Hiển thị các bài đăng có nhãn BIỂN ĐÔNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BIỂN ĐÔNG. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 26 tháng 10, 2013

Phóng sự kèm theo hoạt đồ của báo New York Times về tranh chấp Phi-Trung tại Bãi Cỏ Mây

Phóng sự kèm theo hoạt đồ của báo New York Times về tranh chấp Phi-Trung tại Bãi Cỏ Mây 



Quý độc giả xin bấm vào đường dẫn dưới đây để đọc bài phóng sự (kèm theo các phim ảnh và hoạt đồ) rất công phu do New York Times đăng ngày 24-10-2013. Người đọc sẽ thấy hình ảnh của 9 người lính thuỷ Phi Luật Tân sống cơ cực trên một chiếc tàu chiến cũ kỹ bị đánh chìm để dùng làm công sự quan sát và theo dõi các sinh hoạt của đối phương. Bên cạnh đó là những cơ sở to lớn và tối tân cùng hạm đội hùng hậu mà Trung Quốc đang xây dựng nhằm chiếm đóng toàn bộ biển Đông.
--
Phóng sự này do ông Đoàn H. Quốc trực tiếp gửi cho BVN

Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 02:20
nguồn:http://boxitvn.blogspot.com/2013/10/phong-su-kem-theo-hoat-o-cua-bao-new.html
======================================================================

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2013

Walter Lohman - Biển Đông và Bài Học Lịch Sử

Walter Lohman - Biển Đông và Bài Học Lịch Sử 



Mai Xương Ngọc dịch
Việc hủy bỏ chuyến thăm của Tổng thống Obama đến tham dự ASEAN và Hội nghị Cấp cao APEC tuần tới đã làm xôn xao mạng Internet với các cuộc thảo luận rằng việc này có thể có ý nghĩa gì đối với vai trò của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương. Tuy nhiên, phản ứng ban đầu không nhất thiết đã là tốt. Tổng thống Obama đã từng hủy bỏ chuyến đi đến Indonesia và Úc ba lần trong giai đoạn 2009 – 2010. Sự chú ý đến ngoại giao cá nhân của chính quyền Bush ở Đông Nam Á cũng tương tự như vậy.

Thứ Tư, 7 tháng 8, 2013

Tâm thư của tiến sĩ sử học Nguyên Nhã gửi các bạn trẻ trước chuyến đi Châu Âu

Tâm thư của tiến sĩ sử học Nguyên Nhã gửi các bạn trẻ trước chuyến đi Châu Âu 


Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã
(Trưởng Đề án bếp Việt - Bếp của thế giới)

TÂM THƯ GỬI CÁC BẠN TRẺ NHÂN CHUYẾN ĐI NÓI CHUYỆN VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HOÀNG SA, TRƯỜNG SA VÀ BIỂN ĐÔNG TẠI CÁC NƯỚC Ở CHÂU ÂU: PHÁP, ĐỨC, TIỆP...

Sau chuyến đi tham gia Hội thảo về Biển Đông ngày 16/6/2012 tại Đại Học Harvard do Hội sinh viên Việt Nam vùng Boston mở rộng tổ chức, nay tôi lại có dịp đi nói chuyện về Chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông tại một số nơi như Pháp, Đức, Tiệp cũng do các bạn trẻ Việt Nam tại các nước ấy tổ chức.

Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2013

HÀNG NGHÌN TÀU CÁ TRUNG CỘNG LẠI TRÀN RA VƠ VÉT BIỂN ĐÔNG

HÀNG NGHÌN TÀU CÁ TRUNG CỘNG LẠI TRÀN RA VƠ VÉT BIỂN ĐÔNG 

Hàng nghìn tàu cá Trung Quốc tràn ra Biển Đông


Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013

Richard Javad Heydarian - Những luồng sóng trái chiều ở Biển Đông

Richard Javad Heydarian - Những luồng sóng trái chiều ở Biển Đông 


Richard Javad Heydarian | Asia Times Online
Mai Xương Ngọc dịch

MANILA – Đối mặt với một cuộc xung đột có khả năng bùng nổ giữa Trung Quốc và các thành viên của nhóm, Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã nỗ lực khởi động lại các cuộc đàm phán về Bộ Quy tắc Ứng xử trong khu vực (CoC) nhằm giải quyết tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông.

Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013

Tàu TQ cướp phá tàu cá VN như thế nào?

Tàu TQ cướp phá tàu cá VN như thế nào? 

Gia Minh, biên tập viên RFA
2013-07-10
169064-nv_071013_cuoptauca-75.jpg
Ông Võ Minh Vương trên tàu cá QNg96787TS, cửa sổ kính của ca bin tàu đều bị đập bể, ảnh chụp hôm 9/7/2013.
Photo courtesy of Ðất Việt

Hài tàu đánh cá của ngư dân huyện đảo Lý Sơn hôm ngày 9 tháng 7 trở về bờ trong tình trạng bị cướp hết ngư cụ và hải sản đánh được. Cơ quan chức năng đang trong tiến trình điều tra về vụ việc.

Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2013

1884. Giải pháp nào cho vấn đề biển Đông trong hoàn cảnh mới?

1884. Giải pháp nào cho vấn đề biển Đông trong hoàn cảnh mới? 

Posted by basamnews on July 7th, 2013

Ngày 1/8 tới, Trung tâm Minh triết sẽ có buổi họp mặt các tác giả có bài về biển đảo Việt Nam. Nhân dịp này, BS xin giới thiệu một trong số các bài viết về đề tài biển Đông trong bối cảnh sau các cuộc gặp cấp cao Trung-Mỹ và Việt-Trung:
Đinh Hoàng Thắng & Hoàng Việt* 
Luật quốc tế UNCLOS và bộ Quy tắc COC không được thể hiện trong Tuyên bố Việt-Trung. Tin về biển Đông ở Cấp cao Trung-Mỹ cũng không nhất quán. Bối cảnh này khiến việc tìm kiếm giải pháp cho các tranh chấp biển đảo trong khu vực tiếp tục là vấn đề cấp bách. Quyền lợi của ngư dân Việt tại Hoàng Sa, Trường Sa không thể không được đảm bảo.

Thứ Năm, 4 tháng 7, 2013

Lý Ðại Nguyên - Việc tái cân bằng chiến lược Hoa Kỳ buộc Bắc Kinh tạm hòa hoãn Biển Ðông

Lý Ðại Nguyên - Việc tái cân bằng chiến lược, Hoa Kỳ buộc Bắc Kinh tạm hòa hoãn Biển Ðông 

   at 7/04/2013 10:29:00 AM
Lý Ðại Nguyên

Trước khi đi phó hội với khối Asean, Trung cộng đã triệu Trương Tấn Sang chủ tịch nhà nước Việt cộng sang Tàu, để đánh bóng tập đoàn Nhà Nước Việt nam, nhằm thực hiện cuộc Đàm Phán Song Phương, buộc Việt nam phải chấp nhận tách vấn đề quần đảo Hoàng sa mà Trung cộng đã chiếm ra khỏi mối quan hệ với các cuộc Đàm Phán Đa Phương về Biển Đông của khối Asean, và không được nhắc tới Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, để cho Trung cộng dễ dàng áp dụng Luật Biển riêng của họ đối với Việt nam, như đã áp dụng lấn chiếm ở vịnh Bắc Bộ trước đây.

Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2013

Vấn đề Biển Đông sẽ vẫn bao trùm Diễn đàn khu vực ASEAN 

Thanh Phương


Văn phòng Thủ tướng Brunei, nơi dự trù diễn ra hội nghị các Ngoại trưởng Asean (REUTERS /Bazuki Muhammad)
Diễn đàn khu vực ASEAN ( ARF ) sẽ diễn ra ngày 02/07/2013 tại Brunei và chủ đề bao trùm diễn đàn năm nay sẽ vẫn là các tranh chấp chủ quyền lãnh hải giữa Trung Quốc với các nước láng giềng, đặc biệt là tại Biển Đông.
Muời nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á sẽ họp cấp Ngoại trưởng ngày Chủ nhật tới, 30/06. Sang ngày thứ Hai, 01/07 cuộc họp sẽ mở rộng với sự tham gia của đại diện các nước đối tác Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, trước cuộc họp thượng đỉnh Đông Á quy tụ tổng cộng 26 quốc gia và Liên hiệp châu Âu.
Tại các cuộc họp của ASEAN vào năm ngoái ở Phnom Penh, khối này đã bị chia rẽ nặng nề, không có được một lập trường thống nhất trước việc Trung Quốc xác quyết ngày càng mạnh mẽ chủ quyền của họ trên gần như toàn bộ vùng Biển Đông. Nhưng năm nay, theo lời Ngoại truởng Indonesia Marty Natalegawa, ASEAN có vẻ đoàn kết nhất trí hơn và tại hội nghị Burnei, họ sẽ thúc giục Trung Quốc cấp tốc đàm phán về một bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông nhằm làm giảm căng thẳng. Ông Natalegawa tuyên bố với AFP: «Chúng ta cần phải chấm dứt tình trạng nước này trắc nghiệm quyết tâm của nước kia. Đây là một tình trạng cực kỳ nguy hiểm và rất dễ dẫn đến những tính toán sai lầm».
Cho tới nay, Hoa Kỳ vẫn tuyên bố họ không đứng về phe nào trong các tranh chấp lãnh hải giữa Trung Quốc với các nước láng giềng Đông Nam Á. Nhưng Ngoại trưởng Mỹ John Kerry dự trù sẽ nêu vấn đề Biển Đông tại cuộc họp ở Brunei và hành động này chắc chắn sẽ khiến Bắc Kinh nổi giận.
Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ hôm qua đã tuyên bố với hãng tin AFP: «Chúng tôi hy vọng là các ngoại trưởng tham gia Diễn đàn khu vực ASEAN sẽ thảo luận về các tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông và củng cố các nguyên tắc của khu vực, bao gồm việc tôn trọng lẫn nhau, kềm chế và giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình, theo đúng công pháp quốc tế. Chúng tôi khuyến khích tất cả các bên xử lý những bất đồng một cách ôn hòa và nhanh chóng đạt tiến bộ trong việc thiết lập một bộ quy tắc ứng xử».
Nhưng theo các chuyên gia, cuộc họp ở Brunei cũng sẽ khó mà đạt một thỏa thuận về Biển Đông. Cho tới nay, Trung Quốc vẫn cưỡng lại mọi nỗ lực của ASEAN nhằm đạt đến một bộ quy tắc ứng xử có tính chất cưỡng chế thi hành trên Biển Đông. Hãng tin AFP hôm nay trích lời chuyên gia về an ninh khu vực Ian Storey nói rằng Bắc Kinh sẽ tiếp tục chống lại mọi hành động làm suy yếu những đòi hỏi chủ quyền của họ. Theo ông Storey, đàm phán về bộ quy tắc ứng xử sẽ kéo dài nhiều năm và trong thời gian từ đây đến đó, căng thẳng sẽ không giảm, thậm chí có thể tăng lên».
Về phần giáo sư Carl Thayer, thuộc Học viện Quốc phòng Úc, cho rằng Bắc Kinh đang tìm cách kéo dài thời gian gây đủ ảnh hưởng lên ASEAN để khối này thuyết phục Philippines rút đơn kiện Trung Quốc ra trước tòa án Liên hiệp quốc về vấn đề chủ quyền Biển Đông.
Bên cạnh đó, Bắc Kinh đang gia tăng tuần tra trên vùng Biển Đông. Nói cách khác, theo lời giáo sư Thayer, Trung Quốc nói sẳn sàng thảo luận, nhưng lại sử dụng chính sách «ngoại giao pháo hạm» để gây áp lực lên các nước Đông Nam Á.
T.P.
Nguồn: http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20130628-bien-dong-se-van-bao-trum-dien-dan-khu-vuc-arf
nguồn:http://www.boxitvn.net/bai/17165
======================================================================
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
          Sẽ xóa những comment nói tục
          Thinhoi001

Thứ Năm, 27 tháng 6, 2013

Biển Đông: Dầu mỏ, những yêu sách trên biển, và cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung 


Biên dịch: Nguyễn Thị Thanh Dung | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Nguồn: Leszek Buszynski (2012). “The South China Sea: Oil, Maritime Claims, and U.S.–China Strategic Rivalry”, The Washington Quarterly, 35:2, 139-156.
Download PDF: Bien Dong Buszynski.pdf
Nguy cơ xung đột leo thang từ những sự kiện tương đối nhỏ đã tăng lên tại Biển Đông trong hơn hai năm qua với những cuộc tranh chấp bây giờ ít có cơ hội hơn để đàm phán hoặc giải quyết. Về nguồn gốc, những tranh chấp này nảy sinh từ sau Thế chiến thứ hai khi những quốc gia ven biển – Trung Quốc và 3 nước trong Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), gồm Indonesia, Malaysia và Philipines, cũng như Việt Nam sau này – tranh giành để chiếm giữ những hòn đảo ở đó [Chi tiết này không chính xác – NHĐ]. Nếu vấn đề này chỉ đơn thuần là về tranh chấp lãnh thổ, thì nó có thể đã được giải quyết thông qua những nỗ lực của Trung Quốc nhằm xích lại gần ASEAN và thắt chặt quan hệ với khu vực này.
Khoảng những năm 1990, việc tiếp cận các mỏ dầu và khí cũng như nguồn cá và tài nguyên biển đã bắt đầu làm phức tạp hóa các yêu sách. Vì nhu cầu năng lượng toàn cầu tăng lên, các bên yêu sách đề ra những kế hoạch khai thác các mỏ hydrocarbon của Biển Đông, khiến cho tranh chấp tiếp bước một cách không có gì bất ngờ, đặc biệt là giữa Trung Quốc và Việt Nam. Tuy nhiên, những tranh chấp năng lượng này không nhất thiết phải dẫn đến xung đột, vì chúng đã và có thể tiếp tục sẽ được quản lý thông qua cơ chế phát triển chung hoặc đa phương, điều đã có nhiều tiền lệ khác nhau mặc dù không trường hợp nào phức tạp như Biển Đông.
Tuy nhiên, hiện tại, vấn đề đã không còn chỉ là những yêu sách chủ quyền và việc tiếp cận nguồn tài nguyên năng lượng, vì Biển Đông đã trở thành trọng tâm của cuộc cạnh tranh Mỹ – Trung tại Tây Thái Bình Dương. Kể từ năm 2010, Biển Đông đã bắt đầu trở nên liên quan tới những vấn đề chiến lược rộng lớn hơn liên quan đến chiến lược hải quân của Trung Quốc và sự hiện diện của Hoa Kỳ tại khu vực. Điều này làm cho cuộc tranh chấp trở nên nguy hiểm và là lý do gây quan ngại, đặc biệt khi Hoa Kỳ đã tái khẳng định lợi ích của mình tại Châu Á Thái Bình Dương và củng cố quan hệ an ninh với các bên yêu sách thuộc ASEAN trong cuộc tranh chấp.
Nguồn gốc tranh chấp về lãnh thổ
Trung Quốc và Việt Nam đòi hỏi chủ quyền toàn bộ khu vực Biển Đông và các đảo ở đó trong khi Malaysia, Philipines, Indonesia và Brunei tuyên bố yêu sách đối với các khu vực tiếp giáp. Có hai nguyên tắc chi phối các yêu sách, mà cả hai đều chống lại yêu sách đòi chủ quyền toàn bộ vùng biển của Trung Quốc. Nguyên tắc thứ nhất là “chiếm hữu thực sự”, một tiền lệ đã được thiết lập bởi Tòa Trọng tài Vĩnh viễn trong vụ đảo Palmas tháng 4 năm 1928. “Chiếm hữu thực sự” bao gồm khả năng và ý định sử dụng quyền tài phán liên tục và không bị gián đoạn, điều khác với xâm lược. Mặc dù Trung Quốc đã chiếm quần đảo Hoàng Sa, một quần đảo bao gồm khoảng 30 đảo/ đá cách đều bờ biển Trung Quốc và Việt Nam, nhưng nguyên tắc “chiếm hữu thực sự” đã chống lại Trung Quốc trong trường hợp quần đảo Trường Sa, một quần đảo nằm ngoài khơi Philipines và Malaysia, nơi mà ngoại trừ 9 bãi đá đã bị Trung Quốc chiếm từ năm 1988 đến năm 1992, những đảo/đá còn lại đều do các nước ASEAN có yêu sách chiếm giữ.
Nguyên tắc thứ hai là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), đặt ra những quy tắc xác định rằng các yêu sách đối với nguồn tài nguyên phải dựa trên cơ sở vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa (EEZ là một vùng biển trải dài tới 320 km tính từ đường bờ biển, là cơ sở cho những đòi hỏi của các quốc gia ven biển với nguồn tài nguyên ở đó). UNCLOS không ủng hộ những yêu sách vượt ra ngoài phạm vi EEZ hoặc các thềm lục địa đã được công bố. Tuy nhiên, yêu sách của Trung Quốc vượt ra xa khỏi phạm vi EEZ của họ và chồng lấn với những yêu sách hợp pháp của các nước ASEAN.
Những yêu sách của Trung Quốc dựa trên lịch sử, nhưng những yêu sách như vậy không có nhiều giá trị trong luật quốc tế, cái mà theo quan điểm của Trung Quốc đã hạ thấp (lý do) di sản tổ tiên để lại của họ và là nguồn gốc cho sự bất mãn của nước này. Quan điểm của Trung Quốc là yêu sách của nước này có trước UNCLOS (được thông qua vào năm 1982 và có hiệu lực vào năm 1994 sau khi quốc gia thứ 60 phê chuẩn), và rằng Công ước này cần được điều chỉnh để phù hợp với các quyền lịch sử. Để khẳng định những yêu sách mà trong tình huống này sự phức tạp của luật quốc tế có thể không ủng hộ họ, người Trung Quốc đã dùng đến áp lực ngoại giao thường trực để luật quốc tế phải được thay đổi hoặc để đạt được một ngoại lệ đặc biệt, theo đó những yêu sách từ các thế hệ trước của họ sẽ được tất cả các bên công nhận.
Dầu mỏ, năng lượng, và nghề cá
Nếu chỉ là một tranh chấp chủ quyền đơn thuần, Biển Đông có thể sẽ đã tiếp tục bế tắc như vậy mà không nhiết thiết phải giải quyết ngay. Tuy nhiên, sự tồn tại của nguồn dự trữ năng lượng trong khu vực đã ngăn chặn giải pháp này. Với nhu cầu năng lượng toàn cầu đang tăng lên, những nước tiêu thụ lớn như Trung Quốc đang tìm kiếm những nguồn năng lượng mới để thỏa mãn nền kinh tế đang mở rộng của họ. Năm 2009, Trung Quốc trở thành nước tiêu thụ dầu mỏ lớn thứ hai sau Hoa Kỳ, và sức tiêu thụ của họ có thể tăng gấp đôi vào năm 2030, biến nước này thành nước tiêu thụ dầu mỏ lớn nhất thế giới. Năm 2010, Trung Quốc đã nhập khẩu 52% lượng dầu tiêu thụ của mình từ Trung Đông, và Saudi Arabia cùng Angola cộng lại chiến đến 66% lượng dầu nhập khẩu của nước này. Trung Quốc đã và đang đa dạng hóa nguồn cung năng lượng của mình để giảm phụ thuộc vào dầu nhập khẩu và đã tìm cách gia tăng sản lượng ngoài khơi xung quanh lưu vực sông Châu Giang và Biển Đông.
Các yêu sách năng lượng đối kháng
Việt Nam là quốc gia sản xuất dầu mỏ lớn trong khu vực, với công ty dầu khí quốc doanh PetroVietnam năm 2010 sản xuất được 24,4 triệu tấn dầu từ ba mỏ ở Biển Đông, tương đương với 26% tổng GDP của Việt Nam. Với việc sản lượng ở các mỏ đã xây dựng đang suy giảm, PetroVietnam đã ký 60 hợp đồng thăm dò và khai thác dầu khí với các công ty nước ngoài khác nhau nhằm khai thác các mỏ mới. Tuy nhiên, các mỏ mới được cho là sẽ không đủ bù đắp cho số sản lượng sụt giảm của các mỏ cũ. Khi Việt Nam cố gắng khai thác các mỏ mới, có khả năng sẽ xảy ra xung đột mới với Trung Quốc, nước đã kiên quyết phản đối nỗ lực của Việt Nam nhằm ký hợp đồng khai thác với các công ty dầu quốc tế trên Biển Đông.
Trung Quốc cáo buộc các nước ASEAN có yêu sách đã xâm phạm vào vùng biển của họ và cho rằng Trung Quốc có quyền thực thi các yêu sách chống lại các nước này. Chẳng hạn vào ngày 26 tháng 5 năm 2011, hai tàu hải giám của Trung Quốc đã cắt cáp thăm dò dầu khí của một tàu khảo sát đang hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, cách bờ biển phía nam Việt Nam khoảng 120 km. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công bố những đoạn video cho thấy một con tàu Trung Quốc quả thật đã cắt đứt cáp nối với tàu Việt Nam mang tên Bình Minh. Jiang Yu, phát ngôn viên Bộ ngoại giao Trung Quốc tuyên bố rằng tàu Trung Quốc đang tham gia “các hoạt động giám sát và chấp pháp trên biển hoàn toàn bình thường trong khu vực thuộc quyền tài phán của Trung Quốc”. Vào ngày 9 tháng 6, một tàu cá Trung Quốc cũng đã đâm ngang cáp khảo sát của một con tàu khảo sát khác của Việt Nam.
Philipines cũng đã có nhiều vấn đề với Trung Quốc. Manila đã nổ lực để nâng cao khả năng tự cung tự cấp dầu của mình, và đặt mục tiêu (tự cung) 60% vào cuối năm 2011, điều mà họ có khả năng không đạt được. Nước này dự tính chào thầu 15 hợp đồng trong những năm tới cho việc thăm dò vùng biển ngoài khơi đảo Palawan, trong một khu vực bị yêu sách bởi Trung Quốc. Năm 2011, Philipines đã báo cáo 7 sự cố liên quan đến sự quấy rối của Trung Quốc. Trong một trường hợp, vào ngày 2 tháng 3, hai tàu tuần tra của Trung Quốc đã quấy rối một tàu thăm dò dầu khí trong khu vực mà Philippines yêu sách nằm cách bờ biển Palawan 250 km về phía tây. Hai con tàu này chỉ rời khỏi khu vực sau khi lực lượng không quân Philipines được điều động. Ngày 5 tháng 4, Manila đã phản đối chính thức lên Liên Hợp Quốc và tìm kiếm sự ủng hộ từ ASEAN nhằm đạt được lập trường chung về vấn đề này. Người Trung Quốc đã phản ứng lại vài ngày sau đó, chính thức tố cáo Philipines “xâm lược” vùng biển của họ. Sau khi Trung Quốc triển khai tàu tuần tra 3000 tấn Haixun-31 được trang bị một trực thăng đến khu vực này, thì vào tháng 6, Philipines đã phải một tàu hải quân loại cũ từ thời Thế chiến thứ hai, tàu Rajah Humabon, đến vùng biển yêu sách của họ. Chiếc tàu này đã di dời hết các cột mốc được người Trung Quốc dựng lên trên các bãi đá khác nhau thuộc vùng biển yêu sách bởi Philipines. Cũng trong tháng 6, văn phòng tổng thống Philipines cũng tuyên bố đổi tên “Biển Nam Trung Hoa” (Biển Đông) thành “Biển Tây Philipines”, và công bố một chương trình nâng cấp hải quân, điều sẽ giúp nâng cao sự hiện diện hải quân đang hạn chế của họ tại khu vực.
Bất chấp phản đối từ phía Trung Quốc, cả Việt Nam và Philipines đều có kế hoạch xúc tiến các dự án thăm dò khí đốt hợp tác với các công ty nước ngoài. PetroVietnam sẽ hợp tác cùng Talisman Energy và sẽ bắt đầu khoan tại một khu vực mà Trung Quốc năm 1992 đã giao cho công ty Crestone, một công ty hiện được điều hành bởi Harvest Natural Resources. ExxonMobil cũng lên kế hoạch khoan thăm dò ngoài khơi Việt Nam, trong khi Philipines dự định khoan tại khu vực nơi mà các tàu Trung Quốc đã quấy rối tàu khảo sát của họ hồi tháng 3 năm 2011.
Trong lúc đó, Ấn Độ cũng đã trở nên liên quan với tư cách một tác nhân bên ngoài, càng làm tình hình phức tạp hơn. Trung Quốc có thể có ảnh hưởng với các bên yêu sách ASEAN nhờ quy mô và sự gần gũi về vị trí địa lý của họ với các nước ASEAN, nhưng Ấn Độ lại có một vị thế và sức mạnh đủ để đối kháng với Trung Quốc. Hơn nữa, Ấn Độ vẫn đang chất chứa sự khó chịu riêng với Trung Quốc vì sự ủng hộ của Trung Quốc dành cho Pakistan và các yêu sách của Trung Quốc đối với biên giới chung của hai nước. Những điều này khiến Trung Quốc sẽ gặp nhiều khó khăn hơn khi đối phó với Ấn Độ. Quan hệ của Ấn Độ với Việt Nam bắt đầu từ thời của Indira Gandhi, khi chính phủ Gandhi đã công nhận chính phủ do Việt Nam hậu thuẫn tại Campuchia vào năm 1984. Nhiều người Ấn Độ coi Việt Nam như một đồng minh chống lại Trung Quốc.
Tàu hải quân Ấn Độ INS Airavat khi đang di chuyển đến Nha Trang thuộc miền Nam Việt Nam vào tháng 7 năm 2011 thì đã bị Trung Quốc cảnh báo bằng tín hiệu radio là hãy tránh xa “vùng biển Trung Quốc”. Bộ Ngoại giao Ấn Độ phản ứng lại rằng “Ấn Độ ủng hộ tự do hàng hải trên vùng biển quốc tế, bao gồm cả Biển Đông, và quyền qua lại phù hợp với những nguyên tắc đã được công nhận trong luật quốc tế”. Trong khi đó, Trung Quốc đã phản đối những hoạt động thăm dò của Công ty Dầu và Khí tự nhiên Ấn Độ (ONGC) xung quanh quần đảo Hoàng Sa, khu vực mà người Trung Quốc đặc biệt nhạy cảm. Quan điểm của ONGC là các yêu sách của Việt Nam phù hợp với luật quốc tế, và họ sẽ tiếp tục các dự án thăm dò tại hai lô gần quần đảo Hoàng Sa.
Sau đó, khi Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang sang thăm New Delhi, ONGC và PetroVietnam đã ký một hợp đồng ba năm về hợp tác thăm dò và khai thác dầu khí vào ngày 12 tháng 10 năm 2011, bất chấp sự phản đối của Trung Quốc. Đáng chú ý hơn, hợp đồng này được ký trong khi Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đang đi thăm Bắc Kinh và bày tỏ tình hữu nghị với Trung Quốc. Việt Nam lại dùng đến phương sách truyền thống trong ứng xử với Trung Quốc – tức là nhấn mạnh những điểm chung và tình hữu nghị, vốn là công việc của tổng bí thư Đảng, trong khi vẫn tìm kiếm ở Ấn Độ một đối trọng hiệu quả [để cân bằng với Trung Quốc]. Quả thực, sự can dự của Ấn Độ đến khu vực và mối quan hệ ngày càng thân thiết của họ với Việt Nam sẽ làm cho tình hình Biển Đông thêm khó khăn. Có thể dự đoán là sẽ xảy ra nhiều sự cố hơn nữa, khi mà Trung Quốc vạch ra giới hạn cho cường quốc đối thủ cạnh tranh ở châu Á này.
Cuộc chiến giành cá
Như thể tranh chấp về năng lượng vẫn chưa đủ, sự cạnh tranh về cả nguồn cá và các tài nguyên biển từ Biển Đông cũng góp phần gia tăng căng thẳng. Trong quá khứ, các tàu cá thường xuyên ra vào các vùng chồng lấn, nhưng việc gia tăng mức độ thường xuyên của những vụ việc như vậy đã gây ra những quan ngại. Việt Nam tuyên bố rằng 63 tàu cá cùng 725 ngư dân đã bị phía Trung Quốc bắt giữ trên Biển Đông kể từ năm 2005.18 Sau đó tất cả họ đều bị yêu cầu nộp tiền phạt rất cao thì mới được phóng thích. Trong một vụ việc gây sự chú ý lớn của dư luận Việt Nam, một tàu tuần tra Trung Quốc đã bắt giữ tàu cá Việt Nam cùng 12 thủy thủ khi họ đang hoạt động quanh khu vực quần đảo Hoàng Sa vào tháng 3 năm 2010. Đây không phải lần đầu tiên Trung Quốc làm điều này và Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phản đối dữ dội, và đây là một trường hợp cho thấy sự bất mãn của Việt Nam với hành xử của Trung Quốc.
Trung Quốc áp đặt một lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm trên Biển Đông, họ xem đó như là cách bảo tồn nguồn cá cho đội tàu của mình tại Biển Đông. Lần đầu tiên Bắc Kinh ban lệnh cấm là vào năm 1999, từ tháng 6 tới tháng 7 hàng năm, và tới năm 2009 thì họ kéo dài lệnh cấm thành từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 1 tháng 8 hàng năm. Phạm vi cấm rất mơ hồ, mặc dù lệnh cấm bao trùm lên một khu vực bao quanh quần đảo Hoàng Sa nhưng lại không vươn xa xuống phía Nam tới quần đảo Trường Sa.20 Việt Nam phản đối kịch liệt, vì lệnh cấm ảnh hưởng tới sinh kế của các ngư dân Việt. Để thực thi lệnh cấm và bảo vệ các tàu cá của mình, Trung Quốc phái đến khu vực các tàu mà họ gọi là “tàu kiểm ngư”, nhưng thực chất đó là những tàu hải quân được hoán chuyển. Trung Quốc cũng đã tuyên bố kế hoạch tăng cường sức mạnh của lực lượng hải giám, lên đến 16 máy bay và 350 tàu biển vào năm 2015, số máy bay và tàu này sẽ được sử dụng để giám sát hoạt động tàu bè trên biển, thực hiện các nhiệm vụ khảo sát, “bảo vệ an ninh hành hải” và kiểm tra các tàu nước ngoài hoạt động “trên vùng biển của Trung Quốc”.
Một vấn đề khác là tàu Việt Nam cũng đi vào vùng biển mà các nước ASEAN khác yêu sách. Hai tàu Việt Nam mang tên Indonesia đã bị tàu tuần tra Indonesia bắt hồi tháng 2 năm 2011 gần quần đảo Natuna. Phía Indonesia nói rằng trong năm 2009, khoảng 180 tàu (không phải tất cả đều là của Việt Nam, ví dụ như có một số là của Malaysia) đã bị bắt giữ vì đánh cá bất hợp pháp trong vùng biển của họ. Khi nhu cầu tăng lên mà nguồn cá bị cạn kiệt, việc tranh chấp đánh bắt cá chắc chắn sẽ gia tăng trên Biển Đông, đặc biệt là khi các bên có yêu sách đều nâng cấp hải quân và lực lượng tuần tra bờ biển.
Cạnh tranh giữa các cường quốc
Năng lượng và nguồn cá không là những yếu tố duy nhất trong cuộc tranh chấp này. Biển Đông đang được đưa vào phạm vi cạnh tranh chiến lược giữa Trung Quốc với Hoa Kỳ khi Trung Quốc tăng cường mở rộng chiến lược hải quân và triển khai các năng lực hải quân mới. ASEAN cho rằng những yêu sách bành trướng của Trung Quốc đến toàn bộ khu vực là có thể đàm phán được, rằng Trung Quốc sẽ chịu dàn xếp cho một hiệp định khu vực có các điều khoản thuận lợi, trong đó những tuyên bố chủ quyền sẽ được điều chỉnh, và nguồn lợi dầu khí cũng như ngư trường sẽ được chia sẻ. Dựa vào cơ sở này, ASEAN đã kéo Trung Quốc vào tham gia đối thoại thường xuyên với hy vọng thuyết phục các nhà cầm quyền Trung Quốc về giá trị của một cơ chế chuẩn tắc giúp điều chỉnh hành vi ở Biển Đông. ASEAN thường xuyên cẩn trọng trong việc tránh khiêu khích Trung Quốc và kỳ vọng Trung Quốc sẽ đáp lại kịp thời, và rằng phương cách ASEAN trong việc khuyến khích đồng thuận sẽ được Bắc Kinh chấp nhận một cách đúng lúc.
Nếu vấn đề chỉ liên quan đến những yêu sách cạnh tranh về năng lượng và ngư trường, thì một hiệp định chỉ rõ quy tắc tương tác và quản lý tranh chấp (gọi cách khác là một cơ chế hàng hải) rất có thể có khả năng trở thành hiện thực như các nhà hoạch định chính sách ASEAN đã lập luận. Tuy nhiên, cạnh tranh chiến lược với Hoa Kỳ đã định hình lại tranh chấp theo cách làm giảm vai trò của ASEAN và khả năng của họ trong việc đàm phán một giải pháp cho vấn đề với Trung Quốc. Điều đó làm Trung Quốc lãnh đạm với các ý tưởng của ASEAN và trở nên quan ngại hơn về các động thái bên ngoài khu vực của Hoa Kỳ cũng như các hoạt động hải quân của nước này. Điều này cũng dẫn đến việc Trung Quốc cư xử đặc biệt quyết liệt hơn bởi khả năng lớn hơn trong việc kiểm soát Biển Đông là một phần cần thiết cho sự triển khai và chiến lược tăng cường hải quân của nước này.
Chiến lược hải quân của Trung Quốc đã được định hình trong nhiều năm qua kể từ khi Tư lệnh Hải quân Liu Huaqing (1982-1988) lần đầu tiên kêu gọi hình thành một lực lượng hải quân viễn dương đủ sức bảo vệ quyền lợi hàng hải của Trung Quốc. Hơn hai thập kỷ qua, Trung Quốc đã đều đặn phát triển sức mạnh hải quân, được nước này coi là cần thiết cho vị thế siêu cường. Khi Trung Quốc tăng sức mạnh kinh tế, lợi ích hàng hải của họ cũng mở rộng tương ứng (cùng với sức mạnh hải quân), đưa họ vào cuộc xung đột với Hoa Kỳ – cường quốc hải quân thống trị tại Tây Thái Bình Dương.
Sự bành trướng của hải quân Trung Quốc
Chiến lược hải quân Trung Quốc đề ra ba nhiệm vụ nhằm định hướng cho sự phát triển năng lực hải quân của họ. Thứ nhất là ngăn chặn Đài Loan tuyên bố độc lập đồng thời cản trở Hoa Kỳ ủng hộ Đài Loan bằng việc triển khai hải quân khi có các sự kiện xung đột. Nhiệm vụ này đã trở thành một điểm nổi bật của chiến lược hải quân Trung Quốc sau khi Hoa Kỳ điều động hai tàu sân bay trong suốt giai đoạn khủng hoảng ở eo biển Đài Loan năm 1995 và 1996, đó là chiếc Nimitz vào tháng 12 năm 1995 và chiếc Independence vào tháng 3 năm 1996, như một cách phô diễn sức mạnh hải quân mà người Trung Quốc chưa thể nào quên. Nhiệm vụ thứ hai là bảo vệ các tuyến giao thương mở rộng của Trung Quốc và các nguồn cung cấp năng lượng đang vận hành xuyên Ấn Độ Dương và eo biển Malacca, nơi ước tính chừng 80% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc được chuyên chở. Nhiệm vụ này đã trở nên quan trọng sau khi Trung Quốc trở thành một nước nhập khẩu ròng về dầu mỏ vào năm 1993 và khi Bắc Kinh nhận ra nền kinh tế của họ phụ thuộc vào dầu nhập khẩu đến thế nào vào cuối thập niên 1990. Nhiệm vụ thứ ba là triển khai năng lực đánh trả hạt nhân lần thứ hai từ mặt biển tại khu vực Tây Thái Bình Dương, một hệ quả khác của cuộc khủng hoảng Đài Loan năm 1995 -1996. Bắc Kinh hiểu rằng năng lực này sẽ là một sự răn đe tối hậu chống lại Hoa Kỳ trong các cuộc khủng hoảng liên quan đến Đài Loan cũng như các cuộc khủng hoảng khác.
Để thực hiện các sứ mệnh này, Trung Quốc đã phát triển hoặc triển khai bốn lớp tàu ngầm và sáu lớp tàu khu trục mới trong vòng hơn hai thập kỷ qua. Trung Quốc đã đặt mục tiêu phát triển lực lượng hải quân viễn dương, và như Đô đốc tư lệnh Hải quân Wu Shengli đã tuyên bố vào tháng 5 năm 2009, Trung Quốc sẽ thiết lập một “hệ thống phòng thủ trên biển” để “bảo vệ an ninh hàng hải và sự phát triển kinh tế”. Hải quân viễn dương cần có những tàu sân bay, và tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc, chiếc Shi Lang, được xây dựng lại từ chiếc tàu sân bay thời Xô Viết trọng tải 32.000 tấn Varyag, đã được thử nghiệm trên biển từ ngày 10 đến ngày 14 tháng 8 năm 2011. Họ hy vọng nó sẽ đi vào hoạt động trong năm 2012 và sẽ mang theo 48 chiếc máy bay chiến đấu trên biển Su-33 và máy bay chiến đấu Trung Quốc Jian- 10 được điều chỉnh để phù hợp với hoạt động trên tàu sân bay. Trung Quốc được cho là sẽ xây dựng một chiếc tàu sân bay khác trọng tải 50.000 đến 60.000 tấn trước năm 2015 và một tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân trước năm 2020.26 Các tàu sân bay đều đòi hỏi đội tàu hộ tống để cung cấp năng lực phòng không và ngăn chặn các cuộc tấn công từ tàu ngầm. Điều này chỉ ra rằng họ đã có kế hoạch mở rộng năng lực hải quân quy mô lớn.
Xét về lực lượng hạt nhân trên biển, Trung Quốc có bốn tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo, hay gọi là SSBN. Chiếc tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo đầu tiên của Trung Quốc là tàu lớp Hạ (Xia) bây giờ đã lỗi thời, được hoàn thành vào năm 1981 và mang theo được 12 tên lửa đạn đạo JL – 1 (SLBM) có tầm bắn lên đến 2.700 km, không đủ để tấn công vào đất liền của Hoa Kỳ. Hai trong số những chiếc SSBN hiện đại và đáng tin cậy hơn thuộc lớp Tấn (Jin) đã được triển khai từ năm 2004, mỗi cái mang theo 12 tên lửa đạn đạo JL- 2 với tầm bắn lên đến 8.400 km, tạo cho chúng khả năng tấn công liên lục địa. Trung Quốc được cho là sẽ triển khai ít nhất 5 chiếc thuộc lớp Tấn trong những năm tới.
Trung Quốc cần nơi trú ẩn cho các nền tảng hải quân của họ để chống lại những cuộc tấn công từ trên không và trên biển.28 Những chiếc tàu sân bay và tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo cũng đòi hỏi tiếp cận những vùng biển mở để hoàn thành sứ mệnh của mình; nếu không chúng có thể bị giam hãm vào một khu vực giới hạn và trở thành gần như là vô ích. Chỉ một vài nơi dọc theo bờ biển của Trung Quốc là có thể cung cấp chỗ trú ẩn cho hải quân của họ, nơi có thể tổ chức phòng ngự, đồng thời có thể dễ dàng tiếp cận vùng biển mở. Một là ở Hoàng Hải, nơi có căn cứ tàu ngầm đặt tại Xiaopingdao gần Đại Liên. Một nơi hợp lý khác là khu vực Hải Nam và khu vực nửa đóng của phía bắc Biển Đông, nơi có lợi thế gần với eo biển Malacca và các tuyến đường biển nối sang Ấn Độ Dương. Bất cứ vị trí nào khác xa hơn về phía Bắc sẽ có thể dễ bị tấn công ngăn chặn từ phía biển vào bởi Hoa Kỳ.
Vì lý do này, Trung Quốc đã và đang xây dựng căn cứ ngầm ở Tam Á trên đảo Hải Nam, nơi sẽ chứa không chỉ các tàu SSBN mà cả tàu sân bay cũng như đội tàu hộ tống khi chúng được triển khai. Năm 2008, một chiếc tàu ngầm SSBN lớp Tấn đã được triển khai ở đó, và tới tháng 10 năm 2010, hai tàu ngầm hạt nhân lớp Thương (Shang) đã vào bến ở Tam Á. Tàu sân bay Shi Lang cũng có thể sẽ được đóng ở đó. Khi Hải Nam phát triển trở thành căn cứ hải quân thì quần đảo Hoàng Sa ở phía nam đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp lá chắn bảo vệ đường không và đường biển cho Hải Nam. Điều đó giải thích vì sao Bắc Kinh rất nhạy cảm với các tàu khảo sát của Hoa Kỳ và tại sao 5 tàu hải quân Trung Quốc đã đụng độ với chiếc USNS Impeccable của Hoa Kỳ khi nó đi vào trong vùng biển cách đảo Hải Nam 121 km vào ngày 9 tháng 3 năm 2009.
Bảo vệ Hải Nam là một chuyện, nhưng đảm bảo cho tàu sân bay và SSBN tiếp cận được vùng biển mở là một chuyện khác. Để làm được việc này, Trung Quốc cần phải kiểm soát được quần đảo Trường Sa, hoặc ít nhất họ cần có khả năng ngăn chặn các cường quốc bên ngoài can thiệp vào các hoạt động của hải quân Trung Quốc trong một khu vực mở rộng đến tận eo biển Malacca. Năm 2009, tướng Zhang Li, nguyên Phó tổng Tư lệnh Giải phóng quân Trung Quốc (PLA) đã kêu gọi xây một sân bay và một cảng biển tại bãi đá Vành Khăn trong khu vực Philipines tuyên bố chủ quyền ở quần đảo Trường Sa mà hiện giờ đang do Trung Quốc chiếm. Ý định của họ là nhằm tiến hành các cuộc tuần tra trên không tại khu vực, để yểm trợ các tàu cá Trung Quốc, và để thể hiện chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông.
Chính Liu Huaqing là người đưa ra các khái niệm phòng thủ khu vực cho Trung Quốc, tạo ra không gian hàng hải phòng vệ cho việc phát triển hải quân. Liu đã học được khái niệm phòng thủ khu vực từ Sergei Gorshkov, chỉ huy hải quân Liên Xô, và là người hướng dẫn của ông tại Học viện Hải quân Liên Xô khi ông du học ở đó những năm 1950. Dưới trướng Liu, chiến lược hải quân của Trung Quốc chuyển từ phòng thủ ngoài khơi hay phòng thủ bờ biển sang “phòng thủ biển gần”, bao trùm một khu vực rộng kéo dài tới “chuỗi đảo đầu tiên”. Vùng biển này trải dài suốt từ Nhật Bản đến quần đảo Ryukyu, đến Philipines rồi đến Biển Đông; chuỗi đảo thứ hai nằm xa hơn ngoài khơi Thái Bình Dương, trải dài từ Nhật Bản và bao gồm cả đảo Guam. Kể từ khi hình thành cách đây hai thập niên, khái niệm chuỗi đảo tiếp tục định hình tư duy hải quân Trung Quốc, đóng vai trò là một cách để xác định và phân ranh giới các khu vực lợi ích. Khái niệm chuỗi đảo đầu tiên bao gồm Đài Loan như là điểm then chốt và cả không gian biển bao quanh nó, cho phép phong tỏa bằng tàu ngầm trong trường hợp Đài Loan tuyên bố độc lập khỏi đại lục. Nó cũng bao gồm những vùng biển đủ lớn cho các tàu ngầm SSBN thường xuyên tuần tra và triển khai các điểm phóng tên lửa ở giữa đại dương.
Nếu là một khái niệm phòng thủ khu vực, nó bao gồm cả Hoàng Hải lẫn Biển Đông như là những vị trí trú ẩn an toàn để đặt các căn cứ hải quân cũng như đường ra biển khơi an toàn. Tuy nhiên, phòng thủ khu vực đòi hỏi phải giữ chân Hải quân Hoa Kỳ từ xa và ở một khoảng cách đủ lớn để nó không thể can thiệp vào việc triển khai của hải quân Trung Quốc trong khu vực. Để đạt mục tiêu này, Trung Quốc đã triển khai DF-21D, được mô tả là một loại tên lửa đạn đạo chống tàu (ASBM) có khả năng nhắm đến các tàu sân bay Hoa Kỳ và các tàu mặt nước lớn khác. Đô đốc Robert F. Willard, tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, nói rằng khi kết hợp cùng tàu ngầm Trung Quốc, tên lửa này có thể gây ra một mối đe dọa nghiêm trọng đối với hải quân Mỹ, và cuối cùng có thể sẽ “vô hiệu hóa” năng lực triển khai sức mạnh của Hoa Kỳ. Bộ Quốc phòng Mỹ tuyên bố rằng với khả năng định vị và truy đuổi mục tiêu hiệu quả, loại tên lửa này có thể đe dọa các tàu hải quân Mỹ trong tầm bắn từ 1.500 đến 2.100km.
Phù hợp với các khái niệm phòng thủ khu vực này, Trung Quốc cũng kỳ vọng Hoa Kỳ công nhận các vùng ảnh hưởng riêng của mình ở Tây Thái Bình Dương, trong đó Đài Loan và Biển Đông phải chắc chắn nằm trong vùng ảnh hưởng của Trung Quốc. Trong quan điểm của Trung Quốc, sự hiện diện của hải quân Hoa Kỳ ở vùng biển Tây Thái Bình Dương ngăn chặn việc Đài Loan thống nhất với đại lục và khuyến khích các nước ASEAN có yêu sách ở Biển Đông chống lại các yêu sách của Trung Quốc. Nếu có thể đạt tới một thỏa thuận nào đó theo cách này với một nước Mỹ đang suy yếu về kinh tế thì Trung Quốc quả thật sẽ trở thành siêu cường thống trị tại khu vực Tây Thái Bình Dương.
nguyen_y_van gửi hôm Thứ Năm, 27/06/2013          
nguồn:https://danluan.org/tin-tuc/20130627/bien-dong-dau-mo-nhung-yeu-sach-tren-bien-va-canh-tranh-chien-luoc-my-trung
======================================================================
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
          Sẽ xóa những comment nói tục
          Thinhoi001

Biển Đông: Chọn đủ thẩm phán cho vụ Philippines kiện Trung Quốc 

Trọng Nghĩa


Quang cảnh một phiên xử tại Tòa án Quốc tế về Luật Biển. ITLOS
Toà án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) đã chọn xong thẩm phán cuối cùng tham gia ủy ban đặc trách xem xét đơn kiện của Philippines về «đường lưỡi bò» của Bắc Kinh. Trong thư đề ngày 21/06/2013, Tòa án Liên Hiệp Quốc đã thông báo cho chính quyền Manila biết quyết định chọn thẩm phán Thomas Mensah, người Ghana, để bổ sung vào số 5 thành viên thuộc tòa án trọng tài.
Ông Mensah, nguyên là thẩm phán của Toà án Quốc tế về Luật Biển từ năm 1996 đến năm   2005, được đề cử thay thế thẩm phán Chris Pinto, người Sri Lanka. Ông này đã xin rút tên ra khỏi ủy ban trọng tài hồi tháng 05/2013, ít lâu sau khi được bổ nhiệm. Nguyên nhân khiến ông Pinto phải từ chức, đó là vì vợ ông là người Philippines.
Như vậy, Tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc chuyên trách vụ kiện của Philippines bao gồm các ông Jean-Pierre Cot người Pháp, Alfred Soons người Hà Lan, Thomas Mensah, người Ghana, cùng với thẩm phán Đức Rudiger Wolfrum, được Philippines chọn làm đại diện cho Manila, và thẩm phán Ba Lan Stanislaw Pawlak đã được Chánh án ITLOS cử thay mặt Trung Quốc, sau khi Bắc Kinh từ chối tham gia vụ kiện.
Với việc chọn xong các thẩm phán, các cuộc điều trần trong khuôn khổ vụ kiện có thể bắt đầu, bất chấp sự phản đối của Trung Quốc.
T.N.
Nguồn: http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20130625-itlos-hoan-tat-viec-chon-tham-phan-cho-vu-philippines-kien-trung-quoc
nguồn:http://www.boxitvn.net/bai/17120
======================================================================
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
          Sẽ xóa những comment nói tục
          Thinhoi001

Thứ Tư, 26 tháng 6, 2013

Nhiều tàu Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam 

Nguyễn Huy - Nam Cường


TP – Nửa năm qua, bộ đội biên phòng (BĐBP) Đà Nẵng phát hiện và đẩy đuổi trên 480 lượt tàu cá nước ngoài, trong đó chủ yếu tàu thuyền Trung Quốc xâm phạm lãnh hải, khai thác trái phép trên khu vực đông bắc Đà Nẵng.
Sáng 24/6, thông tin từ Hội nghị sơ kết thực hiện Nghị định 77/CP của Chính phủ về công tác phối hợp giữa các lực lượng Công an, quân sự, phòng cháy chữa cháy, BĐBP Đà Nẵng, cho hay: 6 tháng đầu năm 2013, ngành chức năng Đà Nẵng phát hiện, xử lý theo quy định gần 4.000 lượt công dân Trung Quốc sử dụng hộ chiếu điện tử in hình “đường lưỡi bò” nhập cảnh qua cảng Đà Nẵng.
Những tháng đầu năm 2013, toàn Đà Nẵng có hơn 76.000 người nước ngoài đăng ký tạm trú, tăng gần 14.000 người so với cùng kỳ năm 2012, trong đó chiếm tỉ lệ lớn là người Trung Quốc. Không ít trường hợp người nước ngoài vi phạm, tội phạm quốc tế.
Trong vòng nửa năm qua, lực lượng BĐBP Đà Nẵng phát hiện và đẩy đuổi trên 480 lượt tàu cá nước ngoài, trong đó chủ yếu tàu thuyền Trung Quốc xâm phạm lãnh hải, khai thác trái phép trên khu vực đông bắc Đà Nẵng, chỉ cách bờ khoảng 20-45 hải lý; tăng gần 300 trường hợp so với cùng kỳ năm 2012.
Tàu thuyền nước ngoài, Trung Quốc đánh bắt trộm hải sản gia tăng, với mật độ dày, sử dụng thủ đoạn đi thành từng tốp đông có sự phối hợp của tàu vũ trang giả dạng, tàu vận tải, tàu cung ứng cho hoạt động đánh bắt hải sản…
N.H. – N.C.
Nguồn: http://www.tienphong.vn/xa-hoi/633625/Nhieu-tau-Trung-Quoc-xam-pham-lanh-hai-Viet-Nam-tpp.html
nguồn:http://www.boxitvn.net/bai/17092
======================================================================
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
          Sẽ xóa những comment nói tục
          Thinhoi001

Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2013

Hội thảo “Đoàn kết ASEAN và những thách thức tại Biển Đông” 

Gia Minh, biên tập viên RFA
2013-06-21
Bdong-4-305.jpg
Hội thảo quốc tế về Biển Đông với chủ đề “Đoàn kết ASEAN và những thách thức biển tại khu vực Biển Đông và Châu Á - Thái bình Dương” diễn ra vào ngày 20 tháng 6 tại Bangkok, Thái Lan.
Courtesy VOV

Một hội thảo quốc tế về Biển Đông diễn ra vào ngày 20 tháng 6 tại Bangkok, Thái Lan.
“Đoàn kết ASEAN và những thách thức biển tại khu vực Biển Đông và Châu Á - Thái bình Dương” là chủ đề của cuộc hội thảo quốc tế do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Á châu của Ấn Độ - CASS - India phối hợp với Viện Nghiên cứu An ninh và Quốc tế, Thái Lan tổ chức.
Cuộc hội thảo diễn ra trong một ngày vừa nói qui tụ chừng 100 người tham dự gồm đại diện một số đại sứ quán các nước ở Thái Lan, những người quan tâm, báo chí và sinh viên…
Số diễn giả gồm 16 vị là các giáo sư, tiến sĩ, chuyên gia chính trị và quân sự từ các nước Ấn Độ, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Lào, Kampuchia, Miến Điện, Nhật Bản, Việt Nam, Đài Loan và Trung Quốc.
Có thể phân chia các vấn đề được những diễn giả trình bày ra các nhóm là quan điểm, chính sách  của các quốc gia trong khu vực đối với vấn đề Biển Đông; thứ hai là thực trạng diễn tiến tại Biển Đông lâu nay trở thành thách thức cho khu vực thế nào; thứ ba giải pháp giải quyết mà trọng tâm là sự đoàn kết của các nước trong khối ASEAN.
Các bài trình bày của những diễn giả đều xoay quanh những chủ điểm về Biển Đông, nhưng sao trong tên gọi của hội thảo lại có thêm Châu Á- Thái Bình Dương? Giám đốc CASS-India, ông Mahapatra, giải thích vì tình hình Biển Đông được đặt trong toàn cảnh của khu vực rộng lớn hơn là Châu Á- Thái Bình Dương.

Quan điểm các nước

Tiến sĩ Shrikant Paranjpe, giáo sư Khoa Quốc phòng và Nghiên cứu Chiến lược, Đại học Pune, Ấn Độ cho biết việc New Dehli quan tâm đến Biển Đông nằm trong chiến lược hướng Đông của chính phủ nước ông. Tầm quan trọng của khu vực Biển đông đối với Ấn Độ được tiến sĩ Shrikant Paranjpe, trình bày.
Đối với Miến Điện, vấn đề Biển Đông được quan tâm vì theo quan chức chính phủ về hưu Nyunt Maung Shein  của nước này vào sang năm Miến Điện sẽ nắm giữ chức chủ tịch luân phiên của Khối ASEAN nên cần phải giúp giải quyết tranh chấp lãnh hải giữa các nước thành viên trong khối. Theo ông này thì đây là một vấn đề  khó khăn, phức tạp.
Tiến sĩ Bouadam Sengkhamkhoutlavong từ Lào trình bày rằng nước ông là một quốc gia không có biển, nằm sâu trong đất liền; thế nhưng nay muốn liên kết với các quốc gia có biển láng giềng nên cần phải có hòa bình, ổn định trong khu vực như là điều kiện cần thiết cho phát triển.
Đài Loan là một trong những quốc gia đang chiếm giữ đảo Ba Bình tại Biển Đông; diễn giả từ đảo quốc này là Shawn Shaw-Fawn KAO, phó giáo sư Khoa Chính trị, Đại học Tunghai ở Đài Loan, tham dự hội thảo, và lên tiếng cho rằng các quốc gia ASEAN cần cho đảo quốc này tham gia vào những tổ chức của nhóm nhằm có tiếng nói trong vấn đề Biển Đông.

Thực trạng Biển Đông

Bdong-1-250.jpg
Tiến sỹ Võ Xuân Vinh phát biểu tại hội thảo “Đoàn kết ASEAN và những thách thức biển tại khu vực Biển Đông và Châu Á - Thái bình Dương” diễn ra vào ngày 20 tháng 6 tại Bangkok, Thái Lan. Courtesy VOV.

Trong hầu hết những trình bày của các diễn giả tham gia hội thảo đều nói đến những hành động của Trung Quốc đang ngày càng quyết liệt ở khu vực Biển Đông. Phân tích cho sự quyết liệt ngày càng gia tăng như thế Phó giáo sư tiến sĩ Chulacheeb Chinwano của Thái Lan nêu lên những thành tựu về mặt kinh tế của nước này và từ đó họ hiện đại hóa quân đội và tiến hành những hoạt động tại những vùng biển khác nhau như ở Biển Đông và Hoa Đông. Theo ông này thì trước đây, Trung Quốc là một quốc gia tuân theo luật lệ của thế giới, nhưng trong tương lại họ muốn trở thành người làm luật.
Tiến sĩ Võ Xuân Vinh, trưởng ban Nghiên cứu Chính trị và Quan hệ Quốc tế, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam cũng trình bày lại những hoạt động bị cho là quyết liệt của Trung Quốc. Ông cho rằng chính sách nhất quán của Trung Quốc là dần dần độc chiếm Biển Đông.
Trước những trình bày về hoạt động mang tính quyết liệt của Trung Quốc tại khu vực Biển Đông lâu nay của những diễn giả khác tại hội thảo, diễn giả Trung Quốc, bà Tô Hiểu Huy, phó giám đốc Ban Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, Viện Nghiên cứu Quốc tế của Trung Quốc, phản bác lại cho rằng Trung Quốc không hề hành động quyết liệt mà tất cả những việc làm của Trung Quốc chỉ là phản ứng đối với những hành vi xâm phạm chủ quyền lãnh hải nằm trong đường chín đoạn của Trung Quốc. Bà này nêu ra một loạt những cáo buộc mà chính quyền Bắc Kinh lặp đi lặp lại lâu nay. Bà nói rằng hình ảnh của Trung Quốc bị bóp méo, và gây chia rẽ trong khối ASEAN.

Vai trò ASEAN

Các diễn giả Thái Lan nhắc lại vai trò của nước này trong việc khởi xướng hình thành nên khối ASEAN, và giúp cho khối này có được sự đoàn kết trong một thời gian khá lâu; thế nhưng trong những năm gần đây, tranh chấp Biển Đông đang gây chia rẽ cho khối này.
Trong phát biểu mở đầu cuộc hội thảo, cựu bộ trưởng ngoại giao Thái Lan, ông Kasit Piromya, nhắc lại hội nghị các ngoại trưởng ASEAN hồi tháng 7 năm ngoái ở Phnom Penh. Lúc đó Kampuchia là chủ tịch luân phiên của ASEAN và đã không ra được thông cáo chung. Lý do cũng vì vấn đề Biển Đông.
Hoàng tử Norodom Sirivudh của Kampuchia cho rằng nước ông không hề ngả theo phe nào như cáo giác là vì nghe Trung Quốc mà cản trở vấn đề Biển Đông tại các hội nghị hồi năm ngoái ở thủ đô Phnom Penh của Kampuchia. Ông cho rằng, chính Tuyên bố Ứng xử của Các bên tại Biển Đông, DoC, từng được ký kết hồi năm 2002 ở nước ông.
Cựu bộ trưởng ngoại giao Thái Lan, ông Kasit Pyromia cho rằng nếu Khối ASEAN không có sự đoàn kết trong giải quyết các vấn đề nóng như vấn đề Biển Đông hiện nay thì khối này mất đi vai trò của nó. Cũng theo ông sẽ không thể có giải quyết nhanh chóng cho tranh chấp lãnh hải tại Biển Đông.
Có cử tọa nêu vấn đề đường đứt khúc chín đoạn của Trung Quốc, thì bà Tô Hiểu Huy cho rằng ngay tại Trung Quốc cũng đang có bàn cải về đường này và Trung Quốc muốn có thời gian để nói chuyện song phương với từng bên liên quan về vấn đề đường chín đoạn. Diễn giả của Việt Nam, tiền sĩ Võ Xuân Vinh có yêu cầu bà này nêu ra những cơ sở pháp lý thì bà cho biết từ năm 1947, Trung Quốc có bản đồ với đường này, và cả mấy chục năm không thấy nước nào nói gì sao gần đây mới phản bác.
Diễn giả của Việt Nam không phản bác và tranh luận gì thêm nữa về những giải thích do bà Tô Hiểu Huy đưa ra.
Gia Minh tường trình từ Bangkok, Thái Lan.
nguồn:http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/inter-confer-challenges-east-sea-gm-06212013090400.html
=====================================================================
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
          Sẽ xóa những comment nói tục
          Thinhoi001

Thứ Tư, 19 tháng 6, 2013

Ngư dân Bình Định lại bị tàu lạ tấn công 


Cứu 8 ngư dân bị tàu lạ đâm chìm

Nguyễn Tú (TNO) - Chiều 18.6, tin từ hệ thống Đài Thông tin duyên hải (TTDH) Việt Nam cho hay 8 ngư dân tỉnh Bình Định đã được cứu vớt an toàn sau khi tàu cá của họ bị tàu lạ đâm chìm giữa biển.

Trước đó, vào khoảng 22 giờ ngày 17.6, tàu cá BĐ 31138 cùng 8 ngư dân đang đánh bắt tại vị trí có tọa độ 8,31 độ vĩ bắc - 106,10 độ kinh đông, cách Côn Đảo khoảng 24 hải lý về phía Nam Tây Nam thì bị một tàu không rõ danh tính đâm va phải.

Hệ thống Đài TTDH Việt Nam đã thông báo tới các đơn vị tìm kiếm cứu nạn khu vực và địa phương, đồng thời yêu cầu các phương tiện hoạt động trong khu vực tăng cường quan sát và hỗ trợ tàu bị nạn cùng 8 ngư dân.

Sau tai nạn, tàu BĐ 31138 bị chìm, toàn bộ 8 ngư dân của tàu bị rơi xuống biển.

Nhận tin báo, tàu cá BĐ 30806 đã hành trình đến khu vực cứu nạn.

Đến 10 giờ 30 phút sáng ngày 18.6, tàu cá BĐ 30806 báo tin về Đài TTDH Việt Nam đã cứu vớt được toàn bộ 8 ngư dân.


nguồn:http://danlambaovn.blogspot.com/2013/06/ngu-dan-binh-inh-lai-bi-tau-la-tan-cong.html
======================================================================
'Tàu lạ' lại đâm chìm tàu ngư dân: Cú vỗ đầu để đón chủ tịch Sang?
David Thiên Ngọc (Danlambao)
- Vào lúc 22 giờ đêm ngày 17/6/2013, "Tàu lạ" của "nước lạ" đã đâm chí mạng vào tàu cá của ngư dân Bình Định, khiến tàu vỡ tan tành, 8 ngư dân rơi xuống biển. Vị trí tàu cá bị đâm chìm nằm ngay trên lãnh hải VN. May thay 8 ngư dân đã được đồng đội, một tàu cá cùng địa phương Bình Định nỗ lực tìm kiếm và cứu vớt. Nếu không có thông tin nhanh chóng cùng với sự nhiệt tình của tàu bạn, những ngư dân cùng chung nỗi lo, bức xúc và sự hãi hùng đe dọa mạng sống trong lúc đi tìm cái ăn cái mặc cho bản thân, gia đình vợ con thì giờ này có thêm 8 gia đình ngư dân VN với hàng chục ánh mắt thất thần hướng về đại dương biển cả ngóng trông vô vọng.

Nghĩ đến cái thoát chết trong gang tấc, sự hãi hùng với cái lạnh tê cóng người của 8 ngư dân VN, mỗi người dân VN chúng ta không ai mà không khỏi nao lòng. Đây chỉ mới là một cái tát cảnh cáo vào tập đoàn CSVN, mục đích là để đe dọa nhân dân VN mà bọn giặc Bắc Kinh đã giáng lên khi lệnh cấm đánh bắt hải sản trên Biển Đông do chúng ngang tàng áp đặt. 

Vì cuộc mưu sinh, vì nghèo đói mà ngư dân VN phải liều chết mà bị chúng xem là "ăn trộm" ngay trên vùng biển của tổ tiên mình. Đó là nỗi khổ và con đường duy nhứt của ngư dân VN phải lao vào mà không còn một lối thoát nào khả dĩ hay có một chút ánh sáng nào lóe lên trong bóng đêm mà ngư dân VN đang lần mò tìm cuộc sống từ tập đoàn tự xưng là lãnh đạo xã hội, đất nước và nhân dân VN.

Liên tiếp từ đầu tháng 6/2013 các sự kiện quốc tế liên quan đến Biển Đông là cơ hội để nhà cầm quyền CSVN tỏ rõ thái độ, lập trường, bản lĩnh của mình như những gì mà chúng đã rêu rao trước nhân dân VN. Thế nhưng hoàn toàn ngược lại.

Tại Shangri-La, thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã tỏ rõ sự khiếp nhược, hèn hạ của mình trước sự ngạo mạng của đại diện tập đoàn Trung Nam Hải trong việc áp đặt mọi điều phi lý ở Biển Đông mà VN phải hứng chịu.

Không biết kẻ nào đã chấp bút bài diễn văn để cho ông Nguyễn Tấn Dũng đọc lập đi lập lại mấy chục lần cụm từ "Niềm tin chiến lược" mà không chịu giải thích ngọn ngành về ý nghĩa của cụm từ này cho ông rõ. Nghĩ cho cùng kẻ chấp bút cũng thuộc loại "óc lừa". 

Trong khi giặc Tàu thè lưỡi bò ra liếm gọn Biển Đông, áp đặt mọi chủ trương, chính sách lên cả vùng Đông Hải rộng lớn bao la. Ngang ngược ra lệnh cấm đánh bắt hải sản theo thời gian nào do chúng qui định trên toàn cõi hải phận mà chúng mạo phần, cưỡng đoạt. Chúng có quyền kiểm tra bất cứ tàu bè các nước nào qua lại trên hải trình này khi chúng muốn. Ngang nhiên gọi thầu quốc tế các lô dầu khí mà không phải là của mình. Ngư dân VN đi tìm cuộc sống trên quê hương mình mà phải vong thân làm mồi cho cá bởi những hành động bạo tàn của giặc Tàu gây ra. Tài sản tàu bè, cuộc sống của gia đình vợ con phải chìm trong lòng biển... không đau xót đến sự sống chết, mất còn của ngư dân, không nói lên được tiếng nói mà người dân mong muốn mà đi cúi đầu van xin mấy chữ "niềm tin"? 

Khi ông Dũng nhắc đi nhắc lại cụm từ ấy mà không chịu nhìn vào ánh mắt của tên tướng Tàu Thích Kiến Quốc với sự xem nhẹ rẻ khinh! Để rồi hắn ta cười nửa miệng tuyên bố thẳng thừng rằng: "Lập trường của chúng tôi đối với các biển Đông Trung Hoa và Nam Trung Hoa là thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Đó là lập trường rõ ràng. Do đó các tàu chiến Trung Quốc và các hoạt động tuần tra của chúng tôi là hoàn toàn hợp pháp và không có gì phải tranh cãi!" 

Nghe những lời này ngài có thấy nhục và thấy hèn lắm không? Người ta nói ngang ngược công khai coi cả Đông Hải là ao nhà và xem không ai ra trò trống gì hết còn phần mình thì nói quàng nói xiên, nói tránh nói mé... ấp úng không nên lời chỉ giỏi hà hiếp dân lành nơi quê nhà trong tay không một tấc sắt. Cùng lúc này ngày 1/6/2013, trên Biển Đông ngay phần lãnh hải VN tàu cá của ngư phủ VN đã bị "tàu lạ" đâm chìm và ngư dân mất xác! Ngày 2/6/2013 tại thủ đô quê nhà, nhà cầm quyền CS huy động côn an, côn đồ đã ra tay đàn áp, hành hung tàn bạo người dân thể hiện lòng yêu nước của mình trước hành động xâm lăng của Tàu cộng? Hai hình ảnh, hai sự kiện tương phản này tôi thiết tưởng chỉ có một không hai trên toàn cõi hành tinh.

Cũng tại diễn đàn này một câu hỏi đặt ra cho ngài thủ tướng CSVN rằng VN có ủng hộ, đồng thuận với Philippines trong việc kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế về việc tranh chấp Biển Đông không? Ngài thủ tướng ậm à không dám nói mà lúc này có lẽ liếc nhìn về tướng "Thích Xâm Lăng". Thậm chí khi ám chỉ bọn cường quyền bá đạo bành trướng Bắc Kinh mà không dám nêu đích danh mà chỉ dùng câu nói xa gần "...Đâu đó đã có những biểu hiện đề cao sức mạnh đơn phương...", kẻ chấp bút đã hèn mà người đọc với vai trò đứng đầu chính phủ lại càng hèn hơn gấp bội. 

Để rồi sau đó mấy ngày (5/6/2013), mạt tướng Nguyễn Chí Vịnh sang Tàu xin "không sử dung vũ lực và đe dọa sử dung vũ lực trên biển giữa hải quân hai nước" và cũng được tên tướng "Thích xâm Lăng" trả lời là "Sẻ nghiên cứu"!!! Ở đây ai cũng rõ Trung Quốc với mộng xâm lăng, lấy vũ lực làm phương tiện thực hiện bá quyền nên lời cầu xin của mạt tướng CSVN là điều hoang tưởng.

Trở lại vấn đề chuyến đi chầu Trung Nam Hải bắt đầu hôm 19/6/2013 của ông Trương Tấn Sang, thật ra chỉ là đòn xoa dịu của anh cả CSBắc Kinh đối với đàn em CS Hà Nội sau một loạt hành động đè đầu hà hiếp mà thôi chứ chẳng phải là đối ngoại bang giao hay ký kết một điều gì! 

Mà thật ra giữa hai nước VN-TQ chỉ có mỗi một vấn đề nổi cộm và bức xúc cho chính nhân dân VN là vấn đề Biển Đông, lãnh hải, biển đảo mà thôi. Vấn đề này thì CSVN chỉ là kẻ bề tôi vâng lệnh và những gì Bắc Kinh đưa ra là "lập trường không thay đổi" với 80% Biển Đông, các quần đảo là thuộc về Hán cộng. Trong đó có Hoàng Sa, Trường Sa của VN. Nơi đây chúng đã thành lập chính quyền huyện Tam Sa thuộc thành phố Tam Á tỉnh Hải Nam ngay cái ngày mà "Cuốc Hội" CSVN thông qua luật biển. Thật mỉa mai thay.

Một điều nữa nơi đây, theo tôi, thì ông Trương Tấn Sang đi chầu kỳ này cũng nằm trong ý đồ thâm sâu của Trung Nam Hải sau một loạt hoạt động ngoại giao trên thế giới của ông Tập Cận Bình để chứng tỏ rằng TQ luôn giữ sự ôn hòa để tạo nền an ninh, hòa bình trong khu vực và thế giới mặc dầu luôn căng thẳng với Nhật Bản và Philippines. Riêng đối với VN thì ngài Tập cho gọi ông Trương qua Bắc Kinh là cũng tỏ cho thế giới biết rằng hai bên VN-TQ luôn đậm tình "hòa hiếu" để che mắt thế giới hòng khỏa lấp sự tham lam cuồng vọng với giấc mơ bá quyền, bành trướng luôn lăm le nuốt chửng sông núi VN.

Ý đồ này 16 tên hèn và tất cả tập đoàn csVN cũng rõ nhưng đã trót làm tôi, ăn xôi chùa ngậm miệng. Nuốt bồ hòn làm ngọt mà nói suông, nói lấy được trước khi đi rằng: "Có thể khẳng định việc giải quyết vấn đề Biển Đông là hết sức hệ trọng vì liên quan đến chủ quyền, lãnh thổ, đến tâm tư tình cảm thiêng liêng của dân tộc, của người dân. Tôi cho rằng thời gian tới lãnh đạo cấp cao hai nước cần duy trì trao đổi và đối thoại thường xuyên, từ tầm cao chiến lược và quan hệ hữu nghị hai nước, chỉ đạo thúc đẩy giải quyết Biển Đông bằng biện pháp hòa bình. Có như vậy mới không ảnh hưởng đến quan hệ hữu nghị, tin cậy chính trị hai nước cũng như tình cảm của người dân hai nước..." (Theo An Ninh Thủ Đô 19/6/2013).

Nói đến đây tôi nhớ cách đây không xa, chính ông Trương Tấn Sang với tư cách vừa là ĐBQH vừa là Chủ Tịch Nước trong một dịp tiếp xúc với cử tri Tp.HCM ông khẳng định rằng "Vấn đề Biển Đông chúng ta không thể hiện chỉ bằng lời nói không mà chúng ta thể hiện cả bằng hành động nữa!". Hành động của ông và cả tập đoàn CSVN đối với quan thầy Hán cộng ra sao thì nhân dân VN đang chờ đợi, nhất là trong chuyến đi về 'miền đất hứa' kỳ này. 

Cú đâm chìm tàu khiến 8 ngư phủ VN rơi vào lòng biển mới hai hôm qua có phải chăng là cú vỗ đầu của CS Bắc Kinh đối với CS Hà Nội trước khi ông Trương Tấn Sang qua chầu Trung Nam Hải?

Ngày 19/6/2013
David Thiên Ngọc
nguồn:http://danlambaovn.blogspot.com/2013/06/tau-la-lai-am-chim-tau-ngu-dan-cu-vo-au.html
======================================================================
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
          Sẽ xóa những comment nói tục
          Thinhoi001

Thứ Tư, 12 tháng 6, 2013

Ngô Nhân Dụng - Còn biển Ðông thì sao? 

   at 6/12/2013 01:36:00 AM
Ngô Nhân Dụng

Người Việt tị nạn đã thành công trong cuộc tổ chức biểu tình tại Rancho Mirage phản đối Trung Cộng trong hai ngày liên tiếp. Ngay từ đầu, mọi người đã quan niệm các cuộc biểu tình này chỉ nhằm đánh thức dư luận về các hành động xâm lấn Việt Nam của Cộng Sản Trung Hoa từ hàng nửa thế kỷ qua. Dư luận đã chú ý. Ngay trong ngày Thứ Bảy, 8 tháng 6, đã thấy hình ảnh lá cờ vàng bay phất phới trên trang nhất tờ nhật báo Desert Sun tại vùng này; và nhiều hình ảnh khác ở trang trong.


Sau Ðặng Tiểu Bình, Tập Cận Bình là lãnh tụ Trung Cộng đầu tiên có tư thế đi nói chuyện thẳng với người lãnh đạo nước Mỹ, bỏ qua các lễ nghi. Bởi vì địa vị của ông ta trong đảng vững, mạnh hơn hai người tiền nhiệm, Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Ðào. Ngay khi nhậm chức chủ tịch đảng, nhà nước, ông cũng nắm ngay chức chủ tịch quân ủy trung ương; cái ghế mà đời trước Giang Trạch Dân phải chờ Ðặng Tiểu Bình đứng dậy mới được ngồi vào; còn Hồ Cẩm Ðào thì phải chờ hai năm mới được họ Giang truyền cho. Với vị thế vững chắc như thế, Tập Cận Bình muốn gặp ngay tổng thống Mỹ để hai bên cùng ấn định các “luật chơi” trên bàn cờ kinh tế, chính trị, quân sự thế giới, trong ít nhất 5 năm tới.

Ai cũng phải thấy là chính Tập Cận Bình muốn thu xếp một cuộc gặp gỡ sớm, và yêu cầu gặp nhau theo lối không chính thức. Chính phủ Mỹ không ngỏ lời mời trước hàng năm, Bộ Ngoại Giao hai bên không cần xếp chương trình. Không tổ chức gặp gỡ các yếu nhân đảng Cộng Hòa trong Quốc Hội, theo phép xã giao thường lệ. Rõ ràng, họ bỏ qua các lễ nghi thù tiếp; họ gặp nhau để nói chuyện công việc, bi di nét! Tập Cận Bình mới lên nhậm chức được ba tháng, còn ông Obama mới nhậm chức lại được năm tháng. Hiện nay hai chính phủ không có vấn đề gì cấp bách phải bàn, ngoài một vài bất đồng vẫn tranh cãi liên miên. Họ cũng không có một hiệp định nào, nhỏ hay lớn, mới bàn xong và cần ký kết với nhau. Ðể cho cuộc thăm viếng có vẻ tự nhiên, Tập Cận Bình đã tạo ra một chuyến công du trong vùng Trung Mỹ để mượn cớ “ghé qua” California gặp ông Obama trên đường về.

Nhiều người bàn rằng chuyến đi Trung Mỹ của ông Tập Cận Bình nhằm gửi một “tín hiệu” cho chính quyền Mỹ: Nếu ông Obama dám nói sẽ “xoay trục” ngoại giao sang vùng Ðông Nam Á, ở ngay “cái ao trong vườn sau” của Trung Quốc, thì họ Tập cũng có thể “xoay trục” sang vùng “sân sau” của nước Mỹ. Có người còn nêu thí dụ cụ thể hơn: Obama đã giật lấy nước Miến Ðiện, vốn đang nằm trong vòng tay Trung Quốc từ mấy chục năm rồi; bây giờ đến lượt Trung Quốc sẽ xâm nhập vào ao sau nhà của Mỹ để bắt cá!

Nhưng lối giải thích này không có bằng chứng đáng tin. Ông Tập Cận Bình không làm gì gây khó chịu cho chính phủ Mỹ. Ông không ghé thăm Cuba và Venezuela, là những nước cùng “theo chủ nghĩa xã hội” như người Tàu, cả hai đều ghét Mỹ, chống Mỹ. Ông cũng không ghé Brazil, cùng nằm trong khối các nước đang lên khối “BRIC” (Brazil, Nga, Ấn, Tàu) và cũng là nước mua bán với Trung Quốc nhiều nhất trong vùng. Trong chuyến đi này, ông lại thăm Mexico, nước láng giềng, đồng minh của Mỹ. Nền kinh tế Mexico và Canada gắn bó với Mỹ không thể nào tách được. Số hàng hóa dân Mexico bán sang Trung Quốc trong một năm cũng chỉ trị giá bằng số hàng bán qua Mỹ trong tám ngày! Mexico đang hoan hỉ tham dự chương trình Hợp Tác Thái Bình Dương, TPP (Trans-Pacific Partnership) của Mỹ, để có cơ hội bắc cầu tới các nước Châu Á, phía bên kia Thái Bình Dương. Trong khi đó Bắc Kinh thì rất ghét cái dự án TPP này, coi đó là một thủ đoạn của Mỹ nhằm cô lập Trung Quốc. Tóm lại, ở Mexico, ông Tập Cận Bình không thể làm gì để phá Mỹ, mà cũng chả có chuyện gì quan trọng để nói cả. Ông Tập đi qua những nước trên các hòn đảo Caribbean, mà có nhắc đến tên chắc nhiều người cũng quên ngay. Những cuộc gặp gỡ đó, với món quà ba tỷ Mỹ kim cho vay lãi nhẹ, không gây xáo động nào khiến chính quyền Mỹ lo ngại có gì xảy ra trong ao nhà của mình. Có thể nói, cả chuyến công du đầu tiên qua Châu Mỹ của ông Tập Cận Bình chỉ cốt tạo một dịp ghé qua California.

Vậy tại sao ông Tập Cận Bình lại muốn gặp riêng ông Obama, nói chuyện kín đáo, lâu đến sáu giờ đồng hồ, ngay ba tháng sau khi ông nhận ba chức vụ cầm đầu đảng, nhà nước, và quân đội Trung Quốc?

Tập Cận Bình muốn gặp Obama để duyệt qua tất cả các điều xung khắc trong quyền lợi của hai quốc gia. Hai bên phải tìm hiểu quan điểm của nhau trên những vấn đề lớn, mỗi bên biết bên kia muốn gì và có thể nhượng bộ tới mức nào. Nhưng cuối cùng, điều quan trọng mà Tập Cận Bình muốn nói với Obama có thể chỉ là một điều này thôi: Trong mười năm tới, khi Tập Cận Bình còn cầm đầu nước Trung Hoa, thì cam đoan không muốn gây rắc rối với Mỹ. Tất cả các vụ bất đồng ý kiến sẽ phải được giải quyết dựa trên căn bản đó. Cần nói dứt khoát như vậy ngay từ đầu, để tránh mất thời giờ sau này, mỗi khi xảy ra bất hòa. Vì biết rằng thế nào cũng sẽ có nhiều xung khắc không thể tránh được. Nếu hai bên không biết ý nhau trước, thì nhiều khi các xung đột nhỏ có thể gây hậu quả tai hại bất ngờ.

Có lẽ đó là thông điệp quan trọng nhất mà ông Tập Cận Bình thấy cần phải gửi tới tất cả giới lãnh đạo nước Mỹ, mà ông Obama sẽ thông báo với họ theo cách của ông. Có yên tâm về mặt đối ngoại, thì Tập Cận Bình mới có thể chú ý giải quyết những khó khăn kinh tế, xã hội sắp tới ở trong nước Trung Hoa. Tuy lâu nay rất hung hăng đối với một số nước Ðông Nam Á, Trung Cộng vẫn tỏ ra nhún nhường đối với Mỹ. Mặc dù gia tăng ngân sách quốc phòng, họ biết không đủ sức đương đầu trực tiếp với Mỹ về mặt quân sự, ít nhất trong vòng nửa thế kỷ nữa. Nhiều người thường đề cao chương trình phát triển vũ khí của Trung Cộng. Nhưng cho tới nay, tất cả các chương trình đó vẫn nhắm vào việc phòng thủ, đề phòng một cuộc chạm súng với Mỹ, chứ chưa có khả năng tấn công, dù chỉ là đánh nhau với Ðài Loan hay đụng độ với Nhật Bản. Trung Cộng khai trương hàng không mẫu hạm Liêu Ðông một cách rầm rộ, cũng vì họ là quốc gia duy nhất không có lấy một chiếc mẫu hạm trong số 5 quốc gia thuộc Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Trong khi đó nước Mỹ đang điều động 11 hàng không mẫu hạm thuộc hạng tối tân nhất. Mỹ trải các hạm đội ra khắp các đại dương, trong khi Trung Cộng chưa thể tổ chức được một cuộc tập trận đầy đủ cho một hạm đội. Mà một chiếc hàng không mẫu hạm không có các tàu chiến khác đi chung quanh thì cũng không có giá trị nào trong chiến tranh.

Hai nước Mỹ và Trung Quốc sẽ không thể lâm chiến, ít nhất trong thế kỷ này. Vì Trung Cộng không thể tính đến một cuộc cạnh tranh quân sự với Mỹ trong một trăm năm nữa. Họ cũng đủ khôn ngoan để nhìn thấy cục diện như ông Lý Quang Diệu, cựu thủ tướng Singapore đã khuyến cáo họ. Trong cuốn sách, “Lee Kuan Yew: The Grand Master's Insights on China, the United States and the World,” ông Lý tiên đoán Mỹ và Trung Quốc sẽ cạnh tranh nhau gay gắt trong thế kỷ 21; mà mặt trận chính sẽ là vùng Ðông Nam Á; trong đó có xứ Singapore. Nhưng ông nghĩ rằng các người lãnh đạo Trung Quốc cũng hiểu là họ không thể nào chạy đua với Mỹ về quân sự được. Ông nhắc tới các thí dụ, hai nước Nhật Bản và Ðức đã sử dụng binh lực gây chiến với Mỹ trong thời chiến tranh 1939-45, rồi cả hai đều thất bại. Tiếp theo, trong các thập niên từ 1950 đến 1980, Nga Xô đã chạy đua với Mỹ về quân sự. Họ đã đổ bao nhiêu tài nguyên vào cuộc cạnh tranh gay go này, cuối cùng cuộc chạy đua làm cho kinh tế của họ kiệt quệ. Lý Quang Diệu kết luận: Giới lãnh đạo Trung Cộng hiểu điều này, họ sẽ không tính cạnh tranh với Mỹ về quân sự. Ai dại gì mở một cuộc chạy đua khi biết trước mình sẽ kiệt sức trước đối thủ?

Như vậy thì khi Tập Cận Bình và Obama gặp nhau cuối tuần qua, điều mà họ có thể đồng ý với nhau là “không gây lộn!” Nói cách khác: “Giữ thế giới y nguyên như hiện nay,” ai ở đâu ở đó. Trung Cộng sẽ kềm Bắc Hàn trong vòng dây xích ngắn, như con chó có thể chạy qua lại, được sủa, nhưng không được cắn ai. Sẽ không tấn công Ðài Loan, như từ năm 1950 đến nay. Không gây sự với Nhật Bản về Ðiếu Ngư Ðài. Ðiều mà Tập Cận Bình cũng như Ðặng Tiểu Bình lo nhất là dân Nhật hoảng sợ, đòi tái vũ trang. Trung Tướng Thích Kiến Quốc, phó tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc mới nói với các nhà báo ở hội nghị Singapore rằng, đối với Ðiếu Ngư Ðài, Trung Quốc sẽ theo đường lối Ðặng Tiểu Bình: Ðời này chưa giải quyết được, thì đến đời con cháu sẽ lo tiếp! Vào Tháng Giêng, ông tướng chuyên về ngoại giao này mới viết một bài trên tờ Học Tập Thời Báo, nói rằng các quyền lợi lâu dài của hai nước Mỹ và Trung Quốc tương đồng nhiều hơn là xung khắc.

Nhưng còn biển Ðông của nước ta thì sao? Người Việt Nam phải lo ngại khi nhìn vào bài báo này, vì trong đó Thích Kiến Quốc xác định, một lần nữa, chủ quyền của Trung Cộng trên toàn vùng lưỡi bò. Ông ta vẫn chống việc các cường quốc bên ngoài can thiệp vào khu vực này. Nói vậy, nhưng đây không phải là một điều mới lạ, xưa nay các chính quyền Trung Cộng vẫn nói thế. Và chúng ta cũng biết, cả chính phủ Obama lẫn chính quyền các nước Ðông Nam Á đều nói ngược lại, công nhận nước Mỹ có quyền can thiệp vào vùng biển Ðông Nam Á. Ðây không phải một điều gì mới lạ nữa, trong chuyện này hai nước vẫn nói ngược nhau từ ba năm qua.

Vậy trong cuộc gặp gỡ cuối tuần qua, khi chủ trương của họ trái ngược nhau như vậy, hai ông Tập Cận Bình và Obama có thể đã nói gì với nhau về vấn đề biển Ðông nước ta?

Chắc họ chỉ nói một quy tắc tổng quát: Không gây thêm rắc rối. Chúng ta có thể tin rằng Tập Cận Bình tìm gặp Obama lần này để bắt tay, hứa hẹn hai bên sẽ không gây lộn với nhau trong mười năm tới. Cứ giữ nguyên trạng, ai ở đâu ở đó, cùng lo cạnh tranh kinh tế mà thôi.

Nếu đúng như vậy thì có thể tin rằng trong tương lai tất cả những tranh chấp giữa nước ta và Trung Cộng trong vùng biển Ðông chỉ có người mình phải giải quyết lấy. Không thể trông vào một quốc gia nào đưa sáng kiến hỗ trợ cho mình, từ các nước Ðông Nam Á đến nước Mỹ.

Nhưng mặt khác, chúng ta cũng có thể tin rằng trong thời gian tới Trung Cộng sẽ không dám nổ súng, không dám gây chiến tranh trong vùng biển Ðông nước ta. Bởi vì gây chiến tức là đương nhiên xóa bỏ nguyên trạng! Là làm mất thế cân bằng trong toàn thể khu vực. Tức là xóa bỏ cái bắt tay giữa Tập Cận Bình và Obama. Nếu Trung Cộng gây xáo trộn, chính phủ Mỹ sẽ có lý do phải can thiệp. Họ can thiệp không phải vì được Philippines hay Việt Nam yêu cầu. Họ phải can thiệp vì các cam kết của họ với toàn vùng Ðông Nam Á. Họ phải bảo vệ nguyên trạng; ngăn không cho chiến tranh xảy ra, dù Việt Nam có yêu cầu hay không.

Nhận định về cuộc gặp gỡ Tập Cận Bình và Obama, dựa trên quyền lợi của hai nước lớn như vậy, giúp chúng ta nhìn thấy chiến lược biển Ðông của nước Việt Nam phải đi theo hướng nào; sẽ bàn tiếp trong một bài sau. Khi người Việt tị nạn, từ San Jose đến Las Vegas, San Diego đổ về Rancho Mirage biểu tình cùng đồng bào Tiểu Sài Gòn, chúng ta đã nhắc cho ông tổng thống Mỹ một điều: Vì năm 1974 nước Mỹ bỏ Việt Nam, cho Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, cho nên chính phủ Mỹ bây giờ gặp nhiều rắc rối. Từ nay, đừng có dại dột như thế nữa.
nguồn:http://www.diendantheky.net/2013/06/ngo-nhan-dung-con-bien-ong-thi-sao.html
======================================================================
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
          Sẽ xóa những comment nói tục
          Thinhoi001

Thứ Năm, 6 tháng 6, 2013

Hoa Kỳ phản đối bất cứ hành động vũ lực nào trên Biển Đông 


RFA-06-06-2013
đô đốc Samuel Locklear,  tư lệnh lực lượng hải quân Hoa Kỳ vùng Châu Á Thái Bình Dương
Đô đốc Samuel Locklear, tư lệnh lực lượng hải quân Hoa Kỳ vùng Châu Á Thái Bình Dương
Courtesy Defense.gov

Hoa Kỳ sẽ chống lại bất cứ hành động vũ lực nào của bất cứ quốc gia nào muốn tạo thay đổi hoặc dành toàn quyền kiểm soát vùng biển Nam Trung Hoa, nơi tranh chấp đang diễn ra và chưa được giải quyết.
Lên tiếng trong khi viếng thăm Malaysia ngày hôm qua, đô đốc Samuel Locklear,  tư lệnh lực lượng hải quân Hoa Kỳ vùng Châu Á Thái Bình Dương, nói rằng cần có sự thỏa hiệp để giải quyết tranh chấp trên vùng biển được coi là giàu tài nguyên thiên nhiên và dầu khí này.
Tuy không nêu đích danh quốc gia nào, nhưng lời lẽ của đô đốc hải quân Locklear khiến người ta  hiểu ông ngầm ám chỉ một bên là Trung Quốc với lối hành xử nước lớn, một bên  là các nước  ASEAN thường chỉ trích Bắc Kinh xâm phạm lãnh hải của họ, trong đó lên tiếng mạnh nhất là Philippines và Việt Nam.
Để giải quyết tranh chấp dằng dai này, Bộ Qui Tắc Hành Xử COC là tiêu đề được nhắm tới. Trung Quốc thường không bày tỏ ý định rõ ràng dứt khoát về chuyện này, chỉ nói COC là điều cần thiết nhưng mặt khác vẫn tuyên bố có chủ quyền trên toàn vùng rộng lớn của biển Nam Trung Hoa, Việt Nam gọi là biển Đông, vẫn cho tàu của mình đi vào lãnh hải thuộc chủ quyền các nước như Philippines và Việt Nam.
nguồn:http://www.rfa.org/vietnamese/internationalnews/us-ad-urg-comp-ssea-dip-06062013091520.html
======================================================================
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
          Sẽ xóa những comment nói tục
          Thinhoi001