
Nguyễn Hưng Quốc (VOA blog) - Hiếm
có cuốn sách về chính trị nào hấp dẫn như cuốn Bên Thắng Cuộc. Điều đó
có thể thấy qua những tiếng ồn nó gây ra trong mấy tháng vừa qua. Lâu
lắm rồi, giới cầm bút Việt Nam hầu như hoàn toàn bất lực trong việc gây
ồn. Hầu hết sách báo được xuất bản ở trong nước cũng như ở hải ngoại,
đặc biệt ở hải ngoại, đều rơi vào im lặng. Không phải chỉ là chuyện hay
hay dở. Mà chủ yếu ở tâm lý quần chúng: dửng dưng. Cuốn Bên Thắng Cuộc,
ngược lại, ngay từ lúc mới ra mắt ở hải ngoại, là đã gây ồn ào ngay. Kẻ
bênh người chống, bên nào cũng xôn xao và lên tiếng ỏm tỏi trên mọi diễn
đàn, từ trên giấy đến trên mạng. Những tiếng ồn ấy khiến cả những người
chưa đọc cuốn sách, hoặc có khi, không có ý định đọc cuốn sách, cũng
quan tâm, thậm chí, như ở California, xuống đường biểu tình đòi... đốt
sách!
Tôi có cuốn Bên Thắng Cuộc của Huy Đức đã khá lâu nhưng mấy ngày vừa rồi mới có thì giờ để đọc. Ấn tượng chung: Thích.
Thích nhất là về tư liệu. Đã có nhiều
người, Việt Nam cũng như ngoại quốc, viết về Việt Nam sau năm 1975 nhưng
có lẽ chưa có cuốn sách nào bao quát nhiều khía cạnh và dồi dào tư liệu
đến như vậy. Các cuốn sách khác, cho đến nay, dưới hình thức hồi ký hay
biên khảo, thường chỉ tập trung vào một lãnh vực và từ một góc độ cụ
thể nào đó. Bên Thắng Cuộc, ngược lại, hầu như đề cập đến mọi góc cạnh
lớn, từ quân sự đến chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, từ tổ chức
chính quyền tại Sài Gòn sau năm 1975 đến các chiến dịch đánh tư sản, các
trại cải tạo, phong trào vượt biên, các nỗ lực “xé rào” về kinh tế,
chính sách đổi mới, chiến tranh với Campuchia cũng như với Trung Quốc và
các cuộc tranh giành quyền lực trong nội bộ đảng Cộng sản. Ở từng vấn
đề, Huy Đức đều nêu lên thật nhiều chi tiết. Các chi tiết ấy thuộc hai
loại chính: Một, lời kể của các chứng nhân được thu lượm qua các cuộc
phỏng vấn hoặc qua các hồi ký - đã hoặc chưa xuất bản - của họ; và hai,
các tài liệu đã được công bố đây đó, bằng tiếng Việt cũng như bằng tiếng
Anh. Nguồn tài liệu thứ nhất được Huy Đức thực hiện với tư cách một nhà
báo; nguồn thứ hai, với tư cách một nhà nghiên cứu. Tôi cho sự kết hợp
giữa hai tư cách này là mặt mạnh nhất của Huy Đức đồng thời cũng là ưu
điểm chính của cuốn Bên Thắng Cuộc: Thường, các nhà báo Việt Nam chỉ
“tác nghiệp” theo lối kinh nghiệm chủ nghĩa, dựa trên những gì mình nghe
kể hoặc quan sát được; còn các nhà nghiên cứu thì lại thiếu thực tế, do
đó, hoặc chỉ xào nấu từ các cuốn sách khác hoặc phải sa vào tư biện, tệ
hại hơn nữa là tư biện kiểu Việt Nam: cứ lải nhải những luận điệu rặt
mùi tuyên truyền, tức những luận điệu ai cũng biết, hơn nữa, biết là
sai.
Trong Bên Thắng Cuộc, nguồn tài liệu từ
sách vở chỉ có tính chất bổ sung, chủ yếu để cung cấp số liệu và mở rộng
kích thước lịch sử, từ đó, tăng tính thuyết phục cho những vấn đề được
đề cập. Ví dụ, nói về cuộc họp mặt với khoảng 100 văn nghệ sĩ tại Hà Nội
của Nguyễn Văn Linh vào ngày 6 và 7 tháng 10 năm 1987, Huy Đức quay trở
lại với thời Nhân Văn Giai Phẩm, hoặc xa hơn nữa, thời Trