây dựng được
ý thức dân tộc mạnh mẽ và bền bỉ. Sức mạnh của dân Việt nằm trong một
mạng lưới xã hội là thôn làng (người); trên căn bản kinh tế đủ phong phú
(đất); và trong những tín ngưỡng (thần) giúp người Việt thêm tin tưởng
vào giá trị văn hóa của mình, tự phân biệt với các quan lại và quân lính
đô hộ” (tr. 360).
Giữa cái gọi là “cơ cấu vững chắc” và tinh thần bất khuất, yếu tố nào
quan trọng hơn? Dường như Ngô Nhân Dụng phân biệt hai khía cạnh và hai
giai đoạn khác nhau: Trong việc bảo vệ bản sắc dân tộc trước âm mưu đồng
hóa của Trung Hoa, “[y]ếu tố quan trọng nhất giúp tổ tiên người Việt
không bị Hán hóa có lẽ là, trước khi người Hán tới, họ đã có sẵn một nền
nếp tốt đẹp trong cuộc sống chung, gọi là văn minh” (tr. 14). Nhưng
trong việc giành độc lập thì “yếu tố quyết định vẫn là ý chí vững chắc,
một ‘cái nghị lực riêng’ muốn sống như một dân tộc, dù chỉ là một quốc
gia nhỏ bé; chứ không chịu sáp nhập vào một đế quốc lớn mạnh” (tr. 384).
Ngoài ra, Ngô Nhân Dụng cũng nhận ra một yếu tố khác nữa mà vì tự ái dân
tộc ít ai nghĩ đến: sự may mắn. Việt Nam ở xa, bị ngăn cách với các
trung tâm quyền lực và văn hóa của Trung Hoa bằng những vùng núi non
hiểm trở; hơn nữa, khí hậu lại khá khắc nghiệt; cả hai yếu tố địa lý và
khí hậu ấy biến thành “những hàng rào ngăn cản khiến người Hán bành
trướng xuống tới biên giới nước Việt thì bị ngăn lại” (tr. 14, 176, 179
& 359).
Khi phân tích sự tồn tại của Việt Nam sau một ngàn năm Bắc thuộc, Ngô
Nhân Dụng cũng nhấn mạnh một điểm ít người để ý: trong lịch sử, người
Việt Nam không những giữ được bản sắc văn hóa riêng mà còn có khả năng
đồng hóa ngược lại những người Hoa di dân đến Việt Nam: Tất cả đều dần
dần biến thành người Việt; hơn nữa, họ còn góp phần bảo vệ và xây dựng
Việt Nam trước những âm mưu xâm lăng cũng như đồng hóa của Trung Quốc,
như trường hợp của Lý Bôn, tổ tiên nhà Trần, Vũ Phương Đề, Trịnh Hoài
Đức, v.v.. (tr. 15-6, 306-337).
Tuy nhiên, cái hay và cái mới nhất của cuốn sách không phải ở các luận
điểm lớn và chung chung vừa nêu: Chủ yếu chúng nằm ở độ sâu và độ rộng
của sự phân tích. Ngô Nhân Dụng tránh được hai khuyết điểm thường thấy
trong giới nghiên cứu lịch sử và văn hóa Việt Nam: Một, nhìn mọi hiện
tượng ở Việt Nam như những gì biệt lập; và hai, như hậu quả của khuyết
điểm ấy, hay có khuynh hướng cường điệu hóa một số mặt mạnh hoặc sự độc
đáo nhằm thỏa mãn tự ái dân tộc hơn là tìm kiếm sự thật. Tránh được hai
khuyết điểm ấy, một phần, có lẽ do tầm nhận thức, chủ yếu là tầm nhận
thức của người sống giữa các nền văn hóa, do đó, có thói quen nhìn mọi
vấn đề ở phạm vi toàn cầu; phần khác, theo tôi, quan trọng hơn, do
phương pháp nghiên cứu mà Ngô Nhân Dụng lựa chọn: nó thuộc về lãnh vực
nhân học (anthropology) hơn là lịch sử. Các nhà nghiên cứu lịch sử
thường bị giới hạn trong một phạm vi hẹp: sự kiện; với một nguồn tài
liệu cũng hẹp: ngôn ngữ (chủ yếu là ngôn ngữ viết, chỉ có trong khẩu ký
sử - oral history - mới sử dụng nhiều loại ngôn ngữ nói – dưới hình thức
phỏng vấn); giới nghiên cứu nhân học có tầm hoạt động có tính chất liên
ngành, từ lịch sử đến khảo cổ học, ngôn ngữ học, kinh tế học…, và nhắm
đến một đối tượng lớn hơn: con người, và sau con người, văn hóa. Với một
đối tượng lớn như thế, ngành nhân học đòi hỏi cái nhìn vừa có tính so
sánh (comparative perspective) vừa có tính chỉnh thể luận (holistic
perspective) tức luôn luôn tập trung vào chức năng và quan hệ giữa các
đối tượng được khảo sát.
Ví dụ, viết về vai trò của tín ngưỡng dân gian và các tôn giáo, đặc biệt
về Phật giáo, Ngô Nhân Dụng không hề đề cao các tín ngưỡng hay các tôn
giáo ấy, xem chúng hay hơn các tín ngưỡng và tôn giáo ở những nơi khác.
Ông chỉ tập trung vào các chức năng xã hội và chính trị của các tín
ngưỡng và tôn giáo ấy: Một, chúng giúp người ta thấy mình khác với các
sắc dân khác, nhất là những sắc dân đang xâm lược và đô hộ mình; hai,
chúng giúp nuôi dưỡng niềm tự tin và tự hào dân tộc; ba, chúng tạo nên
tình liên đới và sự đoàn kết giữa những người đồng chủng đang chịu khổ
đau và áp bức; bốn, các cơ sở thờ phượng đóng vai trò đào tạo lớp người
có học để sau đó, họ trở thành những kẻ lãnh đạo trong các cuộc đấu
tranh cho độc lập cũng như trong việc xây dựng đất nước; và cuối cùng,
tín ngưỡng và tôn giáo khiến người ta can đảm hơn, sẵn sàng hy sinh vì
đại nghĩa khi cần thiết. Nhìn vấn đề như vậy đã hay. Nhưng Ngô Nhân Dụng
không chỉ dừng lại ở các phân tích như thế. Khác với hầu hết các nhà
văn hóa học Việt Nam, ông mở rộng tầm nhìn sang nhiều nước khác trên thế
giới, như Kosovo, Ireland, Nam Sudan và Ba Lan để thấy ở những nơi
khác, tín ngưỡng và tôn giáo cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc hình
thành dân tộc. Chứ không riêng gì ở Việt Nam.
Như vậy, không nên đọc Đứng vững ngàn năm như một tác phẩm sử học
(history). Đọc thế là một thiệt thòi cho cuốn sách và cho cả tác giả: Từ
góc độ sử học, Ngô Nhân Dụng không có phát hiện quan trọng nào về tư
liệu. Ông đọc nhiều, nhớ nhiều, diễn đạt một cách mạch lạc và sáng sủa
diễn tiến các câu chuyện được đề cập. Nhưng ông không phải là người đầu
tiên khám phá ra những tư liệu ấy. Tôi nghĩ nên đọc Đứng vững ngàn năm
như một công trình có tính chất nhân học (anthropology), ở đó, giá trị
của nó chủ yếu nằm ở việc phát hiện ra các quan hệ và các chức năng của
những yếu tố có ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa, đặc biệt đến tính cách
của người Việt, từ đó, giải thích sự tồn tại kiên cường của người Việt
trước các đe dọa đến từ phương Bắc. Từ góc độ nhân học, đây là một công
trình nghiên cứu mới mẻ, sâu sắc. Và hay.
Đặc điểm thứ hai của cuốn Đứng vững ngàn năm là ở tầm rộng. Rộng ở nguồn
tư liệu: Chúng được viết bằng nhiều thứ tiếng khác nhau, từ tiếng Việt
đến tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức và chữ Hán; thuộc nhiều lãnh vực
khác nhau, từ lịch sử đến khảo cổ học, văn hóa học, ngôn ngữ học, chính
trị học, kinh tế học, … (2) Rộng ở phạm vi quan sát và đối chiếu. Dường
như với bất cứ vấn đề gì, Ngô Nhân Dụng cũng nhìn quanh trên thế giới để
phát hiện những sự tương đồng và dị biệt. Nói đến vai trò của tiếng
Việt trong việc bảo vệ độc lập cũng như bản sắc văn hóa của Việt Nam,
ông so sánh nó với những gì xảy ra ở Pháp, Tây Ban Nha, Nam Tư, Canada
(đặc biệt vùng Québec), Do Thái, Phần Lan, v.v.. So sánh như thế, Ngô
Nhân Dụng thấy được hai khía cạnh quan trọng: Thứ nhất, ở đâu ngôn ngữ
cũng có tính chính trị và một sức mạnh mãnh liệt trong việc tạo nên cộng
đồng và dân tộc; và thứ hai, yếu tố chính quyết định sức sống bền vững
của một ngôn ngữ không hẳn là vì nó “hay” hơn các ngôn ngữ khác mà chủ
yếu, một phần, nó gắn liền với tình cảm sâu kín của con người; phần
khác, nhờ các mạng lưới xã hội giúp duy trì ngôn ngữ ấy. Riêng trong
trường hợp của Việt Nam, mạng lưới ấy chính là nếp sống quần tụ trong
các làng xóm với những quan hệ lâu đời chồng chéo ít nhiều biệt lập với
chính quyền trung ương. (tr. 202)
Nhưng tầm rộng đáng kể nhất trong cuốn sách của Ngô Nhân Dụng là ở tính
khái quát. Ông đọc nhiều, ở đâu cũng trưng ra thật nhiều dẫn chứng nhằm
củng cố cho lập luận của mình nhưng ông không quá sa đà vào các chi
tiết. Bao giờ ông cũng muốn đẩy các nhận định lên một tầm khái quát thật
cao, do đó, đọc ông, chúng ta không những nhìn thấy được nhiều sự kiện
mà còn nắm bắt được một số quy luật chung nhất xuyên suốt toàn bộ lịch
sử một nước, một khu vực hoặc trên cả thế giới nói chung.
Ví dụ, ông nhấn mạnh: Trước thế kỷ 20, Trung Quốc không phải là một dân
tộc-quốc gia (nation-state) và người Trung Quốc cũng không có ý thức về
dân tộc. Chữ “quốc”, trong chữ Hán, được dùng để chỉ một triều đại. Có
thể nói, người Trung Quốc, tự bản chất và ngay từ khởi thủy, một mặt, đã
có tinh thần “quốc tế chủ nghĩa” không nhằm xây dựng quốc gia chỉ trên
nền tảng sắc tộc; mặt khác, đã mang máu đế quốc, muốn xây dựng đất nước
trên nền tảng tư tưởng “bình thiên hạ”. Tư tưởng dựa trên “thiên hạ” ấy
có ba hệ quả: Một, không bị ngăn cản bởi những sự phân biệt chủng tộc và
sắc tộc, văn minh Trung Hoa dễ bành trướng; hai, người Trung Hoa tương
đối dễ chấp nhận sự thống trị của các dân tộc khác (ví dụ, người Mông Cổ
hoặc người Mãn Thanh) (ít nhất “dễ” hơn so với người Việt Nam); và ba,
khi chiếm và đô hộ Trung Hoa, dưới quan điểm “thiên hạ vi công” (thiên
hạ là của chung) như thế, giới thống trị từ nước khác đến rất dễ mất
cảnh giác về bản sắc văn hóa gốc của mình; hậu quả là, qua nhiều thế hệ
hoặc nhiều thế kỷ, dần dần bị tan hòa vào nền văn hóa của người Hán,
nghĩa là bị Hán hóa, và, cuối cùng, mất luôn cả nước (đó là số phận của
cả người Mông Cổ lẫn người Mãn Thanh).
Một ví dụ khác, Ngô Nhân Dụng phân biệt ba loại đế quốc: Một loại dựa
trên vũ lực (như người Mông Cổ), một loại dựa trên tôn giáo (như người Ả
Rập) và một loại dựa trên văn hóa, trong đó quan trọng nhất là chữ viết
và các thiết chế chính trị cũng như xã hội (như người La Mã và Trung
Hoa). Trong ba loại ấy, loại dựa trên vũ lực có số phận ngắn ngủi nhất,
loại dựa trên tôn giáo có hiệu quả hơn nhưng không lâu dài và chắc chắn
cho bằng kiểu bành trướng và thống trị dựa trên văn hóa với những định
chế chính trị và xã hội riêng (tr. 138, rải rác trong các trang
284-303). Trong cách nhìn như thế, chiến thắng của Việt Nam đối với
Champa và Khmer cũng có thể được giải thích như là chiến thắng của “mô
hình tổ chức quốc gia lối Trung Hoa” đối với “mô hình Ấn Độ” (tr. 281).
Nói cách khác, người Việt Nam, một mặt, dùng truyền thống bản địa để
chống lại nước láng giềng khổng lồ ở phía Bắc, nhưng mặt khác, lại dùng
các bài học từ phương Bắc để chiếm hữu, cai trị và đồng hóa các dân tộc
láng giềng khác ở phía Nam.
Tất cả các điểm vừa nêu có thể không do Ngô Nhân Dụng phát hiện. Nhưng
không phải ai cũng đọc rộng và nhạy bén đủ để tìm thấy các phát hiện ấy,
hơn nữa, không phải ai cũng biết cách vận dụng các quan điểm ấy để làm
tăng thêm chiều sâu và độ dày cho cách lập luận của mình khi tìm hiểu về
lịch sử và văn hóa Việt Nam. Cái tài của Ngô Nhân Dụng, với tư cách một
nhà biên khảo, nằm ở khả năng tìm kiếm và vận dụng tài liệu như thế.
Đặc điểm thứ ba của cuốn Đứng vững ngàn năm là ở sự lạc quan. Từ kinh
nghiệm Việt Nam không bị Hán hóa sau một ngàn năm Bắc thuộc, Ngô Nhân
Dụng tự tin là, trong hiện tại cũng như trong tương lai, về phương diện
chính trị, dù Trung Quốc đe dọa đến mấy, người Việt Nam cũng không thể
bị mất nước được; về phương diện văn hóa, dù áp lực của toàn cầu hóa
nặng nề đến mấy, văn hóa Việt Nam cũng không thể bị mất gốc được; và về
phương diện ngôn ngữ, dù phải vay mượn các thứ tiếng khác nhiều đến mấy,
tiếng Việt vẫn giữ được bản sắc riêng của nó. Trong từ vựng. Trong cú
pháp. Cũng như trong tinh thần.
Tính chất lạc quan ấy thể hiện rõ ngay trong kết cấu của cuốn sách: nó
mở đầu bằng chương “Đứng vững không khuỵu chân”, như một quyết tâm, và
kết thúc bằng chương “Vang vang trời vào xuân”, như một tiếng reo mừng;
mở đầu bằng mấy câu thơ trong tù của Thanh Tâm Tuyền và kết thúc bằng
mấy câu thơ “tràn ngập tin yêu” sau khi ra khỏi nhà tù của Tô Thùy Yên:
“Tiếng biển lời rừng nao nức giục / Ta về cho kịp độ xuân sang” (tr.
442).
Đọc, tự dưng tôi bâng khuâng hỏi thầm: “Ta về”, nhưng “ta” là ai và “về” đâu nhỉ?
Ừ, thì hỏi vậy thôi (3).
Chú thích:
Không kể các tập thơ, ký dưới tên Đỗ Quý Toàn, đã được xuất bản ở Việt Nam trước 1975 cũng như ở hải ngoại.
Ở đây, cần ghi nhận khuyết điểm lớn nhất của cuốn sách là thiếu hẳn phần tài liệu tham khảo và xuất xứ của các tài liệu.
Muốn
mua sách, độc giả có thể liên lạc với báo Người Việt. Địa chỉ: 14771
Moran Street, Westminster, CA 92683, USA. Điện thoại: (1) (714)
892-9414. Cũng có thể mua trên Amazon:
http://www.amazon.com/gp/browse.html?ie=UTF8&marketplaceID=ATVPDKIKX0DER&me=A1G8G7L4YCUJX2
Giá: 25 Mỹ kim.
nguồn:http://www.diendantheky.net/2013/08/nguyen-hung-quoc-oc-ung-vung-ngan-nam.html
=======================================================================

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Chú ý: Điền vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
Sẽ xóa những comment không phù hợp
Thinhoi001