Thứ Hai, 1 tháng 10, 2012

“Em biết cách học” 

Phạm Toàn 

Báo cáo tại Hội thảo công bố sách giáo khoa tiểu học 2012 của nhóm Cánh Buồm
(Tổ chức ngày 6 tháng 10-2012 tại L’Espace – Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội)
Hôm nay tại Hội trưởng này[1], trong vòng bốn năm đây là dịp hội thảo lần thứ tư, lần này nhóm biên soạn sách giáo khoa Cánh Buồm vui mừng báo cáo trước toàn xã hội những cuốn sách tiểu học nhóm đã hoàn thành, bao gồm:
- Sách Tiếng Việt (lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4 lớp 5);
- Sách Văn (lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4 lớp 5);
- Sách Lối sống (lớp 1, lớp 2, lớp 3);
- Sách Tiếng Anh (lớp 1, lớp 2);
- Sách Khoa học và Công nghệ (lớp 1).
Ra đời vào cuối năm 2009[2], đây là những sản phẩm lãng mạn của một nhóm thiện nguyện chưa đến mười thành viên.
Tại sao lại tập hợp nhau để soạn sách giáo khoa tiểu học? Tường trình đầy đủ về việc làm này trước toàn xã hội là điều cần thiết – vì đó là trình ra một hệ thống khái niệm giáo dục đổi mới[3].

1. Làm mẫu
Không chỉ riêng nhóm Cánh Buồm mà cả xã hội, từ các nhà trí thức danh tiếng đến những phụ huynh học sinh bình thường đều chung một nhận định: nền giáo dục nước nhà đang đại khủng hoảng.
Có nhận định cực đoan còn cho rằng nếu không thoát ra được cơn khủng hoảng này, đó sẽ là cuộc tự sát tập thể – ý tưởng quyết liệt này cho rằng Việt Nam đang đứng trước lựa chọn Giáo dục hay là Chết [4].
Tiếc thay, trong khi dư luận xã hội dường như nhất trí coi hiện tình Giáo dục là đại khủng hoảng, thì lại không đạt được sự nhất trí về hướng đi và giải pháp cho một cuộc khủng hoảng đã quá sức chịu đựng.
Chưa kể là, ngay cả khi đạt được một sự “nhất trí” nào đó về lý thuyết, thì vẫn còn đó việc cụ thể hóa lý thuyết thành chương trình học và sách giáo khoa, đồng thời vẫn còn bỏ ngỏ vô số giải pháp về tổ chức sư phạm (chưa kể giải pháp cho việc bảo đảm đời sống vật chất của giáo viên).
Nhóm Cánh Buồm cho rằng trong mớ bòng bong đó, hãy chọn làm mẫu một công việc ích lợi cụ thể, hãy “làm một điều tích cực để chống tiêu cực”[5], một công việc thể hiện cả phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn giáo dục.
Công việc làm mẫu có ích và cụ thể đó chính là một bộ sách giáo khoa bậc tiểu học, để qua đó mọi người có thể thấy một cách tương đối dễ hiểu những câu trả lời cho những câu hỏi như: Giáo dục là gì? Bậc học là gì? Bậc tiểu học là gì? Chương trình học là gì? Sách giáo khoa là gì? v.v.
2. Giáo dục
Không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng sống còn của sự nghiệp giáo dục đối với đất nước.
Nhưng lại có những luồng ý kiến khác nhau liên quan đến sứ mệnh của Giáo dục, mà ít nhất có ba ý kiến như sau.
Một luồng ý kiến phản đối dùng Giáo dục phục vụ cho một hệ ý thức – vì cách làm này nô dịch hóa thân phận con người về tinh thần. Có tiếng nói đòi “thế tục hóa” Giáo dục[6], gợi nhớ lại bước tiến lịch sử của thời Khai sáng châu Âu khi đòi Nhà trường phải được tách ra khỏi Nhà thờ.
Một luồng ý kiến phản đối dùng Giáo dục phục vụ cho việc gây dựng lực lượng lao động phát triển kinh tế – cách làm này nô dịch hóa thân phận con người về vật chất đã đành, và con người ấy cũng bị nô dịch hóa cả về tinh thần khi nó không còn chọn lựa khác nữa.
Một luồng ý kiến cực đoan hơn nữa, cho rằng từng cá nhân con người với mỗi trẻ em là một “nhà trường” của chính nó, chống lại mọi hình thức nhà trường hiện hữu, lập luận rằng nhà trường nào thì cũng “đồng phục hóa” con người[7].
Nhóm Cánh Buồm quan niệm sứ mệnh của nhà trường là như sau: nó giúp thanh thiếu niên vượt qua trình độ tư duy tiền khoa học để bước sang trình độ tư duy khoa học[8].
Tư duy tiền khoa học là đặc trưng của kiểu người bán khai trong lịch sử tiến hóa nhân loại, kiểu người tương tự như giai đoạn phát triển của trẻ nhỏ trước tuổi học đường. Tư duy tiền khoa học (cụ thể) biết quan sát, biết thu thập số liệu, biết phân tích số liệu, và biết ứng dụng các kết luận từ đó – song như vậy vẫn không đủ!
Tư duy khoa học (trừu tượng) là đặc trưng của kiểu người đương đại nhất thiết phải vươn tới – là tư duy của con người tự do, người có tinh thần trách nhiệm và có năng lực để chịu trách nhiệm, và đó cũng là con người có tâm hồn phong phú.
Từng con người tự do ấy, nhờ được một nhà trường chân chính tổ chức cho nó phát triển tự do, con người ấy sẽ có chọn lựa đối với cái hệ ý thức nó cần, và cũng có cả sự chọn lựa về cách thức xây dựng thể chế kinh tế-chính trị-xã hội được nó đánh giá là hợp lý nhất đối với cộng đồng.
Nhà trường có nhiệm vụ và phải vươn lên để có đủ điều kiện đào tạo thanh thiếu niên đạt tới trình độ tư duy tự lập đó. Từng gia đình, dù có điều kiện đầy đủ nhất, cũng khó có thể tự tổ chức “nhà trường” riêng cho con em mình.
Vấn đề vướng mắc khiến nhà trường chưa bao giờ mang đầy đủ tính thuyết phục, nó vẫn chưa đủ sức tổ chức tạo ra tư duy khoa học theo yêu cầu cao nhất cho thanh thiếu niên – nhà trường cho tới nay giỏi lắm là đủ sức tạo tư duy cụ thể cho con em. Nhà trường ấy đang bị xã hội phê phán mạnh mẽ.
Vì thế mới cần đến cải cách giáo dục.

3. Hiện đại hoá
Cải cách giáo dục là tối cần thiết. Nhưng cải cách theo định hướng nào?
Xã hội đang hết sức bi quan và hoang mang trước nền giáo dục trì trệ. Trạng thái tâm lý xã hội đó tác động sang việc đi tìm một nguyên lý chung nhất cho công cuộc cải cách giáo dục.
Trước hết, có nguyên lý vọng ngoại, dưới nhãn mác hội nhập, muốn sao chép chương trình và sách của nước ngoài. Nguyên lý này khuyến khích cuộc đào tẩu về giáo dục đưa con em ra học ở nước ngoài từ rất sớm, tạo cơ hội mở trường “quốc tế”, và mở tràn lan các kiểu loại tư thục vì lợi nhuận[9].
Tiếp theo, có nguyên lý vọng cổ, luyến tiếc quá khứ, muốn nền giáo dục mới phải phát triển những “cái hay cái đẹp” của các ý tưởng giáo dục Nho giáo, hoặc đòi hỏi “phát huy” những điều “tốt đẹp” trong các thực tiễn giáo dục cũ (từ thời Pháp thuộc cho tới thời Việt Nam Công hòa)[10].
Cả nguyên lý vọng ngoại lẫn vọng cổ đều quên rằng, giả sử các nền giáo dục được nêu gương là tuyệt vời chăng nữa, thì cách tạo ra những “vụ gặt” đó đều đã hết thời, hoặc đã khác xa những điều kiện của thời hiện đại, và muốn tạo ra một “vụ mùa” mới đòi hỏi cách canh tác mới, hợp thung thổ, không thể tùy thích.
Sau nữa, có nguyên lý chiết trung, đua nở từ các thiết chế giáo dục tư thục cho tới các tổ chức nghiên cứu giáo dục “xã hội hóa” khác nhau – mỗi tổ chức tranh nhau đưa ra những khẩu hiệu “chân kiềng” đầy tính chất câu khách[11].
Nhóm Cánh Buồm cho rằng nguyên lý chỉ đạo toàn bộ công cuộc giáo dục mới (triệt để cải cách) sẽ chỉ cần đến một và chỉ một yếu tố sống còn cho dân tộc, đó là nguyên lý Hiện Đại Hóa.
Hiện đại là mục tiêu và Hiện đại hóa là phương pháp dẫn đến mục tiêu.
Lý lẽ của Cánh Buồm rất phân minh: dân tộc ta, đất nước ta phải hiện đại hóa để sống còn, thì nền giáo dục của dân tộc ta, của đất nước ta, cũng phải theo quỹ đạo đó, phải hiện đại hóa.
Chỉ với một chút khác biệt trong nhận thức đối với khái niệm “hiện đại”:
- “Hiện đại” không xuất hiện ngay một lần như của Trời ban cho, mà được gây dựng dần dần, nên mới chọn Hiện Đại hóa óa thay cho Hiện Đại cụt lủn;thay vì “hiện đại” gọn lỏn;Hiện đại hóa H
- Hiện đại hóa không do vay mượn, sao chép, mà xuất hiện dần dần trên một nền tảng vật chất là công cuộc công nghiệp hóa ở ngay chốn này;
- Công cuộc công nghiệp hóa không chỉ là những nhà xưởng bề thế và các sản phẩm công nghiệp, mà nhất thiết phải tạo ra trong tinh thần con người một sản phẩm đặc biệt: cái văn hóa công nghiệp đặc trưng ở kỷ luật làm việc như một thói quen, một lối sống đạo đức[12].

4. Lý thuyết hoạt động
Một xã hội hiện đại hóa xuất hiện dần dần qua những thành tựu vật chất – công cuộc công nghiệp hóa[13].
Một nhà trường hiện đại hóa cũng xuất hiện dần dần qua nhiều thay đổi, bắt đầu từ sự thay đổi lối lao động học đường căn bản nhất, đó là sự tham gia của học sinh vào công cuộc tự giáo dục thay vì nhận sự giáo dục một chiều ban phát từ giáo viên và các bề trên.
Công cuộc tự giáo dục sẽ diễn ra trong công việc tự học, qua những nhiệm vụ rõ rệt, qua những việc làm và qua cả những thao tác học tập có thể kiểm soát được với độ tin cậy cao.
Công việc dạy học của nhà giáo từ đây sẽ diễn ra không qua việc giảng giải rồi yêu cầu người học ghi nhớ và nhắc lại, mà dạy học là công việc tổ chức các hành động học của trẻ em[14].
Cùng với công việc tổ chức một nền giáo dục hiện đại hóa, cần xác định cái khái niệm cao đạo thường được nhắc đi nhắc lại: nhà trường là nơi dạy người.
Một đứa trẻ nên người trong nền giáo dục hiện đại hóa không nhờ nó ngoan ngoãn “lắng tai nghe lấy mấy lời ru” của mẹ và của cô giáo; một em bé nên người là nhờ em biết cách học – cái CÁCH HỌC không do nhồi nhét mà có, cái cách học hình thành dần dần do nhà trường chủ động tổ chức tạo ra thành một năng lực của người học.
Cách học theo phương thức nhà trường liên quan đến sự phân chia nhiệm vụ mỗi bậc học trong nền giáo dục phổ thông.
  • Bậc Mẫu giáo có nhiệm vụ chuẩn bị con trẻ vào trường phổ thông.
Cách học ở bậc này là những trò chơi giúp các cháu hoàn thiện cơ bắp và hoàn thiện cơ quan phát âm (hết nói ngọng) và hoàn thiện các giác quan (nhất là tai nghe và mắt nhìn).
  • Bậc Tiểu học mở đầu giai đoạn học theo phương thức nhà trường có nhiệm vụ tổ chức cho trẻ em chiếm lĩnh phương pháp học.
Cách học ở bậc học này là biết phân biệt các phương pháp khác nhau để chiếm lĩnh các đối tượng khác nhau: khoa học, nghệ thuật, lối sống.
  • Bậc Trung học có nhiệm vụ hoặc là (a) chuẩn bị cho thanh thiếu niên vào loại trường để nghiên cứu hoặc là (b) chuẩn bị cho thanh thiếu niên vào trường học nghề.
Cách học tương ứng sẽ là (a) giúp các em tự trau giồi kiến thức và có phương pháp học theo lối tập nghiên cứu, và (b) giúp các em tự trau giồi kiến thức và có phương pháp học theo lối hành dụng.
  • Bậc Đại học có nhiệm vụ tổ chức cho sinh viên tập độc lập nghiên cứu.
  • Bậc Sau đại học có nhiệm vụ tổ chức cho nghiên cứu sinh hoàn toàn độc lập nghiên cứu.
Chúng ta sẽ đi sâu vào chỉ một bậc Tiểu học đã.

5. Tiểu học – bậc phương pháp
Phương pháp học là nội dung của nhà trường ở bậc tiểu học. Sứ mệnh của bậc tiểu học là tổ chức việc học cho trẻ em sao cho các em BIẾT CÁCH HỌC.
Giai đoạn học Mẫu giáo (ở gia đình hoặc ở trường) là “bậc học” không bắt buộc. Các nước phát triển phương Tây gọi đó là giai đoạn “tiền học đường” (pre-school). Nó hàm ý chỉ khi đi học lớp Một thì từ đó mới bắt đầu giai đoạn “học đường”, giai đoạn nhà trường “bắt buộc”.
Từ lớp Một, trẻ em được học để tổ chức tư duy của mình sao cho từ giai đoạn tiền khoa học (tư duy cụ thể) chuyển hẳn sang được giai đoạn khoa học (tư duy trừu tượng).
Tư duy không hình thành nhờ những lời khuyên nhủ. Tư duy hình thành nhờ tiến hành công việc tự học, tự giáo dục.
Nói đến tự học không có nghĩa là “thả nổi” cho trẻ em tự vẫy vùng như việc tự học của người lớn. Nội dung “tự học” ở bậc tiểu học là cách thức nhà trường từ bỏ lối giảng giải để thay vào đó là tổ chức các hoạt động học của trẻ em.
Thay cho lời giảng giải, các hoạt động học trong mỗi tiết học diễn ra bằng các việc làm sau:
- Việc 1: giao nhiệm vụ. Giáo viên giao nhiệm vụ của tiết học cho học sinh thực hiện. Kết thúc công việc này là một sản phẩm do chính tay học sinh làm ra (tìm ra).
- Việc 2: làm mẫu thao tác học. Giáo viên làm mẫu cái thao tác học để nhờ đó mà làm xong nhiệm vụ (tạo ra sản phẩm) – thí dụ làm mẫu thao tác phát âm, thao tác phân tích …
Tiếp đó, học sinh tiến hành các thao tác học, được chia ra như sau:
  • Thao tác với vật thật để học cách phân tích mẫu[15].
    • Thao tác vật chất, cụ thể, bằng cơ bắp với các vật liệu – có kèm theo lời nói mô tả thao tác mình đang tiến hành.
    • Thao tác thầm, nhắm mắt nghĩ trong đầu những việc đã làm, suy nghĩ về kết quả đã tìm ra[16].
- Việc 3: thu hoạch. Học sinh tự trình bày những điều đã tìm ra. Việc ghi nhận các kết quả (sản phẩm) không nhất thiết phải bằng lời, hoặc bằng cách ghi bài, càng không bao giờ bằng cách chép bài theo lời tóm tắt của giáo viên.
Học sinh sẽ tự ghi lại sản phẩm của mình bằng vài cách, thí dụ:
  • Tự “ghi” bằng đóng kịch, kịch câm, kịch nói.
  • Tự “ghi” bằng vẽ, vẽ tranh, làm tranh truyện.
  • Tự ghi bằng sưu tầm, điều tra.
    • Tự ghi bằng tổ chức tranh luận, thậm chí tự tổ chức diễn đàn Hội thảo khoa học (từ lớp 5).
    • Tự “ghi” nhận thức bằng lời nói và sau đó là bài tự viết[17].

6. Đối tượng [18]
Muốn tổ chức việc học của học sinh tiểu học thành bậc học phương pháp học do các em tự thực hiện những việc làm và thao tác sao cho hoàn thành nhiệm vụ tiết học được giao, nhà sư phạm nhất thiết phải phân biệt được đối tượng học sinh phải chiếm lĩnh.
Trong cuộc sống, các đối tượng tồn tại ở dạng những đồ vật dửng dưng, khách quan, dưới dạng những vật tự nó. Khi con người có nhu cầu, có động cơ đến với các đồ vật nào đó, cái đồ vật (chose, thing) ấy trở thành cái đối tượng (objet, object) để tìm hiểu – sau đó, trong trường hợp may mắn, để chiếm lĩnh.
Đồ vật thì nhiều, càng ngày càng nhiều trước con mắt của ta, người học sinh không tài nào chiếm lĩnh được tất cả các đồ vật theo lối năng nhặt chặt bị. Khi thu gom lại thành những đối tượng, con người sẽ chiếm lĩnh chúng theo các phạm trù không thể lẫn lộn.
Ba phạm trù đối tượng để học sinh chiếm lĩnh là Khoa học, Nghệ thuật, Đạo đức.
Đến đây, lại có thể định nghĩa thêm như sau: phương pháp để học sinh tiểu học chiếm lĩnh được gửi trong cách làm ra từng loại sản phẩm. Cách làm ra ba loại sản phẩm khoa học, nghệ thuật và đạo đức khác nhau như sau:
- Sản phẩm khoa học được làm ra gửi trong các khái niệm khoa học mang tính chất chính xác, chặt chẽ, lô gich.
- Sản phẩm nghệ thuật được làm ra gửi trong các ẩn dụ mà trình độ tường minh cao nhất có thể là một ngữ pháp nghệ thuật tạo thành bởi tưởng tượng, liên tưởng và bố cục.
- Sản phẩm đạo đức được làm ra gửi trong mối quan hệ được xây dựng theo hướng tốt đẹp giữa người với người.
Và để sư phạm hóa được tiến trình chiếm lĩnh ba đối tượng khác nhau ở bậc tiểu học, lại có thể thu gọn hơn nữa theo định hướng việc làm – làm mà học, làm thì học – như sau:
- Phương pháp làm ra sản phẩm khoa học có thể thực hiện theo cách làm lại những việc làm và thao tác nhà khoa học đã thực hiện khi họ chiếm lĩnh một đối tượng nhất định.
- Phương pháp làm ra sản phẩm nghệ thuật có thể thực hiện theo cách làm lại những việc làm và thao tác người nghệ sĩ đã thực hiện khi họ tạo ra một tác phẩm nghệ thuật.
- Phương pháp làm ra sản phẩm đạo đức có thể thực hiện theo cách làm lại những việc làm và thao tác nhà hoạt động xã hội đã thực hiện khi họ tổ chức cuộc sống chung cho một cộng đồng nhất định.

7. Tiếng Việt
Theo những điều phát biểu cho tới lúc này, phương pháp “học” tiếng Việt ở bậc tiểu học được gửi trong cách thức nhà ngôn ngữ học khám phá các vật liệu tiếng Việt để quy tập các vật liệu kia vào từng nhóm khái niệm ngôn ngữ học.

Vào thời điểm thế kỷ 17, tiếng Việt đã được ghi lại bằng chữ Nôm. Các nhà ngôn ngữ học phương Tây đã không dùng chữ Nôm[19], mà dùng những ký hiệu a b c để tạo ra một hình thức ghi tiếng Việt khác, hiện đang được dùng chính thức.
Trẻ em làm lại quá trình đó như thế nào?
Ở lớp Một, khi trẻ em đến trường bắt đầu học tiếng Việt, các em đã nói năng khá thành thạo ngôn ngữ mẹ đẻ đó. Nhiệm vụ lúc này là tìm cách ghi lại tiếng nói đó. Nhắc lại điều đã phát biểu ở bên trên, các em sẽ “quy tập” vật liệu tiếng Việt vào nhóm khái niệm ngữ âm học.
Làm công việc này, chính là các em làm lại công việc các nhà ngôn ngữ học khi bắt đầu đến với tiếng Việt hồi thế kỷ thứ 17: tìm cách ghi lại cái ngôn ngữ ấy.
Các nhà ngôn ngữ học phương Tây làm công việc ghi tiếng Việt trong nhiều chục năm mới xong (1620 đến 1626 và 1631 đến 1648), và trong quá trình làm việc, họ gặp không biết bao nhiêu sai lầm[20].
Vào những năm 1960 thế kỷ trước, nhóm nhà ngôn ngữ học ở Đại học tổng hợp Hà Nội đã tổng kết ngữ âm học tiếng Việt.
Vào những năm 1980 thế kỷ trước, nhà tâm lý học Hồ Ngọc Đại ở Trường thực nghiệm giáo dục phổ thông Giảng Võ, Hà Nội đã biến tổng kết ngữ âm học tiếng Việt trên thành quy trình chặt chẽ giúp học sinh làm lại một cách chắc chắn, dễ dàng[21].
Nhà sư phạm hiện đại giúp trẻ em tránh được những sai phạm của người đi trước, và tổ chức toàn bộ công việc ghi âm tiếng Việt đó của trẻ em chỉ diễn rá trong vòng 5-6 tháng.
Kể từ lớp Hai trở đi, học sinh “làm lại” những việc làm và thao tác ngôn ngữ học với vật liệu tiếng Việt như thế nào?
Ta biết rằng, sau khi các nhà ngôn ngữ học phương Tây đã tạo ra cách ghi tiếng Việt bằng bộ chữ cái a b c, sau khi đã có công cụ ghi chép đó, họ tiến hành sưu tầm từ ngữ và cách diễn đạt tiếng Việt.
Trong hơn hai trăm năm, các nhà ngôn ngữ học cả phương Tây lẫn người Việt đã làm ra gần một chục bộ từ điển và vô số sách sưu tầm tác phẩm truyền khẩu tiếng Việt… tiếp đến việc ra đời vô số nhà xuất bản và báo chí… [22].
Cách học của học sinh lớp Hai trong một năm học sẽ “làm lại” thế nào công việc kéo dài hơn hai thế kỷ đó? Con đường “làm lại” sẽ thu gọn trong những bước tổng quát như sau: Tín hiệu học (các loại tín hiệu, rồi đến tín hiệu ngôn ngữ, dừng lại ở đơn vị từ) – Từ thuần Việt (có từ xa xưa liên quan đến ĂN, LÀM, Ở, GIA ĐÌNH, và ĐÁNH GIÁ) – Từ ghép thuần Việt (ghép hợp nghĩa, ghép phân nghĩa, từ láy) – Từ Hán Việt – Từ mượn của phương Tây.
Lên lớp Ba, học sinh khám phá phương diện cú pháp tiếng Việt về hai mặt cú pháp của Câu tiếng Việt và lô gich của Câu tiếng Việt.
Lên lớp Bốn, các em khám phá văn bản tiếng Việt để có thể tự tạo ra một văn bản.
Lên lớp Năm, các em học vận dụng toàn bộ những điều đã chiếm lĩnh về ngôn ngữ học tiếng Việt vào các loại hình ngôn ngữ trong xã hội: ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ hành chính, và ngôn ngữ đời thường.
Năng lực ngôn ngữ của học sinh tiểu học, giả định học theo sách Tiếng Việt của nhóm Cánh Buồm, sẽ khó có thể chỉ là biết đọc biết viết hoặc đọc thông viết thạo mà đó sẽ là những em nhỏ tuy tuổi 11, 12, song tư duy ngôn ngữ học thì sẽ cao hơn rất nhiều những đầu óc đơn giản chủ nghĩa của người lớn[23].
Đó là nhờ cách học bằng việc làm chứ không học bằng nghe giảng về cái hay cái đẹp của tiếng mẹ đẻ.
8. Nghệ thuật
Đối với môn Văn, mà nhóm Cánh Buồm xác định như môn học giáo dục hành vi và tư duy nghệ thuật, thì cách học bằng việc làm hoàn toàn có ưu thế, hơn hẳn cách học bằng nghe bình giảng và cảm thụ về cái đẹp của văn chương.
Nhóm Cánh Buồm xác định ngay từ định nghĩa nghệ thuật là cách làm ra cái đẹp ẩn dụ bằng những vật liệu khác nhau: vật liệu âm thanh trong âm nhạc, vật liệu cơ thể trong nhảy múa, vật liệu màu sắc và hình khối trong hội họa (và điêu khắc, kiến trúc), và vật liệu bằng lời trong loại hình trữ tình (thơ), tự sự (văn xuôi) và kịch[24].
Xác định người học chỉ có thể có năng lực và tư duy nghệ thuật một khi bắt tay làm ra sản phẩm nghệ thuật nên nhóm Cánh Buồm định hướng học “Văn” theo lối làm lại các hành động, thao tác, và tư duy mà người nghệ sĩ đã thực hiện.
Chắt lọc ra từ các hành động và thao tác ấy một bộ khung chỉ đạo chúng, ta được một ngữ pháp nghệ thuật. Ngữ pháp này gồm các yếu tố tưởng tượng, liên tưởng và bố cục.
Ngữ pháp đó hoạt động xung quanh một yếu tố tinh thần ở người nghệ sĩ chân chính: một lòng đồng cảm với thân phận con người. Lòng đồng cảm này ở người nghệ sĩ khiến người đó có được cảm hứng sáng tạo nghệ thuật chân chính.
Xin đừng nghĩ những nội dung như vừa kể ra là cao siêu. Đó là yêu cầu tối thiểu để một học sinh tiểu học chiếm lĩnh được đối tượng nghệ thuật.
Theo hướng đi này, học sinh lớp Một được giáo dục lòng đồng cảm thông qua những trò chơi đóng vai.
Học sinh lớp Hai được học thao tác tưởng tượng thông qua việc học cách tạo ra các hình tượng coi như là căn cốt của bất kỳ tác phẩm nghệ thuật nào.
Học sinh lớp Ba được học thao tác liên tưởng thông qua việc học cách thay đổi các hình tượng, thay đổi ngôn từ, coi như là “kỹ thuật” tạo ra một ý cho bất kỳ hình tượng nào của tác phẩm nghệ thuật.
Học sinh lớp Bốn được học thao tác bố cục thông qua việc học luật sáng tác cơ bản với những thể loại văn học cơ bản – thể thơ Đường luật, tác phẩm kể chuyện bằng văn xuôi, tác phẩm kịch, nghệ thuật sắp đặt – coi như là những “quy định kỹ thuật” giúp tác giả tạo ra một chủ đề mang một tư tưởng gửi trong bất kỳ tác phẩm nghệ thuật nào.
Học sinh lớp Năm được học dùng bộ ngữ pháp nghệ thuật đã học vào việc tạo ra các loại hình nghệ thuật cơ bản: âm nhạc, nhảy múa, hội họa, trữ tình (thơ), tự sự (văn xuôi) và kịch.
Mục đích việc học này không nhằm đào tạo các nhà văn và nghệ sĩ. Đây hoàn toàn là phương thức làm mà học – làm thì học qua đó trẻ em sẽ vào đời không “nói leo” về nghệ thuật, mà là người có một tâm hồn thực sự phong phú nhờ năng lực thực thụ biết tạo ra những ẩn dụ nghệ thuật từ ngay trong quá trình học.

9. Đạo đức
Có nhiều lý do để môn học giảng giải áp đặt một chiều xưa nay có tên là Luân lý, hoặc Đạo đức, hoặc Công dân giáo dục khó có đất tồn tại trong một nền giáo dục hiện đại hóa.
Trước hết, đó là vì sự phát triển của mọi xã hội đương thời khiến con người bị buộc phải đứng trước ít nhất ba chọn lựa với ít nhất ba trào lưu đạo đức.
Một trào lưu đại diện cho “sức mạnh của quá khứ”. Một trào lưu đại diện cho “sức mạnh cưỡng lại quá khứ”. Một trào lưu đang đi tìm “bến đỗ đạo đức” cho cá nhân mình và cho cả thế hệ mình.
Trong nhà trường, thanh thiếu niên bộc lộ phản ứng khác nhau, trước hết là vì sách giáo khoa và chương trình giáo dục đạo đức không đáp ứng nhu cầu sống và tâm lý của các em.
Ta buộc phải trở lại xem xét những nghiên cứu (như của Jean Piaget chẳng hạn) để cho người lớn có được một cách nhìn hiện đại vào quan điểm của trẻ em đối với vấn đề đạo đức[25].
Hệ thống giáo dục cải cách theo hướng hiện đại hóa của Cánh Buồm tiếp nối những thành tựu của hệ thống Công nghệ Giáo dục bằng việc thay đổi môn học cũ thành môn Giáo dục Lối sống.
Tuy nhiên, môn Lối sống của Cánh Buồm cũng đã thay toàn bộ nội dung Giáo dục Lối sống của Công nghệ Giáo dục bằng định hướng mới: tổ chức cho học sinh có tinh thần và khả năng tạo ra một cuộc sống mới của mình và của cộng đồng theo nguyên tắc ĐỒNG THUẬN.
Lớp Một: đồng thuận (giữa giáo viên, phụ huynh và trẻ em) để tổ chức cuộc sống TỰ LẬP của con em.
Lớp Hai: đồng thuận để tổ chức cuộc sống mới trong CỘNG ĐỒNG (khái niệm cộng đồng ở dạng khái quát nhất).
Lớp Ba: đồng thuận để tổ chức cuộc sống mới trong cộng đồng GIA ĐÌNH.
Lớp Bốn: đồng thuận để tổ chức cuộc sống mới trong cộng đồng TỔ QUỐC.
Lớp Năm: đồng thuận để tổ chức cuộc sống mới trong cộng đồng NHÂN LOẠI.

10. Ngoại ngữ
Trong việc dạy tiếng nước ngoài, từ lớp mẫu giáo đến các trường phổ thông, trường học nghề, nhất là các trung tâm ngoại ngữ ngoài nhà trường, đâu đâu cũng nói đến giao tiếp. Giáo viên rất khổ với cái “bóng ma” giao tiếp này!
Là ma, vì không ai định hình cho rõ cách làm như thế nào để đạt được năng lực giao tiếp. Càng khó khi “định hướng” lại như sau: lấy giao tiếp nuôi giao tiếp.[26]
Đường lối gọi là giao tiếp sinh ra từ đầu năm 1944. Người Mỹ tính toán năm 1945 sẽ là năm quyết định Thế chiến II. Mỹ đã nhìn xa chuẩn bị tiếp quản cả cái thế giới rộng lớn này – gần nửa triệu sĩ quan được cấp tốc đào tạo để đủ sức “giao tiếp” bằng ngoại ngữ.
Đường lối “giao tiếp” cho phép diễn đạt sai cấu trúc miễn là đôi bên hiểu nhau. Nó nhấn mạnh vào ngôn ngữ nói. Nó nhấn mạnh vào ý nghĩa thực dụng. Đường lối đó càng được củng cố khi hết Thế chiến II, vào những năm 1950 thế kỷ trước, có những làn sóng di dân, chuyển vùng để kiếm sống[27].
Đường lối giao tiếp này có thể không sai với người học lớn tuổi cần học nhanh, dùng ngay. Nhưng áp dụng cho đông đảo trẻ em đủ thời giờ học trong 10 năm, 12 năm, liệu nó có chắc đúng[28]?
Phải có một hướng đi và cách làm khác để thay đổi cách dạy tiếng nước ngoài.
Trước hết, cần xác định trẻ em 6 tuổi đến trường phổ thông học ngoại ngữ nhằm mục đích gì?
Đó là để học lấy một cách thức và có được một công cụ hòa nhập vào với một nền văn hóa xa lạ. Nhu cầu hòa nhập này giúp mở mang dân trí hiện đại hóa đất nước.
Xác định mục đích như thế, sẽ thấy cách học cấp tốc (intensive) là hoàn toàn không thích hợp với người học nhỏ tuổi. Thâm nhập, hòa nhập đàng hoàng với một nền văn hóa khác là điều hoàn toàn không giống vượt biên kiếm sống.
Vậy nên, đường lối học ngoại ngữ phải thay đổi, đường lối ấy nên là sự kết hợp chặt chẽ giữa Cấu trúc và Chức năng. Chức năng (giao tiếp) chỉ có thể thực hiện được một cách tự nhiên, không vội vã, nhờ am tường cái ngôn ngữ nước ngoài được học. Phát âm sai, vốn từ không đủ và dùng không chuẩn, cú pháp vụng dại, và không hiểu tính cách dân tộc của “người khác”, thì không giao tiếp được!
Sách học tiếng Anh của nhóm Cấnh Buồm được soạn theo định hướng sau:
Bậc tiểu học: học để chiếm lĩnh tiếng Anh cơ bản.
Lớp Một: Âm – Từ – Trò chơi ngôn ngữ. Nội dung đó được hiểu như sau: ngay từ lớp 1 phải học phát âm tiếng Anh cho đúng – các âm đó gửi trong các từ tiếng Anh nên đây là cơ hội học khoảng 200-250 từ tiếng Anh – và để giúp cho việc học không nhàm chán, sẽ có nhiều trò chơi ngôn ngữ, trò chơi giao tiếp.
Lớp Hai: Từ loại tiếng Anh – Trò chơi ngôn ngữ. Nội dung đó được hiểu như sau: củng cố năng lực phát âm học từ lớp Một, tăng cường số vốn từ lên khoảng 400 từ tiếng Anh – và có thêm nhiều trò chơi ngôn ngữ, trò chơi giao tiếp.
Lớp Ba: Câu tiếng Anh – Cách tạo ra các kiểu câu tiếng Anh. Trò chơi ngôn ngữ. Trò chơi giao tiếp.
Lớp Bốn: Bài tiếng Anh – Cách tạo ra đoạn văn và bài văn tiếng Anh.
Lớp Năm: Văn hóa Anh – Sơ lược về truyền thống Anh. Thói quen giao tiếp và ứng xử của người Anh. Văn, thơ, họa, nhạc, kịch trong văn hóa Anh.

11. Sư phạm
Khi bộ sách cải cách theo chương trình năm 2000 ra đời, bộ sách đó được hỗ trợ bằng pháp lý, hiểu giản dị là cả nước chỉ dùng chung một chương trình và một bộ sách.
Bộ sách CT-2000 bắt đầu dùng phổ biến từ năm 2004, thì năm 2008 đã có lời kêu gọi “giảm tải”. Cho đến ngày mở đầu năm học mới 2011-2012, vẫn còn chỉ thị “giảm tải sâu” đối với CT-2000.
Cho đến hôm nay, khi đã sang năm học 2012-2013, trước sự bế tắc hoàn toàn của công việc “giảm tải sâu”, dư luận đã vào hùa với luồng ý kiến đòi một chương trình nhiều bộ sách.
Thực ra thì luồng ý kiến xác đáng hơn cả bây giờ là nhiều chương trình nhiều bộ sách. Bởi vì cả chương trình và sách là sự thể hiện của một tư duy giáo dục. Một chương trình bất cập thì dù có thay đổi sách giáo khoa đến bao nhiêu cũng bó tay mà thôi.
Bộ sách giáo khoa bậc tiểu học của nhóm Cánh Buồm là giải pháp nghiệp vụ của một tư tưởng sư phạm khác. Đây là một chương trình khác thể hiện thành một bộ sách giáo khoa khác. Bộ sách giáo khoa Cánh Buồm không tự giao nhiệm vụ thực hiện CT-2000 hiện hành.
Bộ sách giáo khoa tiểu học Cánh Buồm mong muốn được triển khai vào thực tiễn. Với kỳ vọng “làm một điều tích cực để chống tiêu cực”, nhóm Cánh Buồm cũng cho rằng “làm ra một sản phẩm cụ thể thay thế cái cần thay thế là cách thức phản biện xã hội có trách nhiệm”.
Song những người biên soạn hoàn toàn không kỳ vọng nhận được một sự thừa nhận về mặt hành chính, vì đây là một bộ sách mang một trình độ tư duy giáo dục khác hẳn.
Vì thế, bộ sách này hướng về cá nhân những người sử dụng: các nhà giáo, các vị phụ huynh, những nhà nghiên cứu khoa học giáo dục.
Việc công bố trọn gói bộ sách này là có chủ đích giúp những người dùng sách có cái nhìn theo chiều dọc – đủ sức hình dung con em học xong bộ sách này sẽ trở thành những cá thể có trình độ tư duy và năng lực thực tiễn ra sao.
Người dùng sách cũng hình dung con em sẽ dùng các thao tác tự học để tự chiếm lĩnh phương pháp học như thế nào qua bộ sách này. Các thao tác đó được hướng dẫn bằng lời ngay trong sách và khi gặp những khái niệm quan trọng thì còn có thêm hình minh họa cách học.
Nhiều đoạn trong các sách giáo khoa tiểu học Cánh Buồm còn khéo léo trình bày cả những kiến thức cơ bản để người dạy có thêm điều kiện dắt dẫn quá trình con em chiếm lĩnh đối tượng.
Nói cách khác, bộ sách giáo khoa tiểu học Cánh Buồm được soạn tạm thời để dùng chung cho cả người học và người hướng dẫn.
Tập thể tác giả hình dung sẽ có bộ sách giáo khoa sư phạm chỉ rõ cái lý thuyết đã tạo ra bộ sách này, để người dạy con em hiểu rõ về lý luận vì sao cần phải thực hiện cung cách dạy học không giống trước đây.
Bộ sách giáo khoa Tiểu học Cánh Buồm cũng có thể dùng cho các học sinh lớp trên, vì theo chương trình và sách dành cho các em học chưa bao giờ có những nội dung và cách học như ta bắt gặp trong bộ sách mới này.

12. Biết ơn
Nhóm Cánh Buồm năm nay ba tuổi. Trong ba năm qua, các thành viên của Nhóm vừa làm vừa học để bổ khuyết những điều chưa bao giờ được học ở trường sư phạm, lại vừa kiếm sống vừa làm công việc biên soạn sách thiện nguyện để thỏa mãn lý tưởng đóng góp cho cuộc cải cách giáo dục.
Một vài ân nhân lớn cần ngỏ lời cám ơn nhân dịp này.
Trung tâm L’Espace của Pháp tại Hà Nội đã giúp đỡ công việc của nhóm Cánh Buồm hơn mức chu đáo. Lần giới thiệu sách tiểu học này, L’Espace còn cho mượn sảnh để triển lãm hình minh họa đen trắng các sách giáo khoa mới. L’Espace đã tạo cho Cánh Buồm một diễn đàn với sự am hiểu chỉ bắt gặp ở những nhà văn hóa[29].
Trường phổ thông Nguyễn Văn Huyên ngay từ năm 2010 đã mời nhóm Cánh Buồm tới dạy sách mới vào các buổi chiều[30]. Trường còn cho nhóm Cánh Buồm mượn một phòng học lớn để làm trụ sở của nhóm. Tại Hội thảo Tự học – Tự giáo dục năm 2011, trường còn cho học sinh tham gia đóng kịch với nhóm Cánh Buồm, đêm diễn cũng ở hội trường L’Espace, đơn sơ nhưng gây được thiện cảm.
Sách giáo khoa tiểu học do Nhóm Cánh Buồm bỏ tiền in với sự bảo trợ về tinh thần của Nhà xuất bản Tri thức, Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh. Nhân dịp này, xin ngỏ lời chân thành cám ơn những nhà hảo tâm đã giúp cho việc in sách trong ba năm nay:
- Giáo sư Hoàng Tụy
- Thái Văn Cầu, kỹ sư không gian
- Nguyễn Trần Bạt, doanh nhân (tặng hai lần)
- Giáng Vân, nhà thơ, nhà báo
- Nguyễn Viết Dũng, Thư ký đề án
- Lê Quốc Quân, luật sư
- Đoàn Minh Tuấn, nhà giáo về hưu
- Nhà văn Phạm Lưu Vũ
- Nguyễn Trần Diễm Linh, giáo viên
- Nguyễn Ngọc Điệp, giáo viên
- Hoàng Hưng, nhà thơ,
- Nguyễn Thị Mười, phu nhân nhà thơ Hoàng Hưng
- Trung tâm L’Espace
- Bác sĩ Nguyễn Kim Cương và bà Hoàng Minh Ngọc
- Gia đình Trung tướng Trần Độ
- Nhà báo Trung Dân
- Nguyễn An Kiều, doanh nhân
- Hai gia đình Đan Mạch và Na Uy ở ViệtNam(giấu tên)
- Ba thành viên nhóm Cánh Buồm
Với các nhà hảo tâm, nhóm Cánh Buồm biết ơn một, thì nhóm sẽ biết ơn gấp bội những ân nhân sẽ mua sách và dùng sách của Nhóm. Chắc chắn con em các vị sẽ thích học sách Cánh Buồm, chắc chắn quý vị sẽ thích mỗi ngày cùng “chơi” với con em bằng những bài luyện tập thú vị, khiến chúng tôi thấy rõ điều mong ước lý tưởng của mình: Giáo dục đem hạnh phúc đến từng gia đình[31] và[32].
Xin cám ơn.
P.T.




CHÚ THÍCH

[1] Đây là cuộc Hội thảo lần thứ tư. Các cuộc hội thảo trước đây:
- Hội thảo Hiểu trẻ em – Dạy trẻ em (tháng 11 năm 2009) như một tuyên ngôn của nhóm Cánh Buồm về định hướng tâm lý học giáo dục chỉ đạo quá trình soạn lại bộ sách giáo khoa tiểu học mới;
- Hội thảo Cháo Lớp Một (tháng 11 năm 2010) giới thiệu 5 cuốn sách lớp Một như một thăm dò và đánh động dư luận xã hội;
- Hội thảo Tự học – Tự giáo dục (tháng 10 năm 2011) như một thăm dò nữa cho định hướng hiện đại hóa nền Giáo dục nước nhà.
Ngoài ra, còn có Hội thảo Một cánh buồm – một nền giáo dục hiện đại hóa (tháng 4 năm 2012) tại viện IDECAF thành phố Hồ Chí Minh nhằm tiếp tục thăm dò định hướng công cuộc Cải cách Giáo dục mà nhóm Cánh Buồm đeo đuổi.
[2] Nhóm Cánh Buồm ra đời cuối năm 2009 trước cuộc Hội thảo Hiểu trẻ em – Dạy trẻ em. Các thành viên nhóm Cánh Buồm không cố định. Có thể tham khảo báo Tia sáng số đầu tháng 8-2012 (từ trang 24-35) và vào trang mạng hiendai.edu.vn để tìm hiểu về nhóm này.
Một vài chi tiết đáng chú ý như sau. Trước năm 2009, người có sáng kiến lập ra nhóm biên soạn này đã thử nhiều cách để tổ chức biên soạn lại sách giáo khoa tiểu học nhưng không thành công. Một cơ may vào mùa hè năm 2009, giáo sư Hồ Ngọc Đại nhờ nhà giáo Phạm Toàn huấn luyện 20 “ứng viên” về Viện Công nghệ Giáo dục để triển khai sách tiếng Việt lớp 1 lên miền núi. Sau cuộc huấn luyện 2 tuần, kế hoạch tuyển dụng không thành. Ai về nhà nấy, trừ bốn người ở lại thành lập hạt nhân ban đầu của nhóm Cánh Buồm. Trong số bốn người đó, nay còn lại ba người: Nguyễn Thị Thanh Hải, Đinh Phương Thảo, Vũ Thị Như Quỳnh. Sau đó, có lúc số thành viên của nhóm lên gần 20. Con số dao động theo lượt người đến học việc, thử việc, và tiếp tục trụ lại hoặc ra đi.
[3] Xin tham khảo Một nền giáo dục Việt Nam hiện đại, Tri thức xuất bản, Hà Nội, 2012. Nội dung Một nền giáo dục Việt Nam hiện đại đã được trình bày tại Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản ViệtNam, tháng 3 năm 2010.
[4] Hồ Như Hiển, “Thay đổi giáo dục hay là chết?” Theo Blog Hồ Như Hiển, http://blog.yahoo.com/_IBDF37GINNJ5HGTPFWEKGYY544/articles/400548
[5] Xin coi trên trang mạng của nhóm Cánh Buồm hiendai.edu.vn “Tạo ra một cái mẫu khả thi – thân phận của công việc nghiên cứu khoa học” Bài nói ngày 27 tháng 9 năm 2010 tại Trung tâm L’Espace. Kèm bản dịch tiếng Pháp và tiếng Anh. Nguồn: http://hiendai.edu.vn/danhmuc.php?cat=3&post=115
[6] Một ý lớn trong bài nói của giáo sư Hoàng Tụy tại Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 5 năm 2010, sau cuộc báo cáo đã dẫn ở chú thích (3).
[7] Xin coi: Bé 9 tuổi vẽ tranh người lớn giật mình
http://www.baomoi.com/Be-9-tuoi-ve-tranh-nguoi-lon-giat-minh/52/8279413.epi
và : Trò chuyện với bố nuôi cậu bé 9 tuổi không đến trường
http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/70684/tro-chuyen-voi-bo-nuoi-cau-be-9-tuoi-khong-den-truong.html
[8] Coi: Gaston Bachelard, La formation de l’esprit scientifique (Sự hình thành tư duy khoa học), xuất bản lần thứ tư, Nhà xuất bản triết học J. Vrin,Paris, 1960, trang7, trang 8.
G. Bachelard chia các trạng thái phát triển tư duy cá thể người thành:
a/ trạng thái cụ thể, qua đó tư duy con người vui đùa với những hình ảnh đầu tiên thu nhận được của hiện tượng, tụng ca sự đẹp đẽ và thống nhất của Thiên nhiên phong phú; tiếp đó là
b/ trạng thái cụ thể-trừu tượng, lúc này kinh nghiệm sẵn có đã có thêm những sơ đồ hình học và một triết học về sự giản đơn của sự vật. Tư duy con người cá thể vào lúc này vẫn còn đầy nghịch lí, nó vừa tin vào sự trừu tượng hóa mà nó đã nhận thức ra, và nó cũng vừa hoài nghi và muốn dựa vào trục giác có tính chất an toàn hơn; tiếp đó nữa là
c/ trạng thái trừu tượng qua đó tư duy tiến hành thu thập thông tin mà không cần dựa vào trực giác nữa.
[9] Nhiều tiếng nói đang cất lên tập trung ca ngợi nền giáo dục Phần Lan – cũng như trước đây từng ca ngợi Giáo dục Cộng hòa dân chr Đức. Mấy thí dụ:
- Giải mã kỳ tích giáo dục Phần Lan – vietnamnet.vn
- Huyền thoại Giáo dục Phần Lan – reds.vn
- Phần Lan có nền giáo dục tốt nhất thế giới – www.baomoi.com
- Câu chuyện về nền giáo dục tuyệt vời ở Phần Lan – giadinh.net.vn
- Nền giáo dục tại Phần Lan – kenhtuyensinh.vn
- Học gì ở nền giáo dục Phần Lan - tuoitre.vn
- Bảy yếu tố giúp Giáo dục Phần Lan thành công – bantingiaoduc.hoasen.edu.vn.
- Phần Lan – Nền Giáo Dục Bậc Nhất Thế giới. – osc.edu.vn-
[10] Blog Hai Lúa giới thiệu khá kỹ về nền giáo dục Việt Nam cộng hòa, tập trung vào triết lý giáo dục và cách thực thi triết lý đó.
[11] Gần như là mỗi trường tư thục và mỗi tổ chức kinh doanh đều có khẩu hiệu của mình làm thành bộ “tam bình” (triptych), kiểu như “Dân chủ, Khoa học, Khai sáng”, hoặc “Tiên tiến, Dân tộc, Khai minh”, hoặc “Hội nhập, Tiên tiến, Khai phóng”, vv…
[12] Văn hóa hiện đại biểu hiện ở lối sống mới: kỷ luật lao động theo bản thiết kế, kỷ luật hợp tác như một lẽ sống để có sản phẩm hoàn chỉnh, kỷ luật bảo đảm chất lượng sản phẩm như một thói quen.
[13] Ta nên nghi ngờ những kế hoạch, những chỉ thị và những cam kết đến một thời hạn nhất định (năm 2020, năm 2030… chẳng hạn) nước ViệtNam sẽ thành một nước hiện đại! Một xã hội hiện đại hóa sẽ không diễn ra theo lối ăn xổi như vậy.
[14] Ta có quyền nghi ngờ những lời mời chào “trang thiết bị hiện đại” của nhiều trường học “hiện đại” do đó học sinh có thể rơi vào nguy cơ chỉ thụ động ngồi nhìn giáo viên biểu diễn “kỹ thuật hiện đại”, trái ngược với tiêu chuẩn “hiện đại” là làm, làm thì học, làm mà học (cách thức nhóm Cánh BUồm dịch khái niệm learning by doing).
[15] Thí dụ để tìm ra các nguyên âm, thì nguyên âm [a] là vật thật làm mẫu.
[16] Những giải pháp triển khai cụ thể trong thực tiễn dạy học các thao tác học, do Hồ Ngọc Đại tạo ra và ứng dụng có hiệu quả trong hệ thống trường thực nghiệm Công nghệ Giáo dục.
[17] Nhiều cách ghi bài để học sinh tự chọn theo cái “trí khôn” mạnh nhất của các em, được gợi ra từ công trình của nhà tâm lý học đương thời Mỹ Howard Gardner. Coi: Howard Gardner, Cơ cấu trí khôn – Lý thuyết trí khôn nhiều thành phần, Phạm Toàn dịch, Giáo dục, 1997, 1998, Tri thức tái bản có bổ sung 2012.
[18] Tác giả báo cáo hết sức biết ơn Giáo sư Tiến sĩ khoa học Hồ Ngọc Đại, nhà sáng lập ngạch Công nghệ Giáo dục ở Việt Nam về những ý tưởng trong mục Đối tượng này. Mấu chốt của khoa sư phạm hiện đại nằm trong việc phân biệt đối tượng chiếm lĩnh nhờ đó mà tổ chức được những việc làm và thao tác thích hợp cho học sinh thực hiện. Các thành viên nhóm Cánh Buồm nhờ nghiên cứu kỹ khái niệm đối tượng đã có thể trình ra trước xã hội bộ sách tiểu học. Một lần nữa, cám ơn giáo sư Hồ Ngọc Đại.
[19] May mắn cho dân tộc Việt Nam là chữ Nôm đã không trở thành chữ viết chính thức! Vì muốn nắm được chữ Nôm, người học phải biết chữ Nho và phải biết luật cấu tạo chữ Nôm về đại thể gồm một ký hiệu cả tiếng bằng chữ Nho ghi “nghĩa” và một ký hiệu cả tiếng cũng bằng chữ Nho ghi “âm”. Chính cái ký hiệu ghi âm này gây rắc rồi nhất, khiến cho chữ Nôm mang tiếng không hoàn toàn oan ức Nôm na (tức na ná) là cham ách qué.
[20] Theo tài liệu của linh mục Đỗ Quang Chính “Lịch sử chữ quốc ngữ” (Dũng Lạc, Sài Gòn, 1950), ban đầu các nhà ngữ âm học phương Tây còn cho rằng tiếng Việt là tiếng đa âm tiết. Do coi tiếng Việt là đa âm tiết, các vị đó cũng coi nhẹ các thanh của tiếng Việt cho tới khi gặp rắc rối với thanh [ (đòi ăn cá được ăn cà, ra lệnh chặt tre về làm rạp thì người nghe hiểu là chặt (đầu) trẻ (nhỏ) ] thì các vị mới vỡ nhẽ.
[21] Hồ Ngọc Đại đã tạo ra một quy trình học ngữ âm tiếng Việt lớp Một hết sức hào hoa với các bước chính như sau: (1) tách lời thành tiếng (2) tiếng giống nhau, tiếng khác nhau (3) tiếng tách làm hai phần (4) tiếng có vần là âm chính (5) tiếng có vần là âm đệm và âm chính (6) tiếng có vần là âm chính và âm cuối (7) tiếng có vần là âm đệm, âm chính và âm cuối … Sách tiếng Việt lớp Một của Hồ Ngọc Đại sau một vài năm bị “phân biệt đối xử”, đã trở lại với các tỉnh khó khăn (miền núi, dân tộc thiểu số), năm học 2012-2013 đã thực hiện ở 16 tỉnh với nhiều chục nghìn học sinh.
[22] Nổi bật là những công trình từ điển của học giả Tây phương như A. de Rhodes, của Taberd, … và của các học giả người Việt như Paulus Huỳnh Tịnh Của, của Petrus Trương Vĩnh Ký … Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu và sư tầm của Huỳnh Tịnh Của và Petrus Trương Vĩnh Ký về truyện nôm khuyết danh, về cách nói năng cư xử của người Việt Nam … đều có thể tính vào kho tàng từ vựng Việt.
Có lẽ cũng cần lưu ý rằng các công trình nghiên cứu từ điển sẽ còn nối tiếp đến tận thời Đào Duy Anh, Hoàng Phê sau này… Và bên cạnh đó là những công trình thực tiễn (các nhà xuất bản và các tòa báo do Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Vũ Đình Long, Vũ Đình Hòe … chủ trương đã buộc việc nghiên cứu cú pháp tiếng Việt phải được xúc tiến (với Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Lân, và sau này với Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Kim Thản, Hoàng Tuệ, … .
[23] Những người lớn tốt bụng và nhiều quyền lực luôn luôn có ý thức duy trì trẻ em ở trạng thái trẻ em như chính các vị người lớn đạo cao đức trọng đó.
[24] Xin nhấn mạnh yếu tố làm ra cái đẹp ẩn dụ khác với sự tán róc về nghệ thuật nơi phòng trà.
Xin vui lòng tham khảo: Quyết định 2493-GD-ĐT ngày 25-7-1995, và các tài liệu ban hành kèm và Quyết định 3049-GD-ĐT ngày 1-9-1995, liên quan đến mục tiêu, kế hoạch, chương trình Cao đẳng Sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học và mục tiêu, kế hoạch, khung chương trình đào tạo giáo viên tiểu học lên trình độ Cao đẳng Sư phạm kèm theo một số bộ sách gốc đã được Hội đồng thẩm định sách của Bộ Giáo dục và Đào tạo giới thiệu làm sách dùng chung cho các trường Cao đẳng sư phạm toàn quốc, (trong đó có các nội dung giáo dục âm nhạc và hội họa – chúng tôi nhấn mạnh).
Các tài liệu sư phạm đó đề ra việc cho giáo sinh học “khái quát nghệ thuật âm nhạc thế giới”, “giới thiệu và nghe tác phẩm một số nhạc sĩ tiêu biểu như J. S. Bach, Mô-da, Bê-hô-ven, Su-be, Sô-panh, Tsai-cốp-xki”…, học các “khuynh hướng âm nhạc hiện đại (Jazz, Pop, Rock)”, và “nhạc phi điệu tính”! Các tài liệu này thiếu hẳn phần đào tạo giáo sinh tự tay làm ra âm nhạc để có tư duy âm nhạc đích thực. Phần chương trình Mỹ thuật dự kiến cho học Lịch sử Mỹ thuật Việt Nam và thế giới, “đi sâu vào giới thiệu danh hoạ và tác phẩm tiêu biểu của một số khuynh hướng nghệ thuật”, “phân tích tác phẩm hội hoạ và điêu khắc”, v.v…
[25] Piaget Jean, Khái niệm đạo đức ở trẻ em. Từ năm 2012, nhóm Cánh Buồm tiếp nhận sáng kiến của thành viên mới, nhà giáo, nhà thơ Hoàng Hưng, tổ chức dịch các sách tâm lý học cơ bản của Jean Piaget và của Howard Gardner. Các thành viên Cánh Buồm mới Dương Tường, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Viết Dũng … cùng tham gia dịch. Sẽ ra mắt sớm: Sự hình thành trí khôn trẻ em, Trẻ em tái cấu trúc hiện thực như thế nào trong tâm lý mình, Khái niệm đạo đức ở trẻ em …
[26] “… giao tiếp không phải là phương pháp, cũng chẳng phải “đường lối”. Nó là cách tiếp cận trong việc giảng dạy ngoại ngữ.” [ … ] “giao tiếp là cách tiếp cận hợp lý nhất, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi nhất khi dạy và học một ngoại ngữ.” “Gọi là cách tiếp cận bởi người ta xem giao tiếp vừa là mục tiêu vừa là biện pháp để đạt đến mục tiêu này. Còn không xem nó là phương pháp bởi có thể sử dụng nhiều thủ thuật khác nhau của các phương pháp trước đó, miễn sao đạt tới mục tiêu sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp.” (Báo Tuổi trẻ cuối tuần, số ra ngày 25-9-2010).
[27] Người Mỹ nói rõ: “đi vào vùng Trung Phi nói hơn 500 thổ ngữ, bạn không thể bỏ ra quá một tuần chỉ ngồi học tiếng…” Còn làn sóng di dân đã thúc đẩy tiến trình học ngoại ngữ theo “cách tiếp cận giao tiếp” vì “người di dân không thể chờ lâu hơn ba tháng để có một việc làm”.
[28] Thêm một ý cần nói: sách tiếng Anh của nhóm Cánh Buồm không đả kích các chủ trương dạy tiếng nước ngoài khác. Ai muốn cho con em học “giao tiếp” nhanh và thực sự có điều kiện làm việc đó, xin cứ tùy nghi. Chỉ xin các nhà mô phạm hãy ngừng dùng những thống kê để kêu ca những yếu kém của giáo viên, coi giáo viên kém cỏi là trở lực cho công cuộc giao tiếp! Nhóm Cánh Buồm tuyên bố xin “bao thầu” tất cả giáo viên tiếng Anh như hiện có và cùng các giáo viên đó thay đổi tình trạng học tiếng Anh trong cuộc giáo dục cải cách theo hướng hiện đại hóa.
[29] Nhân dịp này, cần nói lời cám ơn tới đạo diễn Phạm Quốc Trọng đã vô tư, nhiệt tình, không một chút do dự tính toán, dù rất bận nhưng vẫn bỏ rất nhiều thời gian giúp các em học sinh Nguyễn Văn Huyên diễn vở Chuyện Dế Mèn.
[30] Gồm các lớp tiểu học. Trong qua trình soạn sách, nhóm Cánh Buồm cũng được trường Nguyễn Văn Huyên cho phép dùng sách mới soạn của mình để thử nghiệm việc bồi bổ kiến thức nhằm “lấp lỗ hổng” cho học sinh lớp 6 và lớp 10.
[31] Chúng tôi có “bằng chứng” về niềm hạnh phúc mẹ dùng sách Cánh Buồm chơi với con bằng những bài luyện tập buổi tối qua trường hợp cô Đỗ Thị Minh Nguyệt, cán bộ làm việc tại Trung tâm L’Espace, Hà Nội.
[32] Xin coi trong trang hiendai.edu.vn bài viết sau “Giáo dục phải đưa hạnh phúc đến từng gia đình”, http://hiendai.edu.vn/danhmuc.php?cat=3&post=330
nguồn:http://www.boxitvn.net/bai/41672
======================================================================
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
          Sẽ xóa những comment nói tục
          Thinhoi001
Khi nhà nước cởi truồng 

