Đồng sàng Bắc Kinh - Hà Nội: Nỗi bi thiết từ nợ công
Phạm Chí Dũng
Thân
phận “nước giàu dân nghèo” của nền kinh tế Trung Quốc không chỉ làm
liên lụy đến số phận nền kinh tế thế giới mà còn góp phần chung quyết
đối với vận mạng của nền kinh tế và cả thể chế Việt Nam.
Linh
cảm bất an của những người Việt còn tinh thần dân tộc về một sự chuẩn y
tai hại của chính thể Bắc Kinh vào thể chế cầm quyền Hà Nội - thông qua
“gói hỗ trợ” kinh tế bất thường trong những năm tới - sẽ có thể được
giải nguy bởi cơn nguy biến có khả năng nổ ra ngay trong lòng nền kinh
tế Nội Hán chỉ trong vài ba năm nữa.
Ít nhất vài
dấu hiệu nguy biến như thế đang phát lộ và trở nên lớn lao hơn nhiều so
với những nhận định thầm cảm trước đây. Tinh thần trưởng thành khá
nhanh chóng như vậy đã diễn biến theo chuỗi logic bất biến: ngân hàng và
nợ xấu.
3.000 tỷ USD nợ công!
Từ
đầu năm 2013, ít nhất 3 ngân hàng lớn của nước ngoài là Goldman Sachs,
Citigroup và Bank of America đã bất ngờ thoái toàn bộ vốn đầu tư khỏi hệ
thống ngân hàng Trung Quốc. Trào lưu chủ động rút vốn này đã kéo theo
sự thoái lui của một số quỹ tài chính quốc tế khỏi thị trường chứng
khoán quốc gia đầy kiêu ngạo này, khiến cho chỉ số Thượng Hải Composite
không thể nào ngóc đầu lên được. Từ thời điểm hoàng kim năm 2007 đến
nay, dù chỉ số này đã mất đi 40% giá trị đỉnh, nhưng dĩ nhiên đà suy
thoái chưa dừng ở đó.
Nếu chứng khoán được xem
là tín hiệu tiên phong báo trước xu hướng vận động của kinh tế, thì đó
chính là một logic khác đã dẫn đến tình thế nợ công trở nên hiểm nghèo
đột ngột đối với toàn bộ nền kinh tế Trung Quốc, điều mà ngay cả “tiến
sĩ tận thế” Nouriel Roubini, trong nhiều đánh giá và dự báo trước đây về
chuyển động của kinh tế Trung Hoa, cũng không thể bao quát được.
Đột
biến đã xảy ra khi năm 2013 bước vào những ngày cuối cùng. Chính vào
lúc đó, cơ quan kiểm toán Trung Quốc bất ngờ công bố số nợ công của nhà
nước này đã lên đến 3.000 tỷ USD. Con số này, xét về mặt giá trị tuyệt
đối, gần bằng toàn bộ kho dự trữ ngoại tệ khổng lồ của Trung Hoa đại
lục.
Một kinh ngạc cũng đã phát vỡ. Mới vào năm
2011, nợ của các chính quyền địa phương chỉ được báo cáo vào khoảng
1.450 tỷ USD, cho dù khi đó ước đoán của những tổ chức xếp hạng tài
chính độc lập có tiếng trên thế giới như Credit Suisse và Fitch Ratings
là 2.200 tỷ USD. Thế nhưng đến nay, nợ của khối chính quyền địa phương
đã tăng lên gấp đôi.
Cú vọt lên gấp đôi đó lại chỉ tăng tốc trong một thời gian ngắn ngủi. Vì sao lại xảy ra một giấc mơ chóng mặt như thế?
Có
hai cách giải thích: hoặc giới ngân hàng trung ương Trung Quốc đã cố
tình giấu nhẹm về con số thực nợ xấu của các chính quyền địa phương và
cả về số nợ công của đất nước này; hoặc những người làm chính trị chuyên
nghiệp như Tập Cận Bình muốn thực sự nhìn thẳng vào sự thật trần trụi
để tiến hành một cuộc cải cách kinh tế lớn chưa từng thấy - chỉ dấu được
xem là ngang ngửa với kế hoạch hiện đại hóa Trung Quốc mà Đặng Tiểu
Bình đã ồn ào khoa trương từ cuối những năm 1970.
Cũng
còn một cách lý giải sâu xa và khó nói hơn: sau khi đã trở thành hiện
tượng chưa từng có trong giới chính khách Trung Quốc về thắng lợi thâu
tóm quyền lực chỉ trong vòng một năm từ khi nhậm chức, Tập Cận Bình muốn
dùng sự thật về nợ xấu và nợ công để tạo nên một chiến dịch
“perestroika” mà từ đó sẽ khuynh loát toàn bộ hệ thống điều hành của
chính quyền, khiến chính phủ và các thành viên của nó phải phụ thuộc
hoàn toàn vào các quyết định của tổng bí thư kiêm chủ tịch nước, từ đó
làm rõ hơn hẳn tính thực tiễn về cơ chế “nhất thể hóa” trong việc tập
trung hóa quyền lực trên toàn cõi Trung Hoa.
Cần
lưu ý, chủ đề dần công khai hóa nợ xấu và nợ công đã chỉ diễn ra sau
hội nghị trung ương 3 của đảng vào tháng 11/2013 - một cuộc họp cho thấy
Tập Cận Bình đã không hoàn toàn thành công trong ý đồ muốn tạo ra một
cuộc cải cách liên quan đến cơ chế giảm độc quyền doanh nghiệp quốc
doanh, cải cách hệ thống ngân hàng và đa dạng hóa chế độ sở hữu đất đai.
Đồng sàng
Nhưng
nói gì thì nói, mọi chuyện cũng đã trở nên xấu hơn đáng kể so với vài
năm trước. Có đến 70% hoặc hơn nợ của các chính quyền địa phương phụ
thuộc không thể chối cãi vào thị trường bất động sản tại đất nước này.
Mà tình trạng bất động sản lại vẫn nằm nguyên trong một nghịch lý quá
nan giải: bất chấp giá nhà đất vẫn tiếp tục tăng tiến tại phần lớn trong
70 thành phố chính của Trung Quốc, chính quyền ở nhiều nơi vẫn không
thể giải quyết được hàng tồn kho nhà đất, đặc biệt là khối ung thư khổng
lồ căn hộ cao cấp. Tính thanh khoản vẫn chưa thoát khỏi bóng ma giảm
phát.
Nhiều người trong giới phân tích quốc tế
và cả tại Hồng Kông đã khẳng định là thị trường bất động sản Trung Quốc
chắc chắn sẽ sụp đổ. Thời điểm sụp đổ có thể trong từ 3 - 5 năm nữa.
Khác
hẳn với tốc độ giảm nhiệt đáng kể đến 30% của thị trường bất động sản
Singapore, giới điều hành chính sách nhà đất Trung Quốc đã hầu như thất
bại trong việc điều tiết giá nhà quá nóng, cho dù những chính sách như
đánh thuế đối với việc người dân sở hữu căn hộ thứ hai đã được đưa ra từ
năm 2012. Cho tới nay, không những không giảm, giá nhà vẫn tiếp tục phi
mã. Một cuộc thăm dò dư luận cho thấy có đến 70% người được hỏi không
hài lòng hoặc phản ứng phẫn nộ vì giá nhà quá cao so với thu nhập trung
bình của người lao động.
Tình hình phân hóa quá
lớn về giá nhà đất và thu nhập ở Trung Quốc cũng có thể gần tương tự xã
hội Việt Nam - nơi mà giá nhà đất cao gấp 25 lần thu nhập bình quân của
người lao động, trong khi tiêu chí hợp lý của Liên hiệp quốc đưa ra chỉ
dưới 5 lần.
Không thể giải quyết được việc bình
ổn giá nhà đất, chế độ chính trị ở Trung Quốc cũng đương nhiên đang
tuyệt vọng trong mục tiêu làm cho hố phân hóa giàu nghèo hẹp lại, do đó
càng khiến tâm trạng bất mãn và tâm lý thù ghét người giàu trong dân
chúng trở nên đại trà và sắt máu hơn.
Cũng
không thể giải quyết được nạn tồn kho nhà đất, hệ thống ngân hàng Trung
Quốc luôn phải đối mặt với nguy cơ đổ vỡ, và hơn nữa là dạng domino sụp
đổ liền mạch giữa các ngân hàng. Bài học gần nhất mà chắc chắn giới điều
hành kinh tế Trung Quốc không thể nào quên là sự sụp đổ bất ngờ của
ngân hàng Lehman Brothers ở Mỹ vào tháng 10/2007, dẫn tới cuộc suy thoái
toàn diện tại quốc gia hùng mạnh nhất thế giới này trong 17 tháng.
Đó
cũng là hình ảnh đơm hoa kết trái của cơ chế “đầu tư nhiều nhất trong
thời gian ngắn nhất” ở Trung Quốc vào thời kinh tế hoàng kim những năm
2006-2007, tương tự với Việt Nam. Nhưng mọi chuyện vẫn chưa phải hết, vì
ngay cả sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 và đến thời kỳ
tạm phục hồi năm 2009-2010, Bắc Kinh và Hà Nội vẫn đua nhau tiếp tục đầu
tư theo cái cách “tiền đổ vào cho đến lúc sụp đổ hoàn toàn”.
Hoàn
cảnh Hà Nội còn tàn thiết hơn: sau 6 năm suy thoái với nền kinh tế vẫn
hầu cạn kiệt sức hồi sinh, sau cú đổ nợ lên đầu con cháu với tỷ lệ nợ
công hiện thời lên đến 95-98% GDP, giới lãnh đạo và những tập đoàn cá
mập nhà nước vẫn không ngớt vay mượn từ ODA và các nguồn tín dụng quốc
tế khác.
Vay mượn cho đến khi sự đổ vỡ trở nên tuyệt đối…
Đèn nhà ai nấy rạng
Không
thể né tránh rằng, tương lai đổ vỡ sẽ hoàn toàn không xa vời, đặc biệt
ứng với nền kinh tế Việt Nam. Còn với Trung Quốc, bởi tiềm lực kinh tế
mạnh hơn hẳn, trước mắt giới điều hành kinh tế tại quốc gia này vẫn chưa
phải quá lo lắng về một cận cảnh kinh hoàng.
Tuy
nhiên, tỷ lệ nợ công/GDP ở Trung Quốc hiện thời đã lên đến 50% theo các
con số báo cáo của chính cơ quan kiểm toán nước này. Còn nếu theo tính
toán của một số cơ quan phân tích độc lập của châu Âu, tỷ lệ nợ công tại
Trung Quốc có thể cao hơn nữa, thậm chí đến 200%.
200%
cũng là tỷ lệ nợ công mà Nhật Bản đã lâm vào trong thập kỷ 80 của thế
kỷ trước. Dù cơ cấu nợ công chủ yếu là nợ trong nước, chừng đó đã là quá
đủ để người Nhật phải rơi vào thập kỷ mất mát không tránh khỏi.
Sau
nhiều năm tăng trưởng nóng và quá hãnh tiến về chủ thuyết “Trung Quốc
trỗi dậy”, có thể không bao lâu nữa nền kinh tế và cả xã hội của đất
nước này sẽ phải rước lấy sự mất mát ghê gớm. Cũng rất có thể, đó sẽ là
một sự trả giá đau đớn, hoàn toàn không liên quan với ngữ nghĩa “hạ cánh
mềm”. Thậm chí, cuộc hạ cánh cứng sẽ có thể mang ý nghĩa “đòn xoay chế
độ”.
Với hiện tượng xuất hiện dấu hiệu khá rõ
ràng về nợ xấu và nợ công được công bố ở Trung Quốc vào cuối năm 2013,
có khả năng độ trễ để dấu hiệu biến thành thực chứng sẽ từ một đến hai
năm. Và nếu trong năm 2014 các chính quyền địa phương tiếp tục bị ám ảnh
nặng nề bởi núi hàng tồn kho nhà đất, cũng như không thể thanh toán
phần lớn nợ cho chính quyền trung ương, thần chết sẽ lừng lững hiện ra.
Năm 2015 sẽ chứng kiến sự biến mất của một tỷ lệ không nhỏ doanh nghiệp
bất động sản và kéo theo tình cảnh băng hà của một bộ phận trong giới
ngân hàng.
Viễn cảnh không mấy xa xôi đó hiển
nhiên sẽ tác động tức thì qua đường biên giới Việt - Trung. Những gì mà
giới quan chức “bốn tốt” ở Hà Nội đặt niềm tin và ấp ủ không ít hy vọng
vào một “gói giải cứu” nhiều tỷ đô la từ Bắc Kinh cho năm 2014 và những
năm tới sẽ có thể trở thành cái bánh vẽ không lồ không hơn không kém.
Thậm
chí một khi kinh tế Trung Quốc rơi vào suy thoái, một tỷ đô la cũng
không sẵn dành cho Hà Nội, để nói như một chuyên gia quốc doanh, một tỷ
đô la cũng có thể khiến cho Nhà nước Việt Nam vỡ nợ.
Khi
đó và như một câu tục ngữ dân gian, sẽ là “đèn nhà ai nấy rạng”. Không
thể có chuyện ứng cứu lẫn nhau, nhất là khi các nền chính trị độc tài bị
ngập ngụa bởi nạn tham nhũng và đã trở thành một thứ phản cảm không thể
quá đáng hơn đối với lịch sử nhân loại.
P. C. D.
Tác giả trực tiếp gửi cho BVN
Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 01:26
nguồn:http://boxitvn.blogspot.com/2014/01/ong-sang-bac-kinh-ha-noi-noi-bi-thiet.html
=======================================================================
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Chú ý: Điền vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
Sẽ xóa những comment không phù hợp
Thinhoi001