Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

Tại sao người Việt thông minh mà nhân tài lác đác?

|
“Lắng nghe tiếng nói của dân thấy muôn vàn tiếng kêu than về sự nhũng nhiễu của các cơ quan công quyền. Những việc như thế làm xói mòn lòng tin ghê lắm”.
Kẻ thù vô hình
Chúng ta nói nhiều tới truyền thống yêu nước. Nhưng nhiều khi tôi cứ tự hỏi, không biết người Việt mình bây giờ có còn yêu nước như xưa không?
Trước hết phải khẳng định một điều: Dân tộc Việt Nam tồn tại được cho đến ngày nay, qua biết bao nhiêu cuộc chiến tranh là nhờ vào lòng yêu nước. Lòng yêu nước đó là vĩnh cửu. Chỉ có điều khi dân tộc đứng trước hiểm hoạ xâm lược thì lòng yêu nước được thể hiện ở đỉnh cao nhất, đó là sự hy sinh thân mình để bảo vệ tổ quốc. Còn bây giờ sang giai đoạn hoà bình, xây dựng đất nước, chúng ta hiểu nó, vận dụng, thể hiện nó bằng cách gì, như thế nào mà thôi.
Đó chính là điều khiến tôi băn khoăn. Liệu chúng ta có yêu nước không khi mà làm gì ta cũng nghĩ đến lợi ích bản thân mình trước tiên?
Đấy cũng là băn khoăn của rất nhiều người. Tôi đã gặp những người bộ đội, họ bảo: Ngày xưa tôi đi đánh giặc đâu có như thế này. Thấy kẻ thù trước mặt, phải chiến đấu đến cùng. Nhưng bây giờ khó quá. Kẻ thù vô hình, ở đâu đó, rất khó nhận biết. Nhiều người khóc thực sự, họ nói: Tôi nghĩ về đồng đội đã hy sinh, thương họ, không thể nào chịu được. Chúng tôi đã chiến đấu, hy sinh vì cái gì?
Trong thời bình của chúng ta, lòng yêu nước phải tiếp tục nung nấu, làm thế nào để mọi người dân, mọi thế hệ từ trẻ đến già, phải gắn bó, phải yêu đất nước này, phải thấy Việt Nam mãi là quê hương.
Nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Dy Niên.
Nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Dy Niên.
Tham nhũng từ việc nhỏ đến việc lớn
Có những thanh niên nói rằng: xã hội lắm tiêu cực thế, có gì mà yêu? Tôi nghĩ họ cũng có lý.
Đó là biểu hiện của sự khủng hoảng về lòng tin. Thế hệ trẻ nhìn những người xung quanh, thấy có nhiều cái không như họ nghĩ, không như sách vở, nhà trường vẫn dạy, họ không hiểu được sự thật ở đâu, chân lý ở đâu. Trách nhiệm của các thế hệ đi trước là phải cố gắng nuôi giữ lòng tin, để xã hội này, dân tộc này, đất nước này phải trường tồn. Dân tộc Việt không thể mất đi được. Tôi có một niềm tin mãnh liệt như thế, nó chỉ chòng chành thế này, chỉ sóng gió thế này thôi… rồi sẽ trở lại.
Vì sao ông tin tưởng như thế?
Chính là dựa vào lịch sử. Chúng ta đã từng mất nước suốt 1.000 năm Bắc thuộc mà Ngô Quyền đã giành lại được độc lập. Hay khi nhà Hồ để mất nước, thì chỉ 20 năm sau thôi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi đã thành công. Không chỉ riêng Việt Nam, mà trên thế giới cũng vậy. Như dân tộc Palestin đấu tranh vô cùng quyết liệt để tồn tại. Tinh thần yêu nước ghê gớm lắm. Không có lòng yêu nước không thể làm được những điều vĩ đại như vậy. Vì vậy, vấn đề quan trọng là làm thế nào giáo dục cho lớp trẻ lòng yêu nước đó.
Làm thế nào giáo dục được lòng yêu nước khi mà học sinh không thích học sử?
Vì sử không lôi cuốn họ. Phải chăng vì chúng ta cứ lấy quan điểm của ngày hôm nay để nhìn lại lịch sử, đánh giá lại lịch sử? Lịch sử tự nó sẽ hấp dẫn nếu là tiếng nói công minh của chính nó. Đất nước Việt Nam có đến ngày hôm nay là do hàng bao thế hệ ông cha ta, tổ tiên ta đã đổ xương máu để gìn giữ. Lòng tự hào được xây dựng từ hàng ngàn năm nay chứ đâu phải chỉ từ ngày hôm nay.
Tuy nhiên, nói như thế là về lý thuyết thôi. Về thực tiễn có nhiều vấn đề quá: vấn đề xã hội, kinh tế, lý tưởng… của chúng ta. Phải làm thế nào để người dân tin tưởng.
Nhưng cụ thể là phải làm gì, thưa ông?
Tôi nghĩ phải có một chuyển động về tư duy thì mới làm chuyển biến được xã hội, được những vấn đề của chúng ta. Thoái hoá đạo đức, tham nhũng từ việc nhỏ đến việc lớn… làm mất lòng tin của dân. Lắng nghe tiếng nói của dân thấy muôn vàn tiếng kêu than về sự nhũng nhiễu của các cơ quan công quyền. Những việc như thế làm xói mòn lòng tin ghê lắm. Nói là quét sạch tham nhũng thì khó nhưng toàn xã hội phải đồng tâm nỗ lực ngăn chặn tham nhũng lại. Mỗi người góp một tay. Tôi nghĩ phải đưa ra định nghĩa: Người yêu nước phải là người không tham nhũng hoặc phải là người đấu tranh chống tham nhũng.
Tại sao người Việt thông minh mà nhân tài lác đác
Vậy còn chuyện người ta tìm mọi cách ra nước ngoài học rồi ở lại luôn… Như thế có yêu nước không?
Chuyện này cũng có lý do của nó. Tại sao người nào muốn thành tài lại phải ra nước ngoài? Tại sao người Việt mình thông minh là thế mà nhân tài vẫn lác đác như “lá mùa thu”? Nhiều người phải ra đi chỉ vì ở môi trường Việt Nam khó có thể phát triển được. Tôi đã đi hầu khắp thế giới, gặp nhiều người Việt Nam ở nước ngoài, gặp nhiều nhà trí thức lớn.
Những năm đầu sau khi giải phóng, gặp Việt kiều lúc đầu tưởng họ ghét mình, nhưng không phải, trừ một số ít người cực đoan, còn đa số họ nhớ quê hương lắm. Có người nhớ quê đến mức họ nuôi trong nhà một con ếch để đến chiều nó kêu cho đỡ nhớ. Lòng yêu nước là của tất cả mọi người, không phải chỉ người cộng sản mới yêu nước nhất đâu. Mỗi người dân Việt Nam mình ai cũng yêu nước.
Tức là dù có ý thức được hay không thì trong máu chúng ta đã có lòng yêu nước rồi?
Đúng vậy. Nó là truyền thống, là văn hoá vì chính cái kết tinh cao nhất trong văn hoá là lòng yêu nước. Vì là văn hoá nên nó thể hiện như lòng tự trọng. Khi người nước ngoài nói Vietnamese style (cái lối Việt Nam) với ý mỉa mai, xem thường thì mình thấy khó chịu lắm. Làm thế nào để mỗi người phải có lòng tự trọng, phải biết xấu hổ mà vươn lên. Người Nhật là một ví dụ điển hình về sự vươn lên vì lòng yêu nước. Thất bại của chiến tranh thế giới II làm nước Nhật cơ cực và đau lòng lắm, họ phải cắn răng chịu đựng mà vượt qua. Chỉ từ một lòng yêu nước, lòng tự trọng dân tộc mà nước Nhật vươn lên được như ngày hôm nay. Nước Nhật đã làm được như vậy, chẳng nhẽ Việt Nam mình lại không làm được?
Xin cảm ơn và chúc ông năm mới sức khoẻ, hạnh phúc!
Theo Kiến thức
nguồn:http://www.danchimviet.info/archives/72703/tai-sao-nguoi-viet-thong-minh-ma-nhan-tai-lac-dac/2013/01
======================================================================
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
          Sẽ xóa những comment nói tục
          Thinhoi001
Phập phồng một vòng Yangon [2]


|
[Phần 1]
  1. Tượng Vua Bayinnaung Nawrahta (1516-1581) lập ra Vương quốc Toungoo
    Tượng Vua Bayinnaung Nawrahta (1516-1581) lập ra Vương quốc Toungoo
    1.  THĂM TRỐNG CÓC (Frog Drums) tại BẢO TÀNG VIỆN QUỐC GIA và LÀNG LIÊN HỢP SẮC TỘC
 Con cóc là cậu ông trời,
Ai mà đánh nó thì trời đánh cho (Ca dao VN)
mien13
Nghe nói Miến Điện cũng có Trống Đồng nên tôi cũng cố gắng tìm đường đến xem. Tôi đã sẵn định kiến: hễ dân tộc nào có tạo tác được trống đồng (bronze drum) thì xa gần gì cũng có quan hệ đồng bào với tổ tiên người Việt. Các bạn người Miến của tôi cho biết, có hai nơi chứa trống tại Yangon, nhưng họ không đặt tên là trống đồng mà gọi nó là Trống Cóc (Frog Drum).
Nơi thứ nhất chứa Trống Cóc là Bảo Tàng Viện Quốc Gia Yangon (National Museum Yangon) do Bộ Văn Hóa của nhà nước quản lý. Đây là một tòa nhà rộng rãi, cao năm tầng lầu trong một khuôn viên rất lớn, nằm ngay trên đại lộ Pyay Road của thành phố, mở cửa từ năm 1996. Rất tiếc là họ không cho đem máy chụp hình vào bên trong viện và cấm chụp dưới mọi hình thức. Tôi đành thúc thủ và không có hình nào để cống hiến cho bạn đọc, ngoại trừ hai bức tượng đồng của hai quốc vương Miến, chụp được từ bên ngoài viện.
Trong lầu ba và lầu năm, tôi thấy được hai loại trống cóc: loại hai-con-nằm-chồng-lên-nhau do bộ tộc Kayin thuộc vùng Đông-Nam sáng tác, và loại ba-con-nằm-chồng-lên-nhau do bộ tộc Kayah thuộc vùng Đông-Bắc sáng tạo.
Hai con có thể là hình ảnh của vợ chồng hoặc cha con hoặc mẹ con. Còn ba con thì sao? Có phải tượng trưng cho 3 đời nhà cóc? hay tộc Kayah (có 3 con) muốn chơi trội hơn Kayin (chỉ có 2 con)?
Nơi thứ nhì có chứa Trống Cóc là Làng Liên Hợp Sắc Tộc Quốc Gia (Union National Races Village). Trống Cóc là nhạc cụ được tiêu khiển trong các lễ hội từ trước, và sau này được biến chế giản lược thành cồng, chiêng cho dễ xài, vì tạo trống khó khăn và khiêng trống nặng nhọc. Tôi có hỏi vị quản thủ của làng thì được biết: Trống Cóc dùng đặc biệt để cầu mưa vì dân Miến sống nhờ nông nghiệp làm ruộng nước. Năm nào hạn hán, hoặc thiếu/cần nước ngọt thì nông dân làm lễ cầu cho trời mưa, giống như bên Việt Nam ta:
Lạy trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cầy
Cho đầy bát cơm        
(Ca-dao VN)
Nhưng ổng lại không biết đến truyện Con Cóc là Cậu Ông Trời như trong truyện cổ tích theo dân gian của ta. Tôi bèn làm một đường thuyết giảng:
Ngày xửa ngày xưa, ông Trời bận việc thiên đình quên lo chuyện thế gian để cho trái đất bị hạn hán. Muôn loài đều khổ sở. Con cóc bèn dẫn con chim ưng, con gà cồ và con cọp rằn lên kiện ông Trời. Ông Trời liền sai binh tướng xua đuổi, nhưng bị con chim, con gà và con cọp dưới quyền điều khiển của con cóc đẩy lui. Ông Trời chịu thua, nên đặt ra giao ước: hễ khi nào gặp hạn hán thì cóc dưới trần cứ nghiến răng làm hiệu, Trời nghe biết sẽ đổ mưa ………
Ông quản thủ người Miến nghe khoái lắm vì hiểu ra được tại sao trong các dịp lễ hội dân gian, bà con đem Trống Cóc ra đánh để ông Trời nghe được tiếng trống như là tiếng nghiến răng của cóc, mà làm cho mưa thuận gió hòa để bà con dân ruộng được nhờ.
Tôi cũng vui lây theo! Thiệt ra, không giấu gì bạn, tôi có đọc truyện Con Cóclà Cậu Ông Trời đôi ba lần và rất thích truyện này nên nhớ dai, hồi còn học Việt-văn lớp đệ thất (1958) của VNCH trước 1975 [theo Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc (1934). Truyện Cổ Nước Nam, tr. 13. NXB Thăng Long – Sài Gòn].
Chưa hết! Cụ Nguyễn Đổng Chi (bố của anh Nguyễn Huệ Chi mà nhiều người biết tiếng) là một học-giả chuyên trị về các truyện cổ tích Việt Nam cho biết: có rất nhiều truyện đời xưa của dân Miến giống với truyện của dân Việt. Chắc là thời cổ xưa (trước Tần-Hán), dân cổ Miến và dân cổ Việt (nhất là Âu-Việt: Thục Phán An Dương Vương) đã là anh em hay bà con nội ngoại chi đó, nên kể chuyện giống nhau.
mien2
Ngoài mẩu trống đồng ra, Làng Liên Hiệp Sắc Tộc của Miến còn chứa nhiều di vật nông nghiệp như nồi niêu bằng đất , rổ rá rọ, nôm nia bằng tre, và các nhạc cụ  bằng sừng trâu. Tất cả dụng cụ là vật chứng của một nền văn minh ruộng lúa nước, sống nhờ sông ngòi và gió mùa độc đặc của Đông-Nam-Á, hoàn toàn khác hẳn vùng Hoa-Bắc của Trung-quốc.
Quốc gia Miến Điện là một liên bang kết hợp bởi 8 sắc tộc chính: Kachin, Kayah, Kayin, Chin, Bamar, Mon, Rakhine và Shan; bao gồm 134 bộ tộc (sub-tribes) khác nhau, tạo thành một nền văn hóa phong phú và đa dạng. Do đó, không thể sử dụng một thể chế độc tài như của du mục Bắc phương, đế quốc Âu tây, nhóm quân phiệt, hay của đảng cộng sản mà có thể cai trị quốc dân lâu dài được.
Đang có một làn gió mới dân chủ thổi vào xã hội và đất nước Miến, nhưng tình hình thế giới giữa hai anh siêu cường Tàu và Mỹ còn găng nhau lắm. Miệng nói đối tác nhưng bụng vác dao găm. Cả một bài toán khó khăn cho lãnh đạo Miến Điện phải đối phó sau nửa thế kỷ (1962-2012) bị vùi dập dưới ách độc tài của quân phiệt. Tổng thống Thein Sein và nhà đối lập Aung San Suu Kyi đang từng bước hợp tác. Tôi đã gọi cho bạn Ma Kyi Pyar để hẹn ngày mai sẽ tới thăm trụ sở của Liên Đoàn Quốc Gia Vì Dân Chủ (NLD).
2.  VIẾNG TRỤ SỞ  NATIONAL LEAGUE FOR DEMOCRACY
mien14
Dưới thời đế quốc Anh, trong thập niên 1940, một vị anh hùng Miến là ông Aung San (sinh 1916 – bị ám sát chết 1947) đã thành lập quân đội Miến Điện độc lập, đưa đến sự tự do cho quốc gia vào năm 1948. Miến Điện được thanh bình từ năm 1948 cho đến 1962 thì bị nhóm quân phiệt đảo chánh lên cầm quyền. Quân phiệt cai trị độc tài theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa của Trung-cộng: cấm dân biểu tình, chống đòi dân chủ, bỏ tù đối lập và đập giết đối kháng. Cả thế giới lên án và không thèm chơi với Miến Điện.
Năm 2011, cựu đại tướng Thein Sein làm tổng thống đã thay đổi tình hình: trước sửa luật pháp, thả tù chính trị; sau cho đảng đối lập tranh cử, chào mừng bà Suu Kyi (con của tướng Aung San), và mời gọi trí thức cùng lao động lưu vong trở về để chung nhau xây dựng đất nước. Hai vị Thein Sein và Aung San Suu Kyi đã cùng nhau qua thăm Mỹ quốc (2012), rồi kế đó Obama trả lễ chào viếng Miến Điện sau khi đắc cử nhiệm kỳ hai. Mỹ và Miến bắt tay.
Nhưng liệu dịp may dân chủ có chắc chắn không? Sách lược (strategies) với Trung-cộng phải ra sao? Đối thuật (tactics) với Hiệp Hội Đông-Nam-Á phải như thế nào? Luồng gió mới có thật sự thổi tới chưa? Hay cơ hội nào cũng chứa đầy dẫy cạm bẫy và thử thách! Tôi không biết hết, vì không phải chuyện gần gũi với mình. Học thầy không tầy học bạn. Tốt nhất là tôi đi hỏi mấy người bạn!
Nhờ có cô học trò người Mỹ-gốc-Miến ở San Francisco, Betty Ann Shwe, đã giới thiệu với NLD từ trước, nên tôi hẹn được một số bạn Miến ở văn phòng trụ sở để đến thăm. (Betty Ann là thành viên trong ban tổ chức đón tiếp bà Suu Kyi ở San Francisco mấy tháng trước, hồi năm ngoái). Không thuận đường xe buýt nên tôi gọi ngay taxi, đi cho thật lẹ đến ngay địa chỉ của trụ sở NLD. Tôi đến sớm hơn giờ hẹn độ 15 phút.
Trụ sở NLD chỉ là hai căn nhà thường trong một dãy phố rộng rãi, một căn thì lụp xụp nhưng có lầu hai, còn căn kế bên thì khang trang hơn nhưng là căn trệt có ga-ra để đậu xe hơi. Ngay trước cửa trụ sở có một số thanh niên (nam lẫn nữ) ăn mặc chỉnh tề, áo trắng mang huy hiệu đảng NLD (hình con gà chọi đang hướng chạy về ngôi sao trắng trên nền đỏ) đang đứng đợi. Trông mặt các bạn trẻ này xem rất tươi tắn, lễ độ và dễ thương. Tôi cảm thấy hãnh diện vì mình có người ra tiếp đón nồng hậu. Hết nổ rồi lại nổi!
Nhưng còn khuya tôi mới được tiếp đón nồng hậu! Nghèo mà ham! Họ đứng đó để chuẩn bị vào lớp cho khóa học của các thành viên trẻ (NLD Youth), chứ không phải để chào mừng khách từ phương xa đến. Rất ít người nói được tiếng Anh. Tôi đếm được trên 30 em, đến từ nhiều nơi khác nhau. Ngó sang nhà bên cạnh, dưới một gốc cây to, tôi thấy một anh người Miến vạm vỡ, xăm mình rằn ri (người Miến vẫn còn thích xăm hoa văn trên tay và chân) đang dòm ngó; tôi hơi lo, không biết là người bên công an hay bên bảo vệ. Nhưng có nhiều người ở chung quanh, không có gì phải phập phồng!
Đợi chừng 15 phút sau, cô Ma Kyi Pyar, điều hợp viên của NLD Youth, ra trước cửa mời tôi vào phòng khách trong căn nhà khang trang để gặp hai vị giáo sư khác đang chờ để đàm đạo. Đó là hai anh: tiến sĩ giáo dục Thein Lwin từ bên Anh và tiến sĩ điện tử Zeya Oo từ Úc-châu về. Các bạn này đều trên tuổi 50 và mới về Yangon độ nửa năm nay. Họ nói tiếng Anh rất nhuần nhuyễn. Lẽ dĩ nhiên! các vị này đã là sinh viên Miến ngày trước, bị quân phiệt rượt đuổi vì họ đấu tranh chống độc tài. Anh nào cũng bị án tù khiếm diện. Họ thuộc giới trí thức hải ngoại, đều là thành viên cốt cán của đảng NLD, nay quay về cố hương để mong xây dựng đất nước Miến tốt đẹp hơn.
Chúng tôi huyên thuyên đủ mọi thứ chuyện. Từ trên trời xuống dưới đất, rồi kéo qua chuyện con người, quốc gia rồi quốc tế, với anh Mỹ thiếu nợ ngập đầu và anh Tàu xấc xược thách đấu. Họ kể lể tình cảnh chậm tiến của Miến Điện: nào là độc tài quân phiệt lộng hành, tôn giáo quá khích hằn học, sắc tộc xào xáo bên trong, Trung-cộng lăm le bên ngoài. Đủ mọi thứ vấn đề nan giải. Tôi rất cảm thông, chia sẻ với các bạn đồng nghiệp về tình cảnh của Việt Nam, cũng không hơn gì Miến Điện trong khoảng ba phần tư thế kỷ vừa qua:
Theo Nga, theo Mỹ, theo Tàu
Nga nhào, Mỹ rút, Tào-lao tiêu mình.
Các bạn nhà giáo này đều có chung nhận định là, thực lực phải do chính dân tộc mình tạo ra, chứ không phải do tá lực tạo thành, nhưng cần biết thời cơ quốc tế, vì nếu để lỡ chuyến tàu thì rất khó cho vận dụng về sau.
Sau gần 2 tiếng đồng hồ trao đổi qua tâm sự tương kính tương giao, chúng tôi đều đồng ý là phải: xây dựng nội lực dân tộc qua giáo dục, đổi mới phong thái sinh hoạt bằng văn hóa, cải sửa hệ thống chính trị vì dân chủ và phát triển nền kinh thương cho được bền vững.
Thấy lãnh đạo xứ người ta nghèo mà biết lo, còn hơn lãnh đạo xứ ta, miệng nói ba hoa mà toàn là đồ ba xạo. Họ nghèo-đói-cực-khổ mà họ chịu chơi! Còn ta sang-trọng-hùng-dũng mà hóa ra khiếp nhược! Ba dự án lớn của Trung-cộng đã bị chính phủ Miến đình chỉ: đập nước Myitsone không thông, mỏ đồng Latbadaung ngưng trệ, và thành phố Monywa không nhà.
mien15
Hết giờ bàn chuyện chính-chị-chính-em, tôi được mời sang căn nhà lụp xụp để uống trà. Căn nhà này chứa nhiều bàn ghế cũ kỹ nhưng sạch sẽ, trang hoàng với nhiều hình ảnh và poster của bà lãnh đạo Aung San Suu Kyi và ba của bà ta, ông Aung San, được xem như cha già của dân tộc Miến thời đại. Bà cụ quản gia căn nhà (cũng là trụ sở đảng NLD) tặng cho tôi một huy hiệu của đảng NLD và poster hình bà Suu Kyi để làm kỷ niệm cuộc thăm viếng. Bà dặn tôi nên tìm xem phim The Lady, kể lại cuộc đời sinh hoạt của vị lãnh đạo tài ba Aung San Suu Kyi (phim do nữ tài tử Michelle Yeoh đóng, 2011). Tôi cám ơn cụ bà và cầu chúc cho đảng NLD thành công lớn trong kỳ bầu cử tổng thống vào năm 2015 sắp tới.
Tạm biệt bè bạn đồng nghiệp thân mến người Miến sau vài giờ thăm viếng. Xem trong bản đồ thành phố Yangon, tôi thấy có con sông Yangon lượn quanh, na ná giống như thành phố Sàigòn có sông Sàigòn uốn khúc; chiều nay thả bộ dọc bờ sông Yangon để thư giãn ……
3.  BÁCH BỘ DỌC BỜ SÔNG YANGON
mien6
Sông Yangon sao giống sông Sàigòn của ta quá! Vài chiếc tàu hàng cặp bến, nhưng quang cảnh không ồn ào náo nhiệt của sự sầm uất (trước 1975). Dăm ba chiếc ghe xuồng đang đưa khách vội sang sông, giá chỉ có vài chục xu (100 kyat). Ông lái đò, mặt cương nghị trong bộ đồ váy lam lũ, dùng sào tre đẩy ghe xa khỏi bờ. Bên kia sông, tôi mơ màng nghĩ đến bến đò Thủ Thiêm. Tự nhiên, tôi nhớ đến ông lái đò:
Ông lái đò giờ đây già yếu lắm
Cũng thấy lòng sống lại tuổi đôi mươi
Hồn rung mạnh trước cảnh đời tươi thắm
Nỗi mừng vui không thốt được nên lời

(Bài ca Ông Lái Đò của Hiếu Nghĩa, trước năm 1975)
Vâng! Tôi nhớ đến dòng sông xưa của một thời niên thiếu và nhớ luôn đến ông lái đò. Bộ đồ mà ông đang mặc, nhất là cái váy, thật là lê thê lết thết hiện rõ nét dân tình khốn khó của một xã hội chậm phát triển, khác hẳn với các bộ y phục truyền thống tươi đẹp mà tôi đã thấy trong các làng sắc tộc mấy ngày trước. Mỗi người dân một bộ đồ mới, mười phân vẹn mười. Hy vọng khi xã hội Miến đổi thay, ông lái đò cũng sẽ có được một bộ đồ bảnh bao hơn.
mien16
Mỏi cẳng, tôi ghé vào một quán cóc bán nước trà bên lề đường để vừa nhăm nhi vừa nghỉ mệt. Ngồi trên ghế đẩu, cạnh bờ sông, hóng gió mát, thưởng thức trà thơm; nhưng trong đầu, tôi suy nghĩ miên man: hướng về cố quốc, thương tiếc và ngậm ngùi lẫn lộn cho quê hương mình. Ước gì dân Việt được như dân Miến, tuy nghèo nhưng không hèn, tuy cực nhưng không khổ, vì hy-vọng-đã-vươn-lên; và vì giới lãnh đạo biết yêu dân và thương nước, không nhường bước trước bạo lực của Bắc phương.
Chị chủ quán trà ho hen vài tiếng đã kéo hồn tôi trở về với thực tại. Tôi không nói được tiếng Miến. Chị ta lại không nói được tiếng Việt, hay tiếng Anh, nên làm sao biết cách trả tiền nước? Tôi cầm một xấp tiền, sáu bảy tờ 100-kyat, và chìa ra cho chị chủ tiệm một cách chân thành, vì mình không biết giá cả. Chỉ chỉ lấy một tờ 100-kyat và móc túi thối lại cho tôi 50 kyat. Ôi! một tách trà thơm ngon mà trị giá quá rẻ.
Nếu chủ quán lấy luôn hai tờ 100-kyat đối với một khách ngoại quốc như tôi thì cũng chẳng nhằm nhò gì đến khách hàng. Nhưng chị ta rất thật tình, lấy tiền vừa đủ, khiến tôi thêm nghĩ ngợi về tính thành thật chân chất của dân Miến, mặc dầu biết rằng, đây chỉ là một sự kiện đơn lẻ (isolate incident) trong xã hội. Dầu gì thì dầu, đầu óc thống-kê-học của tôi vẫn không thắng nổi lòng cảm xúc trước cách xử thế của con người.
Tôi đứng dậy, bái bai chủ quán, lại tiếp tục đi bộ nữa. Xa xa thấy một đám đông, chừng khoảng bốn, năm chục người, vừa đứng vừa ngồi, đang xem một trận đấu thể thao rất hào hứng. Tiếng reo hò vô cùng náo nhiệt. Tôi tìm cách chen chân vào xem thử ……
4.  ĐÁNH CÁ ĐÁ CẦU MÂY
Cầu mây là trái banh hình tròn, rỗng ruột, đan bằng dây mây. Trái cầu mây rất nhẹ, đường kính khoảng 5 inches, dùng để đá rất thú vị. Trước 1975, trẻ con miền Nam Việt Nam cũng hay chơi đá cầu, nhưng là đá cầu lông (làm bằng lông gà, lông vịt hay lông chim). Thanh niên, con nít Miến rất chuộng môn đá cầu mây này lắm! Tên nó là chilon. Đây là môn thể thao bình dân, rẻ tiền. Có thể chơi tay ba, đấu tay đôi, hoặc tranh tài tay tư (đá cặp).
mien15
Trở lại vụ đám đông đang vây chung quanh trận đấu cầu mây so tài giữa một tay ở trần và một tay mặc áo thun. Tôi vội ráp vô, chen chân ngồi chồm hổm chiếm một chỗ mát, thuộc hàng danh dự để xem cuộc thư hùng. Đôi chân của cầu thủ thật là tuyệt vời. Chúng giữ cầu, nhử cầu, nhấp cầu và sút cầu một cách điêu luyện. Tôi chưa từng thấy mấy cặp giò nào hay như vậy!
Tiếng reo hò của khán giả, đôi lúc biến thành la ó, khiến cho trận đấu trở nên căng thẳng. Đấu thủ ở trần thắng, tay áo thun thua. Cộng với bộ mặt tiu nghỉu là những tiếng xì xào khó hiểu. Có một tay thứ ba trong đám khán giả ra giữa sân tuyên bố gì đó, tôi cũng không hiểu nốt; thế rồi cả ba người đều ra khỏi sân. Ước gì tôi biết chút đỉnh tiếng Miến để xem khán giả, nhất là đám bênh bên thua, có chửi thề hay không. Tôi nghi là có. Vì không chửi thì không vui và không hào hứng. Hoặc chửi cho đã tức!
Tôi vội mua một ly nước-đá-nhận được bào bằng tay với syrup màu đỏ, vừa lạnh vừa ngọt, chỉ có 50 kyat; thêm vào vài miếng bánh cay làm mồi, thì tuyệt chiêu! Ngồi ghế thượng hạng, có món ăn thức uống nhấm nháp để xem trận thư hùng kế tiếp, thiệt không gì bằng!
Trận tiếp theo là một trận đấu cặp đôi. Trước khi giao đấu, tôi thấy có một anh mặc váy (xà-rông) ra nói năng vài câu gì đó rồi bắt đầu đi thu tiền. Chả lẽ anh ta đi thu tiền vé xem hát giữa chợ trời? Không đúng. Vì không phải ai cũng đưa tiền. Tôi không biết ất giáp gì nên cũng không đóng tiền, ngồi chờ xem tiếp. Tay cầm một đống tiền giấy, anh mặc váy lẳng lặng đi ra khỏi sân.
Trận đấu thật hay! Trái cầu mây vi vút bay qua màn lưới được căng ra ở giữa sân khiến cho mấy cái đầu của khán giả cũng lắc lư theo nhịp. Giá mà có bản nhạc Kiếp Nghèo với điệu tango của nhạc sĩ Lam Phương trổi lên trong lúc này, thì theo tôi: đây là trận chung kết về đá cầu mây hay nhất thế giới!
15 phút giao đấu chấm dứt. Thắng thua đã tỏ rõ. Tôi thấy một số khán giả chạy tới anh chàng mặc váy hồi nãy để lấy tiền lại, với một bộ mặt hớn hở của bên thắng. À ra thế! Đây là một trận đấu cá độ. Tôi mà làm nhà nước thì tôi sẽ bắt cả hai bên, thắng lẫn thua, đều đóng thuế ráo!
© Trương Như Thường
© Đàn Chim Việt
———————————————————————————
Câu trả lời cho bảng chỉ đường ở đầu bài là:
mien17
Xin lỗi bạn! Tôi cũng bí luôn! Đã bảo là tôi mù chữ Miến mà.
[JAFR: No stop over the two-yellow line for traffic flow]
◙    Hãy đón đọc bài ký sự Lông Bông Vài Vòng Bangkok của cùng tác giả   ◙
nguồn:http://www.danchimviet.info/archives/72688/phap-phong-mot-vong-yangon-2/2013/01
======================================================================
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
          Sẽ xóa những comment nói tục
          Thinhoi001
Mỹ dọn cỗ mời Tàu xơi

|
USA-China
Chính sách đối ngoại dưới thời George W. Bush là một thảm hoạ và còn để lại nhiều di hại cho Hoa Kỳ. Hậu quả có thể được tóm gọn qua 6 chữ “Mỹ dọn cỗ mời Tàu xơi” trong khu vực Hồi Giáo ở Trung Đông và Nam Á.
Hoa Kỳ tốn gần 1.5 ngàn tỷ USD và 8000 binh lính thiệt mạng trong hai cuộc chiến, nhưng khi các công ty Tây Phương vẫn còn ngần ngại về tình hình an ninh thì Hoa Lục đã nhảy vào ký các hợp đồng dầu hoả và khoáng sản khổng lồ tại Iraq [1] và Afghanistan [2]. Ở các thành phố lớn như Baghdad và Kabul lại tràn ngập tivi, tủ lạnh v.v… mua từ Trung Quốc.
Gia đình Hoàng Tộc của Saudi Arabia đang tăng cường hợp tác với Bắc Kinh [3] vì 3 lý do: (1)  sợ bị Mỹ bỏ rơi giống như cựu Tổng Thổng Mubarak của Ai Cập, (2) bực tức vì ảnh hưởng của Do Thái khiến Hoa Kỳ ngày càng thiên lệch (3) sản xuất dầu hoả tại Mỹ đang tăng nhanh nhờ vào khai thác đá phiến nên chính sách tại Trung Đông có thể sẽ thay đổi. Hoàng Gia cần tiền để xoa diụ dân chúng nên mở cánh cửa mời Bắc Kinh đến mua dầu và đầu tư xây dựng hạ tầng, cả hai việc làm hoàn toàn phù hợp với nhu cầu nhập và xuất cảng của Hoa Lục.
Nhưng Trung Quốc rất khéo léo đi theo chính sách ngoại giao không những chỉ là nước đôi mà đến nước ba: dùng quyền phủ quyết tại Liên Hiệp Quốc để che chở cho Iran, đồng thời vẫn trao đổi mậu dịch và kỹ thuật với Do Thái; như vậy là cùng một lúc hợp tác với cả 3 nước thù địch gồm Saudi – Iran – Do Thái, đồng thời vẫn ký kết mua dầu với 3 quốc gia có trử lượng hàng đầu trên thế giới là Saudi – Iran – Iraq.
Trong khi Hoa Lục đầu tư ồ ạt vào Phi Châu thì các công ty Tây Phương ngày càng gặp khó khăn nhất là từ sau vụ Pháp đem quân sang Mali, và quân khủng bố tấn công vào cơ sở sản xuất khí đốt tại Algeria khiến hàng chục con tin Âu-Mỹ bị sát hại.
Chính sách ngoại giao của Bắc Kinh tại Afghanistan cũng vô cùng khéo léo để cùng một lúc thu lợi trên ba mặt. Hoa Lục công nhận cả hai chính quyền Kabul và Taliban để tạo tư thế bù đắp lổ trống khi NATO sẽ rút quân khỏi vào năm 2014.  Bắc Kinh lại được sự hợp tác của Pakistan để chận đứng ảnh hưởng của Ấn Độ vào Afghanistan. Hoa Lục có thêm nhu cầu ổn định tại Trung Á để chận việc phiến loạn Hồi Giáo tràn vào lảnh thổ Tây-Môn-Nhĩ của Trung Quốc.
Ít nhất trong ngắn và trung hạn Bắc Kinh đang có lợi thế và nhanh chóng phát triển ảnh hưởng tại Trung Đông và Nam Á, phần lớn nhờ vào chính sách ngoại giao độc đoán bắt đầu từ thời George W. Bush. Nhưng tiềm ẩn trong đó là mối lo tâm phúc: hai khu vực này là thùng thuốc nổ nên càng lộ mặt sẽ dễ bị vạ lây! Nga thua Mỹ chạy nhưng cả hai nước này ngày thêm tự lực về năng lượng, trong lúc Trung Quốc bắt buộc phải can dự vì nhu cầu năng lượng tăng nhanh. Cứ trong vài năm thể nào cũng có một cuộc khủng hoảng, nguồn cung cấp bị gián đọạn khiến giá dầu nhảy vọt thì Nga-Mỹ lời to (nhờ bán dầu) trong lúc Trung Quốc (cùng với Âu Châu, Nhật, Nam Hàn, v.v…)  sẽ… than trời.
Có người sẽ cho rằng Mỹ “cấy” sinh tử phù vào Trung Quốc. Người viết không nghĩ vậy, nhưng đôi khi hay không bằng hên!
© Đoàn Hưng Quốc
© Đàn Chim Việt
———————————————–
[1] China’s Oil Quest Comes to Iraq – The Diplomat 12/02/2013
http://thediplomat.com/2012/12/02/china-introducing-the-middle-easts-future-hegemon/
[2] China could prove ultimate winner in Afghanistan – USA Today 1/26/2013
http://www.usatoday.com/story/news/world/2013/01/26/china-winner-afghanistan/1866571/
[3] Every Nation for Itself: Winners and Losers in a G-Zero World – by Ian Bremmer
nguồn:http://www.danchimviet.info/archives/72656/my-don-co-moi-tau-xoi/2013/01
======================================================================
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
          Sẽ xóa những comment nói tục
          Thinhoi001
Xây dựng Hiến pháp mới

|
hien phap
Việc nhân dân góp ý để xây dựng Hiến pháp 2013 đang được thực hiện. Ý định của lãnh đạo đảng và nhà nước là lấy ý kiến nhân dân trong ba tháng (từ đầu tháng 1 đến cuối tháng 3) dựa vào bản dự thảo đã được công bố. Bản tổng hợp ý kiến đóng góp của nhân dân sẽ được trình bày tại phiên họp Quốc hội vào giữa năm nay, sau đó bản dự thảo được sửa đổi bổ sung cuối cùng sẽ được Quốc hội xem xét và biểu quyết tại phiên họp trong tháng 10.
Nhưng công việc không đơn giản như thế.
Ngay sau khi bản dự thảo đầu tiên được công bố, đã có ý kiến khá gay go về quá trình xây dựng bản dự thảo cũng như nội dung của bản dự thảo này.
Trước hết đã có ý kiến của hàng ngàn trí thức tiêu biểu yêu cầu kéo dài thêm thời gian lấy ý kiến của nhân dân, vì 3 tháng xem ra không thể đủ. Lý lẽ của ý kiến này là Hiến pháp cực kỳ hệ trọng, nhất là khi toàn dân mong muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền thật sự, việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật trở nên nền tảng của cuộc sống toàn dân. Do đó, không thể làm hình thức, qua loa được.
Một bộ phận không nhỏ trong nhân dân không hài lòng với bản dự thảo vừa công bố, vì tuy đề ra hàng trăm điều sửa đổi, nhưng lại hoàn toàn bỏ qua những thay đổi cơ bản cần thiết và cấp bách nhất. Trong những ý kiến này, có 2 đề nghị cực kỳ quan trọng rất khó lòng bác bỏ, đó là đổi tên gọi từ Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) thành Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) như trước đây; đồng thời có ý kiến yêu cầu đảng Cộng sản Việt Nam nên chọn cho mình một tên gọi khác thích hợp với thực tế và khoa học hơn.
Hiện nay VN gần như là nước duy nhất còn mang danh xã hội chủ nghĩa (XHCN). Trung Quốc vẫn là nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Cuba nay là nước Cộng hòa Cuba. Libya đã từ bỏ danh xưng XHCN. Miến Điện cũng không còn tự gọi là một nước XHCN nữa.
Hơn nữa hiện nay chưa ai chỉ ra được hình thù chủ nghĩa xã hội (CNXH) và chủ nghĩa Cộng sản (CNCS) ở nước ta nó ra sao, mang những đặc điểm cụ thể gì, bao lâu nữa sẽ hình thành, qua mấy kế hoạch 5 năm, qua mấy chiến lược 10 năm. Trong Hiến pháp không thể ghi những khái niệm chung chung, mơ hồ, xa vời. Hơn nữa CNCS kiểu Mác-Lênin trong thực tế đã bị phá sản triệt để ở Liên Xô cũ và Đông Âu; vài nước còn theo chủ nghĩa này đang lâm vào tình trạng khủng hoảng cả trên lý luận lẫn thực tiễn. CNCS đã bị lên án là một sai lầm khủng khiếp của lịch sử, là tội ác chống nhân loại, với hơn một trăm triệu nạn nhân được ghi rõ trên một tượng đài kỷ niệm ở thủ đô Washington của Hoa Kỳ. Trên khắp châu Âu, CNCS kiểu Mác-Lênin cũng bị cấm truyền bá và bị coi là tội ác lớn hơn cả tội ác của chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Vậy thì đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN)có nên giữ tên gọi như cũ, vẫn khẳng định trung thành với học thuyết Mác-Lênin, vẫn kiên định CNXH kiểu Mác-Lênin hay không? Lẽ phải, khoa học, uy tín của đảng, danh dự dân tộc, thể diện quốc gia đều yêu cầu phải sửa đổi.
Có ý kiến nên tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý gọn, nhanh về vấn đề trên vì đã chin trong lý lẽ, trong dư luận rồi.
Nếu đổi tên nước thành Nước VNDCCH thì sẽ có sự thay đổi tận gốc rễ từ chế độ độc đảng sang chế độ đa đảng, sẽ cần một đạo luật để sự chuyển đổi diễn ra trong luật pháp, trật tự, từ đó sẽ phải sửa rất nhiều điều khoản cho đồng bộ. Hiến pháp hiện hành, nếu được sửa đổi một cách cơ bản, hoặc tốt hơn nữa là được thay đổi bằng một văn kiện hoàn toàn mới theo đúng mệnh lệnh của đất nước, ý nguyện của toàn dân, và yêu cầu của thời đại, sẽ mang lại một diện mạo mới mẻ cho đất nước. Sự chuyển đổi này có giá trị như một cuộc cách mạng dân chủ sâu sắc.
Ngoài ra có mấy vấn đề hệ trọng khác cần được trao đổi, đối thoại rộng rãi trong dư luận. Đó là vấn đề sở hữu nhiều thành phần về ruộng đất như tại hầu hết các nước khác, từ đó khôi phục quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất vốn có từ xưa; vấn đề tách rời ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp để có kiểm soát và cân bằng quyền lực; vấn đề không coi sở hữu quốc doanh là chủ đạo trong nền kinh tế chung …
Mới có vài tuần lễ bản dự thảo được đưa ra công luận, đã có phản ứng và hồi âm ngay. Đã có yêu cầu
mạnh mẽ, dứt khoát chuyển thật sự sang một chế độ dân chủ đa nguyên. Trong số người đông đảo đã ghi tên đóng góp ý kiến, người ta thấy có những nhân vật rất nổi tiếng, mới cũng như cũ, thuộc cả hai giới nam nữ, từ mọi miền Bắc, Trung, Nam, thuộc mọi lứa tuổi, có cả người ngoài đảng CS và trong đảng. Lý lẽ của họ rất rõ ràng, lập luận công phu, Ban Lý luận Trung ương, và 900 “lý lẽ viên” của Thành ủy Hà Nội khó lòng bác bỏ nổi.

Lúc này chính là lúc Bộ Chính trị cần lắng nghe ý kiến và nguyện vọng của nhân dân hơn lúc nào hết. Bộ Chính trị đã bỏ qua quá nhiều thời cơ và lãng phí quá nhiều thời gian của đất nước. Hãy lắng nghe tiếng nói của nông dân bị mất ruộng đất, của các nhà kinh doanh nhỏ và vừa bị chèn ép, của tuổi trẻ nhiều ước mơ bị vùi dập. Trong khi đó, nạn tham nhũng đang ngang nhiên hoành hành, xã hội băng hoại vì kỷ cương buông lỏng từ trên cao, y tế xuống cấp, giáo dục lạc hậu, đều liên quan đến tệ quan liêu, độc đoán, thiếu vắng dân chủ.
Trong công cuộc sửa đổi Hiến pháp, tạo ra Hiến Pháp Dân chủ năm 2013, có thể nói trên thực tế đã hình thành 2 nhóm lãnh đạo đối lập nhau. Một bên là lãnh đạo của đảng CS mà đại diện chính là Bộ Chính trị hiện nay, có vẻ như không mặn mà với việc sửa đổi Hiến pháp, hài lòng với bản dự thảo hiện tại, gồm có hàng trăm thay đổi vụn vặt, thứ yếu, tránh né những thay đổi cơ bản cần thiết đã hoàn toàn chin muồi.
Một bên là một số trí thức khá đông đảo, chất lượng cao, không ít người là cán bộ cao cấp của đảng và nhà nước, một số từng là cán bộ lãnh đạo, cùng thanh niên, phụ nữ, lao động, nông dân, nhà kinh doanh… có trình độ và tâm huyết, mong muốn một cuộc thay đổi đúng mức, theo hướng dân chủ đa nguyên, hòa nhập với thế giới dân chủ hiện đại, có lợi cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước.

Đây là một cuộc đấu tranh ôn hòa, bằng lý lẽ, qua lập luận, tranh luận, thuyết phục nhau, qua hội họp, bài nói và bài viết trên các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng mở rộng, lấy nhân dân cử tri cả nước làm trọng tài. Đây là dịp để nhân dân ta tập dượt thực thi quyền dân chủ của cử tri trong xã hội, với thái độ ôn hòa, xây dựng, bình đẳng tương kính trong một xã hội văn minh, có hàng ngàn năm văn hiến.
Do có thể có những bất đồng gay gắt, cần đề phòng trước những thái độ nóng nảy, thành kiến, chụp mũ nhau, không lắng nghe rõ ý kiến của nhau, và nên luôn luôn lấy quyền lợi tối cao của nhân dân của đất nước làm trọng.
Đất nước quê hương ta đã qua một thời kỳ chến tranh bi thảm, nay là một dịp quý hiếm để chung sức chung lòng tạo nên một đạo Luật Cơ bản làm nền tảng vững vàng cho một chế độ dân chủ đa nguyên mà nhiều nước đã thực hiện từ thế kỷ XVIII như Hoa Kỳ và Pháp, những gương sáng từng được ghi đậm nét trong bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của nước VNDCCH.
Đảng CSVN đang lãnh đạo đất nước có đóng góp nhưng cũng có nhiều sai lầm trong trách nhiệm của mình, nay có phần trách nhiệm chủ yếu trong việc điều hành xây dựng bản hiến pháp mới năm nay. Quần chúng nhân dân đang thức tỉnh về nền dân chủ đa nguyên ưu việt đặt niềm tin trên vai tập thể trí thức dân tộc đã có sáng kiến đề ra những tuyên bố, kiến nghị, lời kêu gọi vừa qua.
Lịch sử sẽ ghi nhận thái độ đúng đắn, trọng lẽ phải, vì nhân dân, thức thời tự nguyện rời bỏ vai trò độc quyền độc tôn lãnh đạo đất nước của Đảng CSVN, chủ động sát cánh cùng toàn dân xây dựng nền dân chủ đa nguyên ưu việt, một bước tiến mạnh mẽ lên phía trước của nền văn minh nhân loại.
© Bùi Tín – VOA
nguồn:http://www.danchimviet.info/archives/72649/xay-dung-hien-phap-moi/2013/01
======================================================================
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
          Sẽ xóa những comment nói tục
          Thinhoi001
Nỗi lòng của nhạc sĩ Anh Bằng

|
Năm 2009 Văn Đàn Đồng Tâm phát hành tác phẩm „DÒNG NHẠC TRONG LÒNG DÂN TỘC“ để kỷ niệm và vinh danh nhạc sĩ tài hoa lão thành Anh Bằng, một trong những nhạc sĩ nổi tiếng đóng góp rất nhiều cho nền âm nhạc VN để đời cho hậu thế. Ông không những thành công rực rỡ qua các bản tình ca tha thiết trữ tình mà còn tuyệt vời với những sáng tác viết cho cuộc chiến, cho thân phận con người và cho những người lính chiến, nhạc của ông đa dạng phong phú với đủ mọi giai điệu khác nhau: Tango, chachacha, Rumba, Boston, Slow, Pop…hùng hồn, lãng mạn, vui tươi, nhưng có những ca khúc làm rơi lệ, làm rung động trái tim người thưởng thức ở mọi giới… Ông định cư ở Hoa Kỳ từ năm 1975 suốt 38 năm qua ông tiếp tục hăng say sáng tác nhạc với nỗi lòng tràn đầy cảm xúc, âm nhạc gắn liền với thân phận ông như: „Thân tôi làm kiếp con tằm. Tơ vương đến thác, kiếp tằm nhả tơ”.

Anh Bang 2

Sống cuộc đời lưu vong sáng tác của ông có thể chia làm nhiều giai đoạn như buồn cho thân phận người đi, cũng như người ở lại dưới bạo quyền CS. Thời gian phôi phai ông sáng tác nhạc vui hơn và tiếp tục phổ thơ… Năm 2011 trung tâm Asia Entertaiment phát hành DVD kỷ niệm 36 năm viễn xứ chủ đề „ANH BẰNG Dòng Nhạc Lưu Vong“ gồm 24 ca khúc diễn tả tâm trạng nỗi lòng của người Việt yêu quê hương, dân tộc trước thảm hoạ xâm lăng của Trung Cộng chiếm các vùng biển đảo của Việt Nam là Hoàng Sa và Trường Sa. DVD nầy được đón nhận nồng nhiệt của mọi người trong và ngoài nước, theo lời giới thiệu của nhạc sĩ Nam Lộc về Anh Bằng tâm sự: „Đã là người cầm bút chúng ta có bổn phận phải viết sáng tác, để nói lên điều gì mà người khác không nói được. Dù sự đóng góp của tôi chỉ là hạt muối trên biển cả, nhưng một hạt muối cũng có thể làm cho biển mặn hơn …“ Anh Bằng là một trong những nhạc sĩ thành công về nghệ thuật phổ nhạc từ những bài thơ nổi tiếng trên văn đàn. Cả cuộc đời ông gắn bó với âm nhạc, hơn 500 nhạc phẩm đóng góp cho kho tàng văn học nghệ thuật.
Những nhạc phẩm làm người nghe cảm nhận nỗi ray rứt, rung động trái tim khơi dậy lòng yêu nước như: Hãy Đứng Lên, Phải Lên Tiếng, Cả Nước Đấu Tranh… các nhạc phẩm đó như tha thiết mời gọi những trái tim Việt Nam cùng đoàn kết hiệp thông, chia xẻ, và đồng hành với các nạn nhân và gia đình nói riêng, cùng Dân Tộc Việt Nam nói chung trong hoàn cảnh bất công tại quê nhà.
Những buổi sinh hoạt cộng đồng các ca khúc của ông đều được hát vang dội như lời kêu gọi, thúc dục lòng yêu nước của mọi người dâng cao. Dù sống ở xứ người nhưng trái tim của tất cả nhạc sĩ, thi sĩ cùng nhịp đập với quê hương bên kia bờ đại dương xa diệu vợi. Những nhạc sĩ ở Hải ngoại tự do sáng tác để đời những ca khúc đấu tranh và trữ tình với cung bậc trầm bổng, du dương. Dòng nhạc lưu vong luôn cổ vũ tinh thần yêu nước, đánh thức trách nhiệm của mỗi người đối với đất nước và thể hiện tinh thần đoàn kết quyết tâm chống giặc ngoại xâm của người Việt Nam trên khắp thế giới.
Nhạc sĩ Anh Bằng mong ước cùng chúng ta đấu tranh cho Việt Nam một ngày không xa sẽ có Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền được tôn trọng.., bỏ qua những tỵ hiềm bé nhỏ, cùng nắm tay nhau đốt lên ngọn đuốc Việt Nam soi sáng những tối tăm, mịt mù trên quê hương và sưởi ấm lòng người viễn xứ. Hơn 37 năm qua chúng ta sống đời lưu vong, trong nước những người yêu quê hương bị bắt bớ, giam cầm, dân oan khắp nơi mất nhà mất đất đã phải vất vưởng lang thang, đói nghèo, khiếu kiện ròng rã nhiều năm mà không hề thấy bóng dáng Công lý ở đâu?.. Chúng ta chỉ mong ước một ngày Việt Nam sẽ thật sự có tự do, no ấm, phú cường:
Đốt đuốc lên! Ta đốt đuốc lên!
Cho tình anh em Việt Nam đoàn kết
Thắp nến lên! Ta thắp nến lên
Xua ngàn tối tăm ra ngoài trái tim cùng một lời nguyền
Đốt đuốc lên! ta đốt đuốc lên!
Cho cờ vàng lên rực cao Tổ quốc
Thắp nến lên! ta thắp nến lên
Cho màu vàng sáng thơm da vàng Việt Nam

Tâm hồn nhạc sĩ Anh Bằng thật đa cảm, phong phú với những giai điệu đem đến cảm xúc cho mọi người, mọi lứa tuổi trong và ngoài nước. Nhạc của ông gắn liền với đời, với thân phận của người Việt Nam, hiện nay trước nạn xâm lăng của ngoại bang những cuộc biểu tình trong nước chống giặc Tàu bị Công an đàn áp bắt bớ, giam cầm khủng bố làm cho người dân phải sợ hãi, phải đối mặt với cuộc đời, phải đối mặt với những nghịch cảnh, họ sống trong cảm giác sợ hãi không dám hòa mình vào dòng đời nhiều tai ương để đập tan chế độ độc tài CS. Chế độ làm người dân hèn nhát, thụ động. Dân tộc muốn tự cứu mình, chỉ còn cách thoát ra khỏi sợ hãi mà thôi. Nếu dân chúng một khi đã vượt qua nỗi sợ hãi cùng đứng lên và phải lên tiếng, như ở Ba lan, Ả Rập (Ai Cập) hàng trăm ngàn người cùng nổi dậy chống lại áp bức, bất công. Nhà cầm quyền có thể đàn áp một vài trăm người nhưng không thể đàn áp cả vạn, cả trăm ngàn như ở các nước Đông Âu biểu tình để giải thể đảng CS độc tài. Tuổi trẻ là tiềm năng, là sức mạnh đủ sức đập tan xiềng xích gông cùm để canh tân đất nước, đưa VN lên ngày vinh quang, tươi sáng. Tuổi trẻ Việt Nam hãy mau tiến lên như nhạc phẩm „Tuổi Trẻ Việt Nam“ của NS Anh Bằng trong Hùng Ca Sử Việt.
Tuổi trẻ mau tiến lên
hào hùng bước theo lời nguyện
Tuổi trẻ dâng hiến cho
hạnh phúc toàn dân
Tuổi trẻ vươn cánh tay
dâng đời sống trên công bình
Bài trừ bao bất công hà hiếp dân mình.

Đừng Sợ Hãi! Hãy vươn lên
Tranh đấu cho quê hương Việt Nam
niềm tin bác ái!
Đừng Sợ Hãi!, Xiết tay nhau..
Mang trái tim yêu thương Việt Nam vào đời!

Tuổi trẻ như mủi tên
nhằm diệt xấu xa bạo quyền.
Tuổi trẻ như nắng mai
bừng sáng màn đêm
Tuổi trẻ như đuốc thiêng
cùng sưởi ấm tim người hiền
Tuổi trẻ như sóng xô
vùi lấp đê hèn………..

(Mời độc giả thưởng thức)
Thời gian gần đây nhà cầm quyền CS bắt đầu lo sợ sự „tự diễn biến“ và tỏ ra bối rối khi dân chúng ý thức được quyền con người muốn thoát khỏi sự kìm kẹp và cai trị của mình, bài học lịch sử ở Balan với Công Đoàn Đoàn Kết không cần nổ tiếng súng nào. Họ đã mở ra kỷ nguyên mới có tự do, dân chủ và nhân quyền đầu tiên tại Ba Lan. Bởi vậy đảng CSVN thường sử dụng các phương pháp hạn chế tin tức, tìm mọi cách để bịt miệng các nhà hoạt động tranh đấu ôn hòa, cổ vũ cho nhân quyền đòi hỏi cải tổ chính trị, dân chủ và bảo vệ môi trường tại Việt Nam. Vì những diễn biến đó CSVN cho là mối đe dọa đối với nhà nước. Họ dựa vào những điều luật soạn thảo mơ hồ về an ninh quốc gia là điều 79 của luật hình sự cấm cản cho rằng những hành vi trên nhằm “lật đổ chính quyền”, để khởi tố những ai thực thi quyền làm người căn bản. Báo chí theo lề phải là công cụ của đảng CS. Người dân biểu tình phản đối Trung Cộng xâm chiếm đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, bắn giết đồng bào mình thì bị đàn áp, bắt giam, đó là cái hèn của những người cầm quyền chỉ biết vinh thân phì gia. Mong rằng những người còn lương tâm kể cả đảng viên CS biết yêu quê hương và dân tộc VN cần phải lên tiếng mỗi ngày một nhiều hơn để cứu lấy tiền đồ của dân tộc mà tổ tiên bao đời đã hy sinh biết bao là xương máu.
Đừng im tiếng mà phải lên tiếng
Trường Sa là máu của ta.
Hoàng Sa là thịt của ta.
Đất nước ta là xương là máu ông cha để lại.
Quân bành trướng đừng mong xâm lấn.
Kia, còn bao mồ chôn quân Tống.
Hỏi quân thù?
Hỏi quân thù còn nhớ hay không?

VIỆT NAM nòi giống Lạc Long.
Cùng nhau thề nguyền ĐỒNG TÂM.
Quyết đứng lên dựng xây Tổ Quốc thân yêu TRƯỜNG TỒN.

Không để đất vào tay quân cướp.
Dân tộc ta vùng lên anh dũng.
Sống oai hùng. Sống kiên cường đòi lại Biển Đông.

ĐỪNG IM TIẾNG – MÀ PHẢI LÊN TIẾNG!
Khi quân thù vào cướp QUÊ HƯƠNG.
Đoàn kết lại!. Tiêu diệt bá quyền thâm độc vô biên.

ĐỪNG IM TIẾNG – MÀ PHẢI LÊN TIẾNG!
Khi quân thù giết hại dân ta.
Dòng máu VIỆT đã đổ chan hòa trên biển nước ta.

Đừng im tiếng – mà phải lên tiếng!
Đừng im tiếng – mà phải lên tiếng!
Mà phải lên tiếng!!!

(Tiếng hát của Ca đoàn Ngàn Khơi ASIA DVD)
Nhìn lại kinh nghiệm lịch sử cuối thế kỷ 20, đảng CS Balan muốn giải thể Công Đoàn Đoàn Kết (Solidarnosc/ Solidarität). Ngày 13-12-1981 nhà cầm quyền cộng sản Ba Lan sử dụng đến biện pháp ban bố tình trạng chiến tranh. Họ để lộ rõ là một chế độ độc tài bạo ngược. Công đoàn bước vào một giai đọan vô cùng khó khăn. Bị đặt ra ngoài vòng pháp luât, bị khủng bố trắng. Hơn 10.000 cán bộ các cấp của Công Đoàn bị bắt, 56 người bị bắn chết hoặc tra tấn đến chết, 4.000 người bị đưa ra các tòa án xét xử với những bản án phi luật pháp. Huy động một lực lượng quân sự hùng hậu, với 70.000 lính, 30.000 công an và nhân viên an ninh, 1.750 xe tăng, 14.000 xe cơ giới, nhiều máy bay trực thăng và vận tải các loại. Nhưng họ không tiêu diệt được lòng yêu nước tiên phong trong cuộc đấu tranh đòi hỏi dân chủ và quyền con người tại các quốc gia cộng sản Đông Âu.
Cả Nước Đấu Tranh
Cả nước đứng lên oai hùng,
Cả nước tiến lên không ngừng,
Thề tòan dân thương nhau,
Lời thề ghi bằng máu,
Quật cường đi tranh đấu đuổi quân Tàu,

Ðuổi lũ ác ôn điên rồ,
Cả nước nói lên căm thù,
Thù giặc kia vô lương,
Thù chủ trương bành trướng,
Thù cướp biển quê hương

Ai đã cấm dân hờn quân xâm lăng?
Ai đã bắt quân vội vàng đầu hàng?
Ai cướp bút anh trên trang nhật báo,
Cướp trái tim tôi khi Việt Nam thương đau.

Tổ quốc chúng ta anh hùng,
Cả nước đấu tranh kiên cường,
Vì tình yêu non sông vì tình thương nòi giống, vượt sóng đòi biển Đông…

(Tiếng hát của Ca đoàn Ngàn Khơi)
Lời ca tiếng hát đã đi vào lòng người, khơi gợi mỗi chúng ta tình yêu quê hương, yêu tổ quốc, nhất là trong hoàn cảnh dầu soi lửa bỏng hiện nay. Hai nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình bị nhà cầm quyền CSVN bắt cuối năm 2011 kết án từ 4- 6 năm tù, nhưng CSVN thất bại không thể bỏ tù lý tưởng của những người yêu nước chống lại nhà cầm quyền bằng tiếng nói lương tâm trước hiện tình đất nước. CSVN khó đối phó hơn khi người dân ý thức về dân chủ và cảm thấy biểu tình là quyền, là ý thức của mình trước mọi vấn đề đang xảy ra trong đời sống xã hội, quốc gia, nhất là vấn đề ấy liên quan đến vận mệnh đất nước vượt sóng đòi biển Đông. Trong dòng nhạc của nhạc sỹ Anh Bằng với hình ảnh quê hương qua những đồi sim, luỹ tre xanh, Hà Nội- Sài Gòn mênh mông gió lộng, hình ảnh đẹp mưa nắng trên quê hương yêu quý và ấp ủ lòng người. Nỗi lòng của NS. Anh Bằng đối với hồn thiêng sông núi và trách nhiệm của mọi người phải chiến đấu để bảo vệ non sông gấm vóc từ Nam quan đến tận mũi Cà Mau.
Tình cảm của nhạc sĩ Anh Bằng trong bạn bè luôn được trân quý như nhiều người đã tâm sự. Dù tuổi gần 90 bị lãng tai nhưng tinh thần còn sáng suốt, minh mẫn… Tôi chưa có dịp gặp người nhạc sĩ tài hoa, vui tính nầy, nhưng cảm nhận được tấm lòng của ông trong năm 2011 đã gởi tặng tôi DVD “Anh Bằng Dòng Nhạc Lưu Vong”, “Anh Bằng Một Đời Cho Âm Nhạc”, và tác phẩm “Anh Bằng Dòng Nhạc Trong Lòng Dân Tộc”. Cầu xin Thiên Chúa ban phước lành cho thiên tài Anh Bằng nhiều sức khỏe sống đến 118 tuổi tiếp tục sáng tác cho đời và nhìn thấy VN một ngày mới tươi đẹp như ước mơ trong những ca khúc của ông.
©Nguyễn Quý Đại
=====
Mời độc giả nghe lại những nhạc phẩm đã đi vào lịch sử của nền âm nhạc
- 15 tình khúc của nhạc sĩ Anh Bằng
- Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ cuả NS Nguyễn Đức Quang
- Triệu COM TIM của NS Trúc Hồ
- Việt Nam Việt Nam của NS Phạm Duy
- Việt Nam tôi đâu do chính tác giả Việt Khang trình bày.
- Anh Là Ai của NS Việt Khang
Nước mắt Quê Hương
==
1. Anh Bằng, Phạm Duy, Vĩnh Điện, Châu Đình An, Từ Công Phụng, Lê Văn Khoa, Lê Dinh, Trần Quang Hải, Lê Mộng Nguyên, Võ Tá Hân, Ngô Thuỵ Miên, Nam Lộc, Nguyệt Ánh, Việt Dzũng, Trúc Hồ, Quách Vĩnh Thiện, Cao Minh Hưng, Cẩm Hoa, Vũ Thành An, Đức Huy, Diệu Hương, Phạm Anh Dũng… Các cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, Trần Thiện Thanh, Nhật Ngân, Duy Khánh, Tùng Giang, Nguyễn Đức Quang, Hoàng Thi Thơ, Phạm Đình Chương…(xin lỗi thiếu sót tên của những nhạc sĩ khác) và nhiều nhạc sĩ thuộc thế hệ trẻ trưởng thành ở hải ngoại sáng tác rất mạnh, nhạc hay nhưng lời còn thiếu tình tự quê hương.
2. Nhạc sĩ Anh Bằng lãng tai nhưng tiếp tục sáng tác. Ngày xưa nhà soạn nhạc Beethoven sinh năm 1770 đến năm 1818 bị điếc thời đó chưa có máy trợ thính phải dùng bút đàm, ông không thể điều khiển dàn nhạc giao hưởng nhưng ông tiếp tục sọan „Bản giao hưởng số 8 và số 9“. Bản số 9 của Beethoven là tác phẩm được nhiều người biết đến là một bản thánh ca về cuộc sống con người, với lối diễn đạt hết sức thoải mái, các tâm trạng khác nhau với thế giới nội tâm.. Lãng tai nặng hay điếc mà soạn nhạc là một thiên tài, Beethoven qua đời vì bạo bệnh hưởng thọ 56 tuổi, ông là người dọn đường từ thời kỳ âm nhạc cổ điển sang thời kỳ âm nhạc lãng mạng, được khắp nơi công nhận là nhà soạn nhạc vĩ đại nhất và có ảnh hưởng tới rất nhiều những nhà soạn nhạc, nhạc sĩ về sau…
nguồn:http://www.danchimviet.info/archives/72635/noi-long-cua-nhac-si-anh-bang/2013/01
======================================================================
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
          Sẽ xóa những comment nói tục
          Thinhoi001
Phạm Duy, thôi thế cũng xong

|
Pham Duy
Như vậy là ông đã ra đi, sự ra đi này sẽ vinh quang biết bao nếu cuối đời ông không có những lầm lẫn, nhiều người vẫn lấy làm tiếc cho điều này.

Nói về nhạc của ông thì nó mênh mông quá, ảo diệu quá, rất nhiều người đã viết về ông với sựcông nhận ông là cây đại thụ của nền âm nhạc Việt Nam, ta hãy chùng lòng xuống với:” đường về đêm đêm mưa rơi ướt bước chân em…” ” ngày đó có em đi nhẹ vào đời…”
Phạm Duy đã có biết bao nhiêu người viết về ông, trải dài một đời theo thăng trầm của đất nước, ông đã chứng kiến lịch sử, sự đổi thay cuộc đời bằng trái tim của người nghệ sĩ, như ông viết:” khóc cười theo vận nước nổi trôi” Ông sống nhiều, viết nhiều và nhạc của ông trải rộng trên ba miền đất nước, ngay từ hồi còn nhỏ, tôi đã nghêu ngao: chiều ơi lúc chiều về…, rồi lớn lên theo cùng với những giòng nhạc của ông, 1954 di cư vào Nam thì có Ngày trở Về, ngày trở về của người thương binh gặp lại mẹ già, gặp lại người yêu vừa bi tráng, vừa hào hùng, đau khổ thay, bản nhạc này được ông làm tựa đề cho một chương trình nhạc của ông khi xin về sống Việt Nam. Ngày trở về lê lết của một kẻ ăn mày, ăn xin, như một lời xin lỗi, vâng ,hôm nay người lầm đường lạc lối đã trở về, xin tạ tội với mọi người, đến nỗi gì mà phải quỵ lụy như thế, vậy ra trong những nét nhạc thanh thoát của ông, những rung động tuyệt vời đó là sự bao phủ cho một đầu óc ươn hèn, một cái điều bình thường mà người có chút liêm sỉ không thể làm được.
Ngày ông trở về Việt Nam, nhiều người đã lý giải nguyên do một cách khác nhau, người ta cho vì bài thơ Về đi thôi của Lưu trọng Văn, con của nhà Lưu trọng Lư: về thôi, về thôi, làm gì có trăm năm mà đợi làm gì có kiếp sau mà chờ, người thì bảo do Chế lan Viên chiêu dụ, người dễ dãi thì bảo về để kiếm tiền, người thì bảo về để kiếm vợ (do cái tính lăng nhăng của ông), nhưng theo tôi, nguyên do thúc đẩy ông trở về VN là bởi sự ẩn ức, khi Cộng sản dần dần cho hát lại nhạc của nhiều người sáng tác ở miền Nam trước 1975, ngay cả người có nhạc ca tụng người lính của Quân lực VNCH như Trần thiện Thanh thì nhạc của Phạm Duy vẫn tuyệt đối cấm, không một bài nào được trình diễn dù là những bản nhạc ca tụng thời ông tham gia kháng chiến, sự mong muốn trở về càng mãnh liệt hơn khi ông nhận được cuốn băng, cuốn băng chỉ là một cuộc phỏng vấn một lão bà có con được gọi là liệt sĩ vì đã hy sinh trong cuộc chiến, khi người phỏng vấn hỏi cụ già này muốn nói gì nữa không thì bất chợt bà cất tiếng hát: ai có nghe tiếng hát hành quân xa, mà không nhớ thương người mẹ già…đây là bài hát Nhớ người ra đi, Phạm Duy làm trong thời còn tham gia kháng chiến. Khi nghe được cuốn băng này, PD đã thốt lên: bao nhiêu năm rồi, họ còn nhớ tôi như vậy sao?!
Như trên tôi nói rằng ông bị ần ức vì một gia tài nhạc đồ sộ như thế, những bài hát hay như thế mà lại chỉ được hát ở hải ngoại có vài triệu người, trong khi khối hơn 80 triệu thì hoàn toàn không được cất lời ca cùng ông, và 30 năm đã qua, những người ở VN thuôc lứa tuổi 30, 40 hầu như không biết, không nghe gì về Phạm Duy và ông đã bị chúng hạ gục. Nhưng một người đã thành danh như vậy, đến cuối đời rồi, cần gì phải bon chen, ông là sao Bắc Đẩu ai cũng biết, Bắc Đẩu thì luôn phải rực sáng chứ không thể biến mình thành lu mờ vì cái danh mà mình đã có.
Bây giờ ta xét tới tại sao VC cho Phạm Duy trờ về, người mà đã bỏ chúng ra đi, nhưng từ khi về thành cho tới 1975, ông không đá động gì tới họ, ông miệt mài sáng tác nhạc, quãng thời gian ông theo kháng chiến coi như một đoạn đời đã xong, một dòng nhạc đã sang trang.
Thế nhưng 1954 ông đã không nói gì về hơn một triệu người di cư lánh nạn CS, không nói gì về cuộc chém giết khốc liệt miền Bắc đem vào miền Nam, trừ bản nhạc độc nhất nói về Phạm phú Quốc thì 1975, sau khi phải bỏ chạy một lần nữa, ông đùng đùng thóa mạ bọn chúng, đây là những bản nhạc ông sáng tác sau khi qua được Mỹ:
Một ngày năm bốn cha lìa quê hương
lánh Bắc, vô Nam, cha muốn xa bạo quyền
……………………………………………………….
Một ngày bẩy lăm đứng ở cuối đường
loài quỷ dữ xua con ra đại dương
……………………………………………………….
Ở bên nhà em không còn đứng đợi chờ anh
Ở bên này anh căm thù lũ Cộng tàn hung

Ông cũng đã phổ nhạc một bài thơ có lời như sau:
Từ vượn lên người mất mấy triệu năm
Từ người xuống vượn mất bao nhiêu năm?
xin mời thế giới tới thăm
những trại tập trung núi rừng sâu thẳm
tù nhân ở truồng từng bầy đứng tắm
rệp muỗi ăn nằm hôi hám tối tăm
khoai sắn tranh dành, cúm, bắn, chém, băm
đánh đập tha hồ, chết quăng chuột gặm
Loài vượn này không nhanh mà chậm
khác vượn thời tiền sử xa xăm
chúng đói, chúng gầy như những cái tăm
và làm ra của cải quanh năm
xin mời thế giới tới thăm.

Với những bài nhạc như thế, chửi chúng như thế, sao VC vẫn cho ông ta về, và ông ta can đảm dám xin về, đáng lý sự căm thù càng phải chồng chất thêm chứ, suy ra, cả Nguyễn cao kỳ, Phạm Duy đều là công cụ cho chúng lợi dụng tuyên truyền, một mặt chúng được tiếng là xóa bỏ hận thù cho thế giới nhìn thấy, một mặt, chúng đánh phá Cộng Đồng Hải Ngoại, chia rẽ các tổ chức chống Cộng để các đoàn thể nghi kỵ lẫn nhau.
Nào phải chúng ưa gì Nguyễn cao Kỳ hay Phạm Duy, chẳng qua chúng ráng ngậm bồ hòn làm ngọt để đạt được mục đích nói trên. Kỳ hay PD có về thì có làm gì lợi cho bọn chúng đâu, hay chế độ đó đã qua thời kỳ quá độ để đi lên Chủ nghĩa bóc lột, qua thời kỳ chúng cần hồng hơn chuyên, cả cái đảng đó giờ chỉ nghĩ đến là chuyện vơ vét tiền cho chặt túi.
Có điều với một người sống nhiều như PD, ông ta phải có những nhận thức bắt buộc, thí dụ những bản nhạc ông làm có phải là do sống trong chế độ Tự Do ông mới có cơ hội để sáng tác, hẳn ông cũng biết những người bạn cùng thời với ông như Văn Cao, Đoàn Chuẩn Từ Linh… họ đã không thể còn làm được gì khi mà các tác phẩm đều bị chỉ đạo, phải có tính Đảng, tính Dân tộc.
Bây giờ, chúng ta nghe những lời trần tình của Phạm Duy nói lý do sự trở về của ông:
…. Sau 30 năm ở miền Bắc nước Việt, khi đất nước bị chia đôi, tôi phải di cư vào Nam; sau 24 năm ở Sài Gòn, khi quê hương đã thống nhất, tình hình còn căng thẳng, tôi phải qua sống tại Mỹ trong 30 năm, khi tôi đã 80 tuổi, tình hình trong nước đã ổn định, tôi muốn được trở về quê hương, sống nốt quãng đời còn lại.
…..với ý nghĩ chim bay về tổ, lá rụng về cội, cái khát khao – hay khắc khoải- cuối cùng của tôi là được trở về sống chết ở quê mình…
Tôi trở về vì tôi yêu nước…(không hiểu ông có biết câu: yêu nước là yêu XHCN không nhỉ?!)
Nếu quả thực chỉ thuần túy là ao ước của chiếc lá muốn rụng về cội thì cũng được đi, cũng là những ao ước của nhiều người năm xưa, bỏ nước ra đi ở khoảng tuổi 30, nhưng trở về là khi không còn chế độ CS ở đó.
Tuy vậy, sự trở về cũng chẳng suông sẻ gì, một bài báo đăng trên tờ Đầu Tư, người viết tên Nguyễn Lưu đã viết như sau:
Dân tộc VN có tình lý: đánh kẻ chạy đi, không đánh kẻ chạy lại. Tuy nhiên ” không đánh kẻ chạy lại” cần được hiểu thêm rằng : kẻ chạy lại là ai, và ” không đánh ” có nhất thiết đống nghĩa với việc xem người đó là thần tượng, là nhân vật tiêu biểu để đón rước trọng thể? Tôi muốn nói tới trường hợp của nhạc sĩ Phạm Duy, người mới được xưng tụng sau đêm nhạc Ngày Trở Về.
Một người nữa là nhà văn Chu Lai đã viết trong Tạp chí Thế Giới:
Một người từng bỏ kháng chiến theo Thực dân Pháp, khi Pháp rút lại theo Ngô Đình Diệm và khi Ngụy quyền sụp đổ lại chạy qua Mỹ. Và tại đó đã viết hàng loạt bài kêu gọi chống Cộng, với giọng điệu sặc mùi hiếu chiến, nay thấy VN vươn lên mạnh mẽ(!), lại xin trở về! hà cớ gì phải tung hô, xưng tụng đến thế?
Hai bài viết này không phải là tự phát, bắt nguồn từ sự ganh tức, các bài viết trên các tờ báo của CS phải có sự chỉ thị và được kiểm duyệt. Với sự còn mang đầy căm tức như vậy, liệu những điều họ hô hào ” xóa bỏ hận thù ” hay ” khép lại dĩ vãng ” ta có tin được không? Thật ra nhưng lời hô hoán trên cộng với nghị quyết 36 chỉ là những mồi chài để người Việt Hải ngoại đem tiền về đầu tư. “Các anh thấy nhé, Phó Tổng Thống của các anh là Nguyễn cao Kỳ, nhạc sĩ PD còn thong thả trở về thì các anh có gì phải lo ngại “. Phải, đừng có lo ngại gì hết, cứ mang tiền về, gây dựng được cơ ngơi xong, chỉ việc chụp cái mũ trốn thuế, thế là các anh bỏ của chạy lấy người, ta chỉ việc nhẹ nhàng tiếp thu thôi.
Một người nữa là Việt Quang viết có hơi buồn cười: “giá ông ấy (PD) đừng bỏ kháng chiến về thành thì giờ này biết đâu ông chẳng là Bộ Trưởng Văn Hóa “. Giả như PD còn ở lại đó thì thật là một mất mát to lớn cho Việt Nam, làm sao có được những bài hát rung động lòng người trong những ngày ông sống ở miền Nam, ở lại, chắc ông sẽ là một Tố Hữu trong âm nhạc, cùng lắm có được vài bản nhạc đại loại như “Cô gái vót chông ” hay “Tiếng đàn Ta Lư “, ở lại, với khả năng phổ thơ tuyệt vời, ta sẽ khốn khổ nghe những bài hát như :” yêu biết mấy khi nghe con tập nói, tiếng đầu lòng con gọi Sít ta Lin “… Để mong được sự chiếu cố, mong lấy lòng nhà nước CS, Phạm Duy đã trơ tráo nói:” bọn ở Hải ngoại bảo tôi là người chống Cộng? chống gì, tôi chỉ có chống gậy thì có”, hình như ông ta không cho là mình đã làm những bài nhạc tôi dẫn chứng ở trên, hoặc ông ta có thể nói với bọn VC là những bài nhạc đó là của một PD thời kỳ sai đường lạc lối, lúc ” chưa đủ chín chắn”, để chúng tin ông hơn, ông ta đã thốt lên những lời như thế này:” Ba mươi năm (1975 – 2005), một đêm dài, tỉnh dậy thấy mặt trời, tôi đã quên tất cả,” quên gì, lạ thật, quên bao nhiêu năm tháng êm ấm ở miền Nam, nơi nuôi dưỡng ông để viết nhạc? quên cả những lời chửi bới bọn chúng hay sao! với một người dễ quên tất cả như vậy, có đáng tin không? biết đâu, một ngày nào đó, sau vài năm sống ở VN, ta lại nghe ông ta thốt lên: ” mấy năm, một đêm dài, tỉnh dậy thấy mặt trời, nhưng mặt trời u ám quá, tôi lại quên tất cả”. Ta có mở rộng vòng tay ra nữa không, có thể nhưng ngán ngẫm quá. Như vậy suy ra, Trịnh công Sơn, Văn Cao… hóa ra lại là những người có tư cách hơn Phạm Duy nhiều, họ đã chọn một lý tưởng cho họ, nhưng khi biết là điều họ chọn đã không đúng, họ cam chịu, không trâng tráo lật lọng, không thò lò muôn mặt. Để được VC cho về mạnh mẽ hơn, PD đã lải nhải:” bọn họ bảo là tôi ở phía họ, nay sao lại bỏ đi, tôi ở phía họ bao giờ?”, với tư cách con người như vậy, ta cũng chẳng nên buồn, khi ông ta cầm cái hộ khẩu tên ông ta, chụp hình cười toe toét như có ý nói rằng ta đã tìm được chân lý, được nhà nước chính thức chấp nhận cho ta trở về rồi đấy, ôi mừng lắm thay.
Không những tráo trở mà còn ươn hèn, ông ta đã cúi đầu nghe những lời khuyên bảo như một người Công giáo thành khẩn lắng nghe sự khuyên bảo của ông Cha khi vừa xưng tội xong, ông vâng dạ với những người mà năm xưa khi ông theo kháng chiến, những người này chưa ra đời, những kẻ trong ban Văn hóa Thành phố chỉ bằng một phần ba tuổi đời của ông, cũng may, những người này không biết nhiều về ông, còn lớp cùng tuổi như ông, lớp người căm thù ông thì nay đã chết cả rồi, nếu không, chưa chắc ông đã được về. Ông ta không có được một chút đởm lược như Hoàng Cầm :” tôi bỏ đảng, họ không cho, bắt tôi phải làm đơn xin, tôi không xin, muốn bỏ là bỏ ”
Tôi có coi cuốn DVD Ngày Trở Về của ông trình diễn tại Sài Gòn mà ông là người dẫn giải chương trình (MC), tôi thấy tội nghiệp cho ông khi cố kể lể những gì mình từng tham gia thời kháng chiến, nhất là những bản nhạc chẳng dính líu gì tới kháng chiến như bài Thuyền viễn xứ, bài hát được phổ từ thơ của Huyền Chi mà câu” sóng Đà Giang, thuyền qua xứ người”, ông bảo rằng thuyền đã lầm lỡ đi ra xứ người (Hải ngoại), giờ quay trở về, tội nghiệp thay, thời của nhà thơ Huyền Chi thuyền có đi xa lắm thì cũng chỉ là đi sang làng bên hay tỉnh bên, thế đã là viễn xứ rồi, làm gì mà thuyền có thể đi qua xứ người như Mỹ. Cũng vậy, bài Quê nghèo của ông, ông rên rỉ rằng lời bài hát đó thực ra nó như thế này:”… bao giờ anh lấy được đồn Tây, hỡi anh” mà từ trước ta chỉ biết lời hát đó như sau:” bao giờ cho lúa được mùa luôn, lúa ơi”, cho là lời hát nguyên thủy ông làm lúc theo kháng chiến thì nó là như vậy, nhưng tội nghiệp cho ông, cố gắng kể lể nhưng khi hát câu đó, Quang Linh vẫn hát: bao giờ cho lúa được mùa luôn, lúa ơi”. Có xấp mình xuống, đọc hàng ngàn kinh ăn năn tội, ông cũng không thể làm sạch mình được, không sạch với bọn chúng, còn thì dơ bẩn vô cùng với những người trước giờ đã ngưỡng mộ ông. Trước đây, tôi cứ nghĩ rồi ông sẽ đi vào văn học sử, nhưng nay, có điều cần suy nghĩ lại, lịch sử sẽ phán xét, có nhiều người ở đây vẫn còn ngưỡng mộ nhạc của ông, đúng ra ông xứng đáng có tên trong văn học sử, Hữu Loan chỉ có một bải thơ mà còn được người đời nói nhiều như vậy huống chi cả một gia tài nhạc đồ sộ của ông, nhưng nay, người ta có chút ngại ngần khi muốn nêu tên ông.
Chắc chắn cái chết của ông, nhà nước CSVN không nói gì nhiều, ai lại vinh danh kẻ phản bội mình, cho về nước đã là cố gắng lắm rồi, còn ca tụng ư, không bao giờ, có lẽ ông cũng sẽ chẳng được ai xưng tụng mình, cả phía bên này lẫn phía bên kia vì sự tráo trở của ông. Từ ngày ông về, không biết có sáng tác được bản nào hay ho không, tôi chỉ được nghe hai bài ông viết toàn là nói về tình dục, bài thứ nhất tên ” Thiên duyên tình mộng “, bài thứ nhì: Đêm hôm đó, cũng là nói về dục tính, thôi cũng được, còn hơn là ca tụng bác và đảng, có lẽ bọn chúng có căn dặn ông ta rồi, muốn làm nhạc gì thì làm nhưng có không được làm những bài nào ca tụng đảng, điều này nếu không dặn có thể PD sẽ làm, với bản chất con người như vậy thì bảo gì mà không được, nhưng chúng không cho ca ngợi vì thấy trơ trẽn quá, trước đây đã phản và chửi lại bọn chúng, giờ mà bốc thơm chẳng khác gì Judas ca ngợi Chúa.
Dù cay đắng cùng tận với Phạm Duy. tôi phải nhìn nhận ông là một thiên tài, cho nhiều năm sau này, chưa chắc đã có được một PD thứ hai, thôi thế cũng xong, nhưng tiếc quá, ông là cây cổ thụ mà tôi hằng ngưỡng phục, có thể về sau người ta vẫn hát nhạc của ông nhưng lời hát làm người ta bớt rung động đi nhiều, cũng tiếc quá, không biết ông có đọc cuốn:” Hồi ký của một thằng hèn” của Nhạc Sĩ Tô Hải không? nay ông chết rồi, giá ông sống thêm được ít nữa, biết đâu chúng ta lại chẳng có dịp đọc một cuốn Hồi ký nữa, đó là cuốn Hồi ký: Sự trở về của một thằng hèn. Duy Quang, con ông vừa mới chết, chết vì nghe theo ông về VN để lây bệnh viêm gan, một thứ bệnh rất phổ biến ở VN, nay tới ông, người ta bảo nghĩa tử là nghĩa tận, nhưng có những cái tận cần phải nói. Nghìn trùng xa cách, người đã đi rồi.
Trần Như Xuyên
nguồn:http://www.danchimviet.info/archives/72623/pham-duy-thoi-the-cung-xong/2013/01
======================================================================
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
          Sẽ xóa những comment nói tục
          Thinhoi001
Việt Nam học được điều gì qua vụ Phi kiện Trung Quốc?

|

Ảnh Bauxite VN
Ảnh Bauxite VN

Ý kiến về việc kiện TQ ra một trọng tài quốc tế là không mới. Nhiều học giả trong quá khứ đã từng đặt vấn đề. Monique Chemillier-Gendreau qua hồ sơ « La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys » hay Brice M. Claget thuộc tổ hợp luật sư Covington&Burling qua tập hồ sơ « Những yêu sách đối kháng của Việt Nam và Trung Quốc ở khu bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long »… là những thí dụ điển hình. Đây là những công trình nghiên cứu khoa học, có thể đặt làm nền tảng lịch sử và pháp lý cho hồ sơ của VN. Tuy nhiên, các hồ sơ này khó có thể áp dụng nguyên trạng, VN có thể thua kiện (hay bị thiệt hại) vì hồ sơ pháp lý của VN có khiếm khuyết. Lý ra, hồ sơ này cần được các học giả VN nghiên cứu sâu xa thêm để bổ túc.

Vụ Phi đệ đơn kiện Trung Quốc đầu tuần trước đã làm nóng lại vấn đề kiện tụng.
Học giả VN đã khen rằng «Phi đã rất khôn ngoan», cho rằng Phi đã «lách qua một khe cửa hẹp» của Luật quốc tế về Biển.
Thực ra thì chẳng có gì khôn ngoan trong việc này. Vì đây chỉ là một thủ thuật khá đơn giản của giới luật gia. Một người bình thường, không phải là chuyên gia về luật Biển, sau khi nắm được những gì mà phía Trung Quốc bảo lưu, chỉ cần nghiền ngẫm bộ Luật quốc tế về Biển 1982 và tham khảo một số vụ án mẫu của các Tòa quốc tế, cũng có thể thấy được kẻ hở này.
Xét hồ sơ kiện của Phi, nguyên nhân của vụ kiện là đặt trên việc diễn giải giải khác nhau giữa các bên về một điều ước trong UNCLOS, ở đây là những vấn đề chung quanh cách diễn giải của điều 121. Tại sao Phi không kiện TQ về vấn đề chủ quyền và việc phân định ranh giới biển?
Bởi vì phía Trung Quốc, qua tuyên bố này 26-8-2006, đã bảo lưu như sau:
Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc không chấp nhận bất kỳ thủ tục nào được qui định theo mục 2, Phần XV của Công ước đối với tất cả các loại tranh chấp được ghi ở các khoản a), b) và c) của điều 298 của Công ước.
Tức là phía Trung Quốc từ khước các thủ tục giải quyết của Luật Biển, trong việc hoạnh định ranh giới các vùng biển hay tranh chấp về vịnh hay danh nghĩa lịch sử.
Từ sau vụ tàu Bình Minh bị cắt cáp, ngày 24-6-2011 tác giả có viết bài «Việt Nam cần điều chỉnh lại chiến lược biển Đông», có viết như sau:
« … khi việc diễn giải một điều ước trong bộ Luật biển giữa hai nước có mâu thuẫn, chiếu theo điều 286 của luật biển 1982, nếu tranh chấp không thể giải quyết bằng thuơng thuyết, các bên liên quan có thể đưa ra một trọng tài để xét xử. …Hiệu lực các đảo theo điều 121 có thể phân xử bằng một trọng tài quốc tế. Bởi vì, nếu các bên tranh chấp có những cách diễn giải đối nghịch nhau về một điều ước trong bộ Luật biển 1982, thì cơ quan có thẩm quyền giải thích các điều ước của bộ luật này là một trọng tài quốc tế. »
Ta thấy ý kiến của Phi đâu có mới mẻ gì, cũng đâu có «khôn ngoan» gì, (vì người viết còn viết ra được), như học giả VN đã nói? (Cũng thật phiền khi nghe học giả khác kể công rằng việc Phi kiện TQ là dựa trên ý kiến của mình!)
Vấn đề kiện tụng đặt ra đúng lúc. Tuy nhiên nhà nước VN hiện nay có chủ trương « khai thác chung » với Trung Quốc chứ không muốn giải quyết những tranh chấp.
Ngày 11-10-2011, hai bên Việt-Trung đã ký « Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa », theo điều 3 và điều 4:
3. Trong tiến trình đàm phán vấn đề trên biển, hai bên nghiêm chỉnh tuân thủ thỏa thuận và nhận thức chung mà Lãnh đạo cấp cao hai nước đã đạt được, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc và tinh thần của “Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC). Đối với tranh chấp trên biển giữa Việt Nam – Trung Quốc, hai bên giải quyết thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị. Nếu tranh chấp liên quan đến các nước khác, thì sẽ hiệp thương với các bên tranh chấp khác.
4. Trong tiến trình tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài cho vấn đề trên biển, trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, đối xử bình đẳng, cùng có lợi, tích cực bàn bạc thảo luận về những giải pháp mang tính quá độ, tạm thời mà không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của hai bên, bao gồm việc tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển theo những nguyên tắc đã nêu tại điều 2 của Thỏa thuận này
Việc « hợp tác cùng phát triển » là định hướng chủ đạo. Có thể vì vậy nên không có hồ sơ nào của học giả VN lập ra để bảo vệ những quyền lợi chính đáng của mình tại HS và TS bằng phương hướng luật pháp. Nhiều học giả Việt Nam, kể cả một tổ chức chính trị vừa mới được thành lập, cũng chủ trương « khai thác chung » với Trung Quốc. Vấn đề đặt ra là việc khai thác chung đó được đặt trên nguyên tắc nào ?
Đề nghị «gác tranh chấp cùng khai thác» không phải là mới, từ thập niên 90, đã có nhiều học giả nước ngoài đề nghị. Trong tất cả các đề nghị, không thấy giải pháp nào là «công bằng», không gây thiệt hại cho VN.
Nguyên tắc hợp tác giữa hai bên một mạnh một yếu là nguyên tắc của kẻ mạnh.
Trở lại vụ kiện của Phi, trên trang web của Bộ Ngoại giao Phi, có đăng bài giải thích vì sao Phi kiện TQ, dưới hình thức câu hỏi và câu trả lời. Trong đó có câu hỏi như sau:
Hỏi: tại sao chúng ta không khai thác chung với Trung Quốc?
Trả lời: việc khai thác chung, theo nguyên tắc của Trung Quốc đặt ra, thì trái ngược với luật pháp của Phi. Việc khai thác chung phải phù hợp với luật pháp của Phi.
Tức là, việc khai thác chung, lập trường của TQ trước sau không đổi, là nguyên tắc của Đặng Tiểu Bình : khai thác chung nhưng chủ quyền thì thuộc về Trung Quốc. Vì nếu TQ đồng ý khai thác theo quan điểm của Phi, việc khai thác chung đã thực hiện.
Như vậy, việc «khai thác chung» là trái với qui định của luật lệ của VN, giống như trường hợp của Phi.
Một câu hỏi và trả lời khác, cũng nên nghiền ngẫm, trong văn kiện giải thích vì sao Phi kiện TQ:
Hỏi: tại sao dân Phi cần ủng hộ hành động này?
Trả lời: nếu người ngoài vào nhà của mình, cướp đi một vật của mình, thì phản ứng của mình như thế nào? Hành động của chúng ta là nhằm bảo vệ lãnh thổ và vùng biển của tổ quốc mình.
Nếu cần phải khen hành động của Phi, thì nên khen ngợi những lập luận này. Những lập luận chính đáng này đã thúc đẩy Phi làm việc đó.
Mà ý kiến của các câu hỏi-trả lời này, từ rất lâu, nhiều lần, tác giả cũng đã viết với nội dung tương tự:
«Một tên cướp, vào nhà người ta đòi chia hai ngôi nhà với chủ. Trường hợp này chủ nhà sẽ “bảo vệ” chủ quyền ngôi nhà của mình hay là tìm phương pháp giải quyết “tranh chấp” với kẻ cướp?»
Điều tác giả muốn nhấn mạnh trong bài này, dường như khuynh hướng muốn VN kiện Trung Quốc tăng cao trong dư luận VN. Đây sẽ là điều tốt. Đánh một đối thủ mạnh hơn mình nhiều lần thì cần phải đánh liên hoàn, theo lối «quần hồ» vây «mãnh hổ». Nhưng có nhiều điều cần suy nghĩ lại.
Thứ nhứt, VN không nên hấp tấp kiện TQ ở Trường Sa. Hồ sơ Trường Sa tuy nóng nhưng phải giải quyết lúc «nguội», mà nên kiện ở vấn đề Hoàng Sa, một hồ sơ « đóng băng » vì để quá lâu. Mặt khác, chuyện Trường Sa nên để cho Phi giải quyết. Không phải vụ kiện của Phi cũng giúp cho VN giải quyết các vấn đề mấu chốt ở TS hay sao ?
Vấn đề nên nghiên cứu là VN sẽ kiện về cái gì ở Hoàng Sa và kiện ở đâu?
Vì thiếu thông tin từ nội bộ VN, người viết loáng thoáng nghe tin hiện hai bên Việt-Trung đang phân định vùng ngoài cửa vịnh Bắc Việt. Phía TQ đòi (?) chia theo đường trung tuyến, tính từ đường cơ bản quần đảo Hoàng Sa với bờ biển VN.
Việt Nam hiện nay «bí lối», không có lý lẽ nào để phản biện lại TQ về chủ quyền của nước này tại HS. Phương pháp mà VN đã và đang làm, là tìm cách làm giảm hiệu lực (theo điều 121, khoản 3 UNCLOS) các đảo HS để bớt thiệt hại. Đây cũng là việc mà các «học giả» VN đã và đang nỗ lực để làm.
Nhưng việc này cho thấy hoài công, ít ra là không có kết quả cho đến nay. Bởi vì, nếu mình không biết Trung Quốc muốn gì, các việc làm này sẽ chỉ kéo dài thời giờ, mà việc này càng gây khó khăn cho VN. Biết địch biết ta, địch mạnh hơn ta nhiều lần, chưa chắc thắng. Đằng này, địch mạnh hơn ta nhiều lần mà ta hoàn toàn không biết gì về địch. Kết quả ta chỉ có thua, mà thua cháy túi.
TQ chiếm HS và sẽ chiếm TS vì muốn kiểm soát toàn bộ biển Đông. Đó là « không gian sinh tồn » của TQ. Thuơng lượng với TQ để giảm hiệu lực các đảo HS và TS là làm việc viễn vông, mất thời giờ. Vì chủ ý của TQ là chiếm HS (và TS) là để thực hiện một chiến lược đã thành hình từ 6, 7 thập niên nay. Người viết đã nhiều lần cảnh báo.
Vấn đề là, VN không thể để TQ chiếm các đảo TS. Nếu họ chiếm, điều này đồng nghĩa với việc VN mất toàn bộ vùng biển của mình. Mặt khác, nếu không thể lấy lại HS, thì phải giảm thiểu những đòi hỏi quá lố của TQ ở vùng của vịnh Bắc Việt (và sau đó vùng biển các tỉnh miền trung).
Vấn đề HS, theo tôi, VN có thể áp dụng điều 284 UNCLOS để hòa giải với TQ qua trung gian một nước nào đó. VN có thể áp dụng các trường hợp như đã áp dụng tại vùng Địa Trung Hải, tách rời từng phần cột nước, thềm lục địa và chủ quyền các đảo, sau đó thuơng lượng với TQ từng vấn đề một.
Trước mắt là phân định cột nước. Ngư dân VN cần an ninh để khai thác vùng biển HS vì đó là ngư trường truyền thống. Nên thành lập một vùng «đánh cá chung» ở HS, như trong vịnh Bắc Việt.
Blog Trương Nhân Tuấn
nguồn:http://www.danchimviet.info/archives/72607/viet-nam-hoc-duoc-dieu-gi-qua-vu-phi-kien-trung-quoc/2013/01
======================================================================
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
          Sẽ xóa những comment nói tục
          Thinhoi001