Lê Anh Hùng 

Người Việt trong và ngoài nước cũng như cộng đồng quốc tế mấy ngày qua tỏ ra hết sức công phẫn về phiên toà xử ba thành viên Câu lạc bộ Nhà báo Tự do hôm 24/9 vừa rồi. Các tổ chức quốc tế như Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch – HRW), Tổ chức Phóng viên Không biên giới (Reporters Sans Frontières – RSF) hay Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International – AI) đều lên án phiên toà, gọi đây là một phiên toà “đáng xấu hổ” với những bản án “kinh khủng” và “phi công lý”. Đặc biệt là không chỉ Mỹ, Liên minh Châu Âu (EU) mà ngay cả Cao uỷ Nhân quyền Liên Hiệp Quốc cũng lên tiếng chỉ trích phiên toà với những lời lẽ nặng nề hiếm thấy.
Giữa lúc người người tỏ thái độ phẫn nộ về một phiên toà đầy ô nhục, kèm theo đó là bao nỗi ngán ngẩm về hiện tình đất nước, điều đáng ngạc nhiên là một chủ đề nóng hổi mà mấy hôm nay dư luận trong và ngoài nước cả trên mạng xã hội lẫn các trang báo “lề dân” bàn tán rôm rả lại là một đề tài hết sức dung tục. Đó chính là câu “tuyên ngôn bất hủ” của trung tá Vũ Văn Hiển, Phó Công an P6Q3, giữa đám quân lính cùng nhiều người khác ngay tại trụ sở Công an phường trong buổi sáng diễn ra phiên toà trá hình kia: “Tự do là cái con c…!”. Thật hiếm khi cộng đồng mạng lại đua nhau bình phẩm về một đề tài sôi nổi đến vậy. Một nhà văn nổi tiếng thậm chí còn lấy cảm hứng từ “lời vàng ý ngọc” đó để “cảm tác” nên một đề văn cho học sinh. Kẻ khác lại không dấu nổi sự hả hê khi bình luận với vẻ châm biếm rằng chẳng thà Nhà nước cứ “cởi truồng” như thế cho người dân khỏi “thắc mắc” hay ấm ức khi cảm thấy mình bị lừa, mà các nhà lãnh đạo lại còn được tiếng là “thật lòng” với dân nữa chứ!!!
Con người ta có lẽ ai cũng cảm thấy bức rứt, khó chịu khi phải khoác trên mình một bộ y phục không vừa vặn. Nhà nước Việt Nam hiện nay hay những người đại diện cho nó cũng vậy. Chiếc áo choàng màu mè mang tên “của dân, do dân và vì dân” của nó gần đây đã bị đại tá Ngô Văn Phương, Trưởng Công an huyện Văn Giang, thẳng tay quẳng xuống đất khi ông ta “điềm nhiên” xác nhận với báo giới rằng vụ 2 nhà báo của Đài Tiếng nói Việt Nam bị 2 công an và 3 người khác hành hung tại dự án Ecopark ngày 24/4/2012 chẳng qua là do họ “tưởng nhà báo là … nhân dân!”. Còn bộ y phục nửa Đông nửa Tây với cái mác “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” bên trong cũng đã bị trung tá Vũ Văn Hiển lột bỏ không thương tiếc qua “sự kiện” trên đây. Suy cho cùng, cả viên đại tá lẫn tay trung tá kia đều đáng nhận được sự cảm thông, thậm chí là tán thưởng, hơn là bị chỉ trích hay lên án, bởi dù sao cách ứng xử của họ cũng chỉ là phản ứng hết sức tự nhiên của con người mà thôi.
Người dân cũng đã cởi truồng để tỏ thái độ với nhà nước: Bà Phạm Thị Lài khoả thân để phản đối việc thu hồi đất với giá rẻ mạt tại Cần Thơ ngày 22/5/2012

Trong chuyện cổ tích “Bộ quần áo mới của hoàng đế” của Andersen, phải đến khi đứa trẻ buột miệng thốt lên “Xem ông vua cởi truồng kìa!” thì mọi người mới đồng thanh ồ lên trước một thực tế hiển nhiên mà ai cũng đã nhìn thấy từ trước, dù không dám nói ra. Ở đây cũng vậy, không phải chỉ đến khi đại tá Ngô Văn Phương và trung tá Vũ Văn Hiển bất ý lột truồng bộ y phục giả hiệu của Nhà nước Việt Nam người ta mới được “chiêm ngưỡng” bộ dạng tồng ngồng của nó, mà thực ra những ai đủ lý trí đều thừa hiểu rằng cái chính thể vẫn tự vỗ ngực là “tiến bộ” ấy đã tự “cởi truồng” từ rất lâu rồi.
Đạo Phật vẫn quan niệm “vạn vật vô thường”. Và dĩ nhiên, cái chế độ “dân chủ gấp vạn lần tư bản” ở Việt Nam hiện nay cũng không phải là ngoại lệ. Sau tất cả những gì đã xảy ra suốt mấy chục năm qua trên dải đất hình chữ S này, đặc biệt là qua những diễn biến gần đây, có lẽ chẳng mấy ai vẫn còn đủ lý trí mà lại không tin rằng Nhà nước Việt Nam hiện nay đang trên đà “tiến hoá” về thời “ăn lông ở lỗ”. Và “Nhà nước cởi truồng” xem ra là hình ảnh lột tả chính xác nhất cái chính thể (tưởng như) vẫn đang khoác trên mình bộ cánh loè loẹt với những cái tên mỹ miều như “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” hay “của dân, do dân và vì dân” đó.
Hà Nội, 30/9/2012
L.A.H.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN
nguồn:http://www.boxitvn.net/bai/41668
======================================================================
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
          Sẽ xóa những comment nói tục
          Thinhoi001
Bản yêu sách của nhân dân An Nam 

Phan Thành Đạt 

Đã gần một thế kỷ trôi qua, kể từ ngày những người Việt Nam yêu nước sống tại Pháp gửi Bản yêu sách của nhân dân An Nam (cách gọi khác của Bản thỉnh nguyện thư) đến Hội nghị Versailles đòi hỏi các nhà lãnh đạo Pháp tôn trọng quyền con người của nhân dân An Nam. Đại diện của Hội người Việt Nam yêu nước là các nhà trí thức tiến bộ có điều kiện tiếp thu cả hai nền văn hóa ViệtNamvà Pháp. Với tấm lòng yêu nước nồng nàn, bất chấp sự đe dọa và dò la của mật thám Pháp, họ viết nhiều bài báo phê phán ách cai trị và chính sách khai thác thuộc địa tại Đông Dương. Khi các đại diện của các nước đến Versailles nhóm họp, Bản yêu sách gồm 8 điều, bên dưới có đề tên Nguyễn Ái Quốc, được trao tận tay cho các đoàn đại biểu. Để hiểu cụ thể nội dung, hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của Bản yêu sách này, tôi xin giới thiệu ba phần chính như sau:
  1. Hoàn cảnh ra đời của Bản thỉnh nguyện của nhân dân An Nam
  2. Nội dung của Bản thỉnh nguyện này
  3. Giá trị và ý nghĩa của Bản thỉnh nguyện

I. Hoàn cảnh ra đời của Bản yêu sách của nhân dân An Nam
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc, các nước Anh, Pháp, Mỹ giành chiến thắng còn Đức là nước bại trận, hơn 9 triệu người bị chết trong cuộc chiến, ba nước bị thiệt hại nặng nề nhất là Đức, Pháp và Nga. Về phía Pháp, một triệu tư lính bị chết trận, nhiều vùng bị tàn phá, phía Đức cũng bị thiệt hại nặng, một triệu tám lính chết trận, còn phía Nga cũng chịu thiệt hại tương tự. Các nước thắng trận yêu cầu Đức phải bồi thường chiến tranh, cụ thể là Đức phải cắt trả các vùng đất đã lấn chiếm của các quốc gia khác, phải từ bỏ chính sách thuộc địa và sang nhượng các vùng thuộc địa ở Châu Phi cho Pháp và Anh. Đức phải giao nộp các vũ khí, khí tài quân sự cho Pháp và phải bồi thường 132 tỉ marks cho Pháp. Hiệp ướcVersailleslà nỗi ám ảnh với người Đức, vì nội dung của Hiệp ước này kết tội Đức là kẻ gây ra chiến tranh và phải hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Bằng cách khích lệ tinh thần người dân Đức theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan, Hitler mong muốn xóa bỏ toàn bộ nội dung của Hiệp ước này và lập lại trật tự thế giới mới. Chính Hiệp ước Versailles là một trong những nguyên nhân, tạo ra mầm mống cho Chiến tranh thế giới thứ 2 (cũng như Hiệp ước Yanta sau Chiến tranh thế giới thứ 2 là một trong những nguyên nhân của cuộc chiến tranh lạnh giữa hai phe Tư bản và XHCN khi các nước đồng minh đồng ý cho Liên bang Xô viết quản lý các nước Đông Âu được nước này giải phóng).
Tuy nhiên Hội nghịVersaillescũng thông qua được hai nội dung khác quan trọng khác đó là thành lập Hội Quốc Liên (la Société des Nations) và Tổ chức lao động thế giới. Điều đáng chú ý là các nước tham gia Hội nghị đã thông qua Bản luận cương gồm 14 điều, theo sáng kiến của Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson (1). Điều 5 và điều 14 đặc biệt quan trọng và có ảnh hưởng trực tiếp đến nhân dân An Nam nói riêng và toàn bộ các dân tộc bị lệ thuộc nói chung, vì các điều này quy định các nước lớn có nhiều thuộc địa như Anh, Pháp cần có các chính sách cởi mở, tự do, thân ái đối với tất cả các xứ thuộc địa. Các nước này phải tôn trọng chủ quyền cũng như lợi ích thiết thực của các dân tộc thuộc địa, phải lưu ý đến các nguyện vọng hợp lý và thực tế của các dân tộc thuộc địa. Để duy trì được những mục đích cao cả này, một tổ chức quan trọng đại diện cho các nước cần được thiết lập để tạo mối liên minh hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới. Tổ chức quốc tế này (tiền thân của Liên Hiệp Quốc) sẽ đóng vai trò đảm bảo độc lập về chính trị, tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của tất cả các nước lớn cũng như các nước nhỏ và đề cao quyền tự quyết của các dân tộc.
Bản ghi nhận các nguyên tắc gồm 14 điều của Tổng thống Wilson được các nước thuộc địa hoan nghênh vì đây là mong đợi của các dân tộc thuộc địa từ lâu, tuy nhiên các nước như Pháp, Anh lại tỏ ra rất thờ ơ và không muốn thực hiện.
Hội người An Nam yêu nước khi đó có trụ sở tại nhà của luật sư Phan Văn Trường, tại số 6 Villa des Gobelins, Paris, đây cũng là nơi sinh sống, hội họp của nhà yêu nước Phan Chu Trinh, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành. Những trí thức từ ViệtNamsang, hay các việt kiều từ các vùng khác đến cũng hay ghé qua nơi này khi có dịp đếnParis. Số lượng người Việt Nam ở Pháp vào thời điểm đó đến mấy chục nghìn người, trong đó có 16 nghìn lính thợ phục vụ cho chiến tranh, và đông đảo thanh niên học tập tại Pháp.
Các nhân vật chủ chốt của Hội đã bàn bạc kỹ lưỡng và soạn thảo Bản thỉnh nguyện thư gửi đến Hội nghị Versailles đòi các quyền con người cho nhân dân An Nam, văn bản này là công sức của cả nhóm, nhưng công lao lớn nhất thuộc về luật sư Phan Văn Trường vì ông là người có trình độ hiểu biết pháp luật hơn cả, điều này thể hiện khá rõ qua cách viết có lập luận chặt chẽ của một nhà luật học, cùng với cách viết chuẩn mực tuân theo các quy định của một văn bản luật.
Nguyễn Tất Thành, đại diện cho Hội người An Nam yêu nước, đến cung điệnVersailles. Người thanh niên trẻ đi dọc theo các hành lang của cung điện Versailles, cố gắng trao tận tay cho các đoàn đại biểu Bản thỉnh nguyện thư của nhân dân An Nam, được ký tên bởi Nguyễn Ái Quốc. Anh cũng gặp được đại tá House, cố vấn của Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson và trao cho ông văn bản này. Để có thêm tiếng nói ủng hộ của nhân dân Pháp (đặc biệt là các trí thức cấp tiến thuộc đảng xã hội) đối với những đòi hỏi đúng đắn của người An Nam, Bản thỉnh nguyện được in ra 6000 bản, được Nguyễn Tất Thành phân phát trên các đường phố Paris, được tờ nhân đạo (l’Humanité) đăng.
Nội dung của Bản yêu sách không được bàn đến trong Hội nghịVersailles, nhưng văn bản này đã tạo được tiếng vang lớn, cái tên Nguyễn Ái Quốc được nhắc đến nhiều trên báo chí và được mật thám thăm dò kỹ hơn. Tổng thống Georges Clémenceau yêu cầu Bộ trưởng phụ trách thuộc địa và Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut lưu ý đến Nguyễn Ái Quốc.
Bản yêu sách cũng được gửi đến Quốc hội Pháp, các trí thức là nhà văn thuộc các đảng cánh tả ở Pháp như Romain Rolland, Anatole France đã nên tiếng yêu cầu Chính phủ cải thiện tình trạng nhân quyền tại các thuộc địa, đồng thời tạo các điều kiện cho các thuộc địa phát triển nhanh hơn.
II. Nội dung bản yêu sách của nhân dân An Nam
Bản yêu sách nêu ra lý do các yêu cầu của nhân dân An Nam trong điều kiện và hoàn cảnh mới vì quyền dân tộc tự quyết được đề cao, một kỷ nguyên tràn đầy hy vọng đang mở ra cho các dân tộc bị áp bức, từ nay luật pháp và công bằng xã hội sẽ được thực thi. Các nước thắng trận đã cam kết trước thế giới là sẽ tôn trọng quyền tự quyết theo tinh thần của Bản luận cương gồm 14 điều được phía Mỹ đề nghị.
Chiến thắng của các nước đồng minh có được cũng nhờ một phần đóng góp của các dân tộc thuộc địa nói chung và của nhân dân An Nam nói riêng, vì trong cuộc chiến tranh có quy mô rộng lớn này (la Grande Guèrre) đã có 16.000 người An Nam trực tiếp hay gián tiếp phục vụ cho nước Pháp. Vì vậy dân tộc Việt Nam thuộc Đế chế An Nam cổ xưa, nay là Đông Dương Pháp (2) có quyền bày tỏ với các nước đồng minh và với Chính phủ Pháp những yêu cầu nhỏ mọn sau đây:
  1. Tổng ân xá cho tất cả các tù nhân chính trị bản xứ.
  2. Cải cách hệ thống tư pháp ở Đông Dương bằng cách đảm bảo cho người dân An Nam các quyền lợi ngang bằng như người dân Châu Âu. Xóa bỏ vĩnh viễn các Tòa án đặc biệt, đây là các công cụ gieo rắc nỗi sợ hãi, áp bức đối với những người An Nam trung thực nhất.
  3. Tự do báo chí và tự do bày tỏ ý kiến.
  4. Tự do lập hội và hội họp.
  5. Tự do xuất dương và du lịch ở nước ngoài.
  6. Tự do giáo dục và sáng tạo, tại tất cả các tỉnh thành đều phải có các trường kỹ nghệ và dạy nghề dành cho người bản xứ.
  7. Thay thế các nghị định bằng các đạo luật.
  8. Bầu ra phái đoàn đại diện của người bản xứ có mặt thường trực tại Nghị viện Pháp để phản ánh và bảo vệ các quyền lợi của nhân dân An Nam. (Dịch 8 điểm trong Bản yêu sách của nhân dân An Nam-Les revendications du peuple annamite, 1919)
Bản yêu sách 8 điểm nêu ra các quyền cơ bản của con người mà xứ An Nam phải được hưởng, đây là các quyền phổ quát trong đó các quyền như tự do ngôn luận, tự do đi lại, quyền bình đẳng đã được Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1789 ghi nhận. Ngoài ra các đòi hỏi chính đáng khác như quyền tự do giáo dục và sáng tạo bằng cách cho phép mở các trường học ở khắp các tỉnh nhằm nâng cao dân trí và đào tạo ra những người có chuyên môn để phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế xã hội ở An Nam.
Yêu cầu thay thế các nghị định bằng các đạo luật và tiếng nói của đoàn đại diện xứ An Nam phải được Nghị viện lắng nghe, nhằm đề cao tính bình đẳng giữa người dân An Nam và người dân Pháp. Một khi các nghị định được thay thế bằng các đạo luật, quyền lợi của nhân dân An Nam sẽ ngang bằng với quyền lợi của người dân ở chính quốc, sẽ không còn sự phân biệt đối xử vì luật pháp đều được áp dụng tại các nơi như nhau và mọi người đều bình đẳng trong một Nhà nước pháp quyền. Mỗi quyết định chính trị của nước Pháp ở xứ An Nam được thảo luận cặn kẽ ở Nghị viện trước khi được thông qua bằng các đạo luật, điều này sẽ giảm bớt hoặc tránh được các quyết định vội vã và phi lý, chỉ có lợi cho chính sách khai thác thuộc địa của Pháp ở Đông Dương mà không quan tâm gì đến lợi ích thiết thực của nhân dân An Nam, để đảm bảo quyền lợi của nhân dân An Nam, cần có đoàn đại biểu thường trực của An Nam tại Nghị viện Pháp.
Hội người An Nam yêu nước thông qua bản yêu sách cũng đòi hỏi Pháp phải cải thiện hệ thống tư pháp và xóa bỏ vĩnh viễn các Tòa án đặc biệt chuyên quy kết các tội nổi loạn đối với những người Việt Nam yêu nước. Các tòa án này xét xử vội vàng và hoàn toàn không có chính danh, với mục đích gây hoảng loạn và tạo không khí sợ hãi để dễ bề cai trị. Các tòa án kiều này rập khuôn theo Tòa án cách mạng (le tribunal révolutionnaire) thời cách mạng Pháp và thời kỳ độc tài La Convention trong các năm 1791 đến 1793, với câu khẩu hiệu bắt buổi sáng, xét xử buổi trưa và thi hành án buổi chiều (có những vụ kể từ khi bắt đến khi thi hành án chỉ kéo dài 24 tiếng, theo quy định của Tòa án cách mạng) kết quả là rất nhiều người bị xét xử vội vã và bị kết tội oan uổng mà không hề có luật sư bào chữa, hoặc không có quyền kháng án lên tòa án cấp cao hơn.
Hội người An Nam yêu nước lập luận: Nếu như nước Pháp là Nhà nước pháp quyền, nơi luật pháp và công bằng xã hội được thực thi, việc giam giữ và xét xử những người An Nam yêu nước thông qua các Tòa án đặc biệt là vô lý vì các tòa án kiểu này chỉ tồn tại trong các thể chế độc tài như thời kỳ La Convention năm 1793. Vì vậy nhà cầm quyền cần phải xóa bỏ toàn bộ và vĩnh viễn các Tòa án đặc biệt chuyên xét xử những người An Nam yêu nước, đồng thời ân xá cho tất cả tù chính trị bản xứ.
Bản yêu sách bênh vực những người An Nam dũng cảm tranh đấu cho tự do và ghi nhận đó là những người Việt Nam trung thực nhất theo cách nhìn nhận của nhân dân An Nam, trong khi họ là những người nổi loạn (des rebelles) theo đánh giá của nhà cầm quyền.
Quyền dân tộc tự quyết đã được các nước đồng minh công nhận tại Hội nghị Versailles, và coi đó là quyền thiêng liêng (la reconnaissance effective du droit sacré pour les peuples de disposer d’eux-mêmes), chính vì vậy dân tộc An Nam của Đế chế An Nam cổ xưa gửi đến các nước đồng minh và nước Pháp những yêu sách nhỏ mọn của người dân An Nam, đó là những đòi hỏi hiển nhiên mà xứ sở An Nam phải có, và phải được chấp nhận.
III. Giá trị và ý nghĩa Bản yêu sách của nhân dân An Nam
Bản thỉnh nguyện ngắn gọn và súc tích, được trau chuốt bởi một văn phong tài năng và rất am hiểu luật pháp. Mỗi từ, mỗi câu đều rất có giá trị, luật sư Phan Văn Trường đưa ra những lập luận chặt chẽ nhằm đạt được những yêu cầu được nêu ra trong văn bản, đây là văn bản luật mẫu mực và vẫn là tài liệu tham khảo của sinh viên ngành luật ở Pháp. Nhưng đây chưa phải là điều quan trọng nhất, điều đáng quan tâm là tấm lòng yêu nước và trách nhiệm của nhóm Ngũ Long (5 thành viên đại diện Hội những người An Nam yêu nước, gồm có Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Tất Thành và Nguyễn An Ninh, riêng Nguyễn An Ninh tham gia muộn hơn vì đến Pháp sau những người khác). Văn bản này khẳng định các nhà trí thức ViệtNamtheo đường lối chủ nghĩa dân tộc và đấu tranh bất bạo động để giành độc lập tự do. Con đường của họ rất giống với cách lựa chọn của luật sư Gandhi, Nelson Mandela hay Martin Luther King.
Những người yêu nước theo khuynh hướng chủ nghĩa dân tộc.
Chúng ta hãy đọc các bài viết, các truyện ngắn hay các vở kịch của nhóm Ngũ Long như Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Vi hành, Những trò lố Varenne hay Phan Bội Châu, vở kịch Con rồng tre, Thư gửi cô em họ, cùng với Thỉnh nguyện thư của nhân dân An Nam. Tất cả các bài viết đều được ký tên Nguyễn Ái Quốc (Monsieur Nguyen aime sa patrie), chỉ cái tên đó đã thể hiện lòng yêu nước của họ. Chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra cách thức đấu tranh của họ. Bằng cách dùng ngòi bút làm phương tiện chiến đấu, họ vạch ra các tội ác của chính sách khai thác thuộc địa, họ mơ ước nâng cao dân trí ở xứ An Nam, nhưng đồng thời cũng mong muốn An Nam tiếp thu được các giá trị văn minh của phương Tây.
Tinh thần dân tộc của các thành viên nhóm Ngũ Long còn được biểu hiện qua lối sống đoàn kết, người đi trước giúp đỡ người đến sau, họ như những thành viên trong một gia đình, có lần mật thám Pháp đến hỏi Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường, hai nhân vật chuyên gây rối (les agistateurs), Nguyễn Tất Thành ra cửa và trả lời: “Bác tôi, chú tôi đi vắng, ông muốn nhắn gì thì cứ nói với tôi, tôi sẽ truyền đạt lại”. Hai trí thức họ Phan còn lập ra Hội đồng bào thân ái (La Fraternité des compatriotes) để giúp đỡ và bảo vệ quyền lợi những người thợ An Nam tại Pháp, vì đa số họ không biết viết và không nói chuẩn tiếng pháp, chỉ dùng tiếng bồi. Chúng ta lưu ý đến chữ đồng bào được Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường dùng lần đầu tiên khi đặt tên cho tổ chức này. Tinh thần dân tộc, sống theo đạo lý của người Việt luôn thể hiện trong nhiều việc làm của hai con người ưu tú này.
Các nhà trí thức của hội đề cao các giá trị văn hóa của dân tộc An Nam, họ rất trân trọng lịch sử, và tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc An Nam. Ví dụ trong truyện ngắn Lời than vãn của bà Trưng Trắc, tác giả Nguyễn Ái Quốc mượn lời bà Trưng Trắc hiện về để chê trách vua Khải Định hèn kém không xứng đáng với tổ tiên, không xứng đáng là vị vua cai trị ở xứ An Nam kiên cường bất khuất, giàu truyền thống chống ngoại xâm. Khi vua Khải Định đến Pháp dự triển lãm, Phan Chu Trinh viết thư thất điều, kể 7 tội đáng chém của vua Khải Định, trong đó có tội làm nhục quốc thể.
Luật sư Phan Văn Trường dùng từ Dân tộc thuộc Đế chế An Nam cổ xưa (le Peuple de l’Ancien Empire d’Annam) trong Bản thỉnh nguyện, để khẳng định xứ An Nam có lịch sử hào hùng, có nền văn hóa đa dạng và đã có một quá trình phát triển được mấy nghìn năm, dân tộc An Nam không phải là dân tộc nhỏ bé, kém cỏi. Tư thế của An Nam ngay cả khi nằm trong khối Đông Dương của Pháp vẫn phải được đối xử như các nước độc lập khác.
Để đấu tranh đòi các quyền tự do báo chí, tự do bày tỏ ý kiến của người dân An Nam và bảo vệ những người yêu nước. Luật sư Phan Văn Trường viết: “Người ta bảo rằng người An Nam sống khép mình và thật khó hiểu được họ, nhưng nước Pháp là nước có tự do ngôn luận, mà có bao giờ để cho họ bày tỏ ý kiến và thể hiện tình cảm của mình đâu, người ta cũng cho rằng người An Nam hay nói dối quanh co, nhưng khi người An Nam nói thật, nếu như sự thật gây khó chịu, họ sẽ ngăn cấm, sẽ truy bức và sẽ đập tan sự thật thành nghìn mảnh, người An Nam quy lụy, kém cỏi, khúm núm, điều này cũng có thể. Nhưng khi người An Nam trở nên kiêu hãnh và tranh đấu để giữ phẩm chất của mình, họ sẽ vu cho là nổi loạn, là xấc xược và họ sẽ truy bắt, từ đó có thể kết luận rằng làm người An Nam không dễ chút nào”.
Tinh thần yêu nước và trách nhiệm đấu tranh đòi các quyền tự do cho nhân dân An Nam, được những người trí thức Việt Nam trên đất Pháp biểu đạt qua nhiều bài viết của họ, nhưng đáng lưu ý hơn cả là Bản thỉnh nguyện của nhân dân An Nam vì nó đã tạo được tiếng vang lớn ở Pháp và tại xứ An Nam, được nhiều cá nhân và các tổ chức công đoàn hưởng ứng. Nguyễn Ái Quốc đã được triệu tập đến gặp Bộ trưởng Bộ thuộc địa Albert Sarraut, Nguyễn Tất Thành đại diện cho cả nhóm đã đến gặp.
Những thành viên nhóm Ngũ Long sau đó tản mát mỗi người một hướng, Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh về Việt Nam, Nguyễn Thế Truyền ở lại Pháp thêm một thời gian, lập ra báo Việt Nam hồn, Nguyễn Tất Thành sang Nga, một con đường mới và một giai đoạn mới mở ra với ông. Tinh thần yêu nước của 5 thành viên và giá trị của các bài báo tranh đấu vì lợi ích của xứ An Nam sẽ còn mãi, đặc biệt là giá trị của Bản yêu sách của nhân dân An Nam.
Đã gần một thế kỷ trôi qua, phải chăng những đòi hỏi về các quyền tự do cho nhân dân An Nam không có ai bàn đến nữa, thời kỳ thuộc địa đã đi vào dĩ vãng, chỉ có nhân dân Việt Nam là chủ nhân của nước Việt Nam. Bản yêu sách của nhân dân An Nam sẽ mãi mãi có giá trị, vì các quyền đòi hỏi của họ là chính đáng, đó là các quyền phổ quát được toàn thể nhân loại tiến bộ công nhận và bảo vệ. Phan Thành Đạt
_____________
Ghi chú:
  1. Thomas Woodrow Wilson, Tổng thống thứ 28 của nước Mỹ, với ý tưởng thông qua Bản luận cương gồm 14 điều có lợi cho các nước thuộc địa, thiết lập Hội quốc liên, tiền thân của Liên Hiệp Quốc, tạo cơ sở cho sự phát triển của ngành luật quốc tế, ông được tặng thưởng giải Nobel hòa bình năm 1919. Tuy nhiên bản luận cương của ông không được Thượng viện Mỹ thông qua.
  1. Đông Dương (l’Indochine) được người Pháp chia ra làm 5 vùng, le Tonkin, l’Annam, la Cochinchine cùng với le Laos và le Cambodge. Đông Dương được định nghĩa sơ lược là vùng nằm giữa hai cái nôi lớn của những nền văn minh cổ đại l’Inde et la Chine (Ấn độ và Trung Quốc) và chịu ảnh hưởng của những nền văn minh này. Từ An Nam thường được dùng để chỉ toàn bộ Việt Nam.
Tài liệu tham khảo:
- Les revendications du peuple annamite
- Une histoire croisée : l’immigration politique indochinoise en France (1911-1945)
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN
nguồn:http://www.boxitvn.net/bai/41666
=====================================================================
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
          Sẽ xóa những comment nói tục
          Thinhoi001
“Giáo dục đang đi lạc đường!” 

TTO - “Giáo dục đang đi lạc đường!” là ý kiến của GS Hoàng Tụy tại hội thảo góp ý đổi mới giáo dục do Liên hiệp hội khoa học kỹ thuật Hà Nội tổ chức ngày 29-9 tại thủ đô Hà Nội.
Nhiều chuyên gia giáo dục, nhà khoa học đã có ý kiến phản biện và kiến nghị về nhiều vấn đề của giáo dục trong bối cảnh Bộ GD-ĐT và Ban Tuyên giáo T.Ư đang xây dựng đề án “Đổi mới giáo dục căn bản và toàn diện”.

Các chuyên gia tại hội thảo
Hơn 20 tham luận và nhiều ý kiến trực tiếp tại hội thảo trên tiếp tục phân tích và tranh luận về nhiều vấn đề của giáo dục hiện nay. GS Hoàng Tụy, một trong những cây đại thụ của ngành giáo dục VN, cho rằng giáo dục đang lạc đường khi “triết lý giáo dục bao cấp” được hiển hiện ở tất cả các khâu của giáo dục hiện nay: chương trình, phương pháp giảng dạy, cách thức thi cử đến tổ chức giáo dục, chính sách tuyển chọn, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ…
Cần Ủy ban cải cách giáo dục quốc gia
GS Chu Hảo điểm lại nhiều ý kiến đề xuất của các nhóm trí thức trong và ngoài nước kêu gọi cải cách giáo dục, từ ý kiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến kiến nghị của 24 nhà khoa học do GS Hoàng Tụy chủ biên. Nhiều kiến nghị khác đến từ các nhà khoa học VN ở nước ngoài, các nhà khoa học thuộc Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật VN, nhóm các nhà giáo dục do nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đại diện.
GS Hảo cho rằng cần có một cuộc tổng điều tra để có thể biết rõ nền giáo dục chúng ta yếu kém nhất ở những khâu nào, yếu kém đến mức độ nào bởi “nếu không có một cuộc tổng điều tra đó thì mọi kiến nghị cải cách chỉ mang tính gợi ý chứ không thể tạo ra các chương trình hành động khả thi”.
GS Phạm Thị Trân Châu nêu ý kiến cần phải nghiên cứu và làm rõ về những tác động tiêu cực của xã hội hiện nay đến giáo dục như tình trạng “chạy tiền để mua việc trong vấn đề tuyển dụng nhân lực” và rất nhiều tiêu cực khác đang trở nên phổ biến.
Trong khi đó, GS Nguyễn Minh Đường liệt kê tới sáu cái “không thực hiện” của nền giáo dục hiện nay, trong đó có vấn đề phân luồng sau THCS và THPT, liên thông giữa các trình độ đào tạo, ngành nghề, chuẩn hóa hệ thống đào tạo và xây dựng mạng lưới cơ sở đào tạo hợp lý.
Theo các chuyên gia giáo dục, với thực trạng giáo dục “nhìn đâu cũng thấy bất ổn” như hiện nay thì cần phải thành lập một Ủy ban giáo dục quốc gia thật sự có quyền lực giúp Đảng và Chính phủ điều phối toàn bộ công cuộc đổi mới nền giáo dục. Một vài ý kiến cho rằng nên thành lập Ủy ban cải cách giáo dục vì “Ủy ban giáo dục quốc gia đã từng được thành lập nhưng trên thực tế tiếng nói không được coi trọng”.
Đầu tư nhân lực
PGS Khổng Doãn Điền khẳng định: “Phải đi từ yếu tố con người, đó là xây dựng lại tiêu chuẩn đạo đức của lớp thầy cô giáo sao cho bằng được ngày xưa. Chỉ khi xây dựng được đội ngũ nhà giáo có tâm huyết, có lương tâm trong sạch mới nên nghĩ đến việc làm các bước tiếp theo”.
GS Nguyễn Xuân Hãn cho biết “lương giáo viên hiện nay quá thấp là một nguyên do khiến giáo viên không yên tâm với nghề và người giỏi không chọn ngành sư phạm”. PGS Khổng Doãn Điền lại cho rằng: “Giáo viên không gắn bó với nghề không hẳn do đãi ngộ mà là “đãi ngộ như thế đã công bằng chưa?”.
Có chung quan điểm trong việc đầu tư số 1 cho “con người”, nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đề xuất từ năm học 2013-2014 nên chấm dứt tuyển sinh đào tạo giáo viên phổ thông trình độ trung cấp và cao đẳng, tính toán cân đối giữa đào tạo và tuyển dụng giáo viên đáp ứng yêu cầu giáo dục phổ thông sau năm 2015. Bà Bình cho biết theo điều tra mới nhất, có một tỉ lệ khá lớn giáo viên phổ thông không đáp ứng được yêu cầu của chương trình – sách giáo khoa hiện hành. Bà cho rằng phải đặc biệt chú trọng phát triển phẩm chất nhà giáo và năng lực giảng dạy. Đồng thời có chính sách thu hút người giỏi vào ngành sư phạm.
GS Vũ Hoan, Chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Hà Nội, kiến nghị tách lương giáo viên ra khỏi hệ thống lương hành chính sự nghiệp trong việc cải cách lương sắp tới. Trước mắt, phải cho giáo viên nghỉ hưu trước ngày 1-1-1994 đến 1-5-2011 được hưởng phụ cấp thâm niên để công bằng.
“Dạy chữ” hay “dạy người” trước?
GS Hoàng Tụy cho rằng “nền giáo dục của ta phải đề cao tính nhân văn, rèn luyện nhân cách, phẩm chất trí tuệ, năng lực cảm thụ, ý thức cộng đồng”. Nói một cách khác, phải có định hướng lại cách dạy cho thanh thiếu niên VN thành người như thế nào chứ không chỉ nhồi nhét kiến thức để chạy theo các kỳ thi, chạy theo bằng cấp để rồi thiếu hụt những kỹ năng cần thiết cho công việc và cho cuộc sống.
GS Phạm Minh Hạc cho rằng bên cạnh việc dành ưu tiên cho việc dạy trẻ con kỹ năng sống cần thiết và những phẩm chất cần có để bước vào cuộc sống, nội dung giáo dục phải có tính phân luồng mạnh hơn và hiệu quả hơn.
Hội thảo không có đại diện Bộ GD-ĐT đến dự.
Nguồn: http://tuoitre.vn/Giao-duc/513748/Giao-duc-dang-di-lac-duong.html
nguồn:http://www.boxitvn.net/bai/41662
======================================================================
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
          Sẽ xóa những comment nói tục
          Thinhoi001
Ảnh đẹp động vật: Gấu trúc nằm phơi bụng thư giãn 

Dân Việt - Gấu trúc thảnh thơi, nằm như người thoải mái tận hưởng nắng mới, khỉ leo dây điện thoại qua đường hay rùa "trêu chọc" vịt... là những hình ảnh về động vật đẹp nhất tuần qua do Telegraph bình chọn.

Chú gấu trúc có tên Xin Yue (10 tuổi), đang nằm thư giãn trong vườn quốc gia Hồ Taihu ở Tô Châu, Giang Tô, Trung Quốc
Chán nằm, chú ta tập bài đu cây
Nhiếp ảnh gia Danny Green đã bắt được khoảnh khắc tuyệt đẹp khi chú chim bói cá bay lên khỏi mặt nước cùng con mồi. Hình ảnh sắc nét, sống động và chân thực đến từng giọt nước
Chuồn chuồng đang cố gắng thoát khỏi sự hung hăng của những con kiến vàng khi chúng cố gắng săn mồi
Hình ảnh của một chú sóc tinh nhanh với ánh mắt tròn xoe
Khỉ sử dụng dây điện thoại để đi qua đường phố. Ảnh được chụp tại New Delhi, Ấn Độ
Voi cũng được đeo nơ, đội mũ
Màn biểu diễn ấn tượng khi dê, khỉ chồng nhau đứng trên dây tại công viên Niao Yu Lin ở Cáp Nhĩ Tân, Trung Quốc
Cặp báo sinh đôi được nhân viên chăm sóc tại công viên động vật hoa dã Tây Tạng ở Tây Ninh, Trung Quốc
Sư tử tiến sát camera ngụy trang BeetleCam ở Luangwa, Zambia
Hình ảnh của những chú gấu trúc đỏ đáng yêu bước đầu rời tổ tại công viên động vật hoang dã Coltswold
Tại hồ Lakewood ở Washington, Mỹ, hai chú rùa tai đỏ đang cố gắng "chọc ghẹo" một con vịt
Cận cảnh từng chiếc răng gớm ghiếc của cá voi
Ngược lại với hình ảnh hung dữ của cá voi, hai mẹ con cá heo vô cùng hiền lành, dễ mến. Hình ảnh chụp tại công viên Hải dương Dolphin Quest ở Hawaii
Theo Telegraph
nguồn:http://danviet.vn/105769p1c32/anh-dep-dong-vat-gau-truc-nam-phoi-bung-thu-gian.htm
======================================================================
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
          Sẽ xóa những comment nói tục
          Thinhoi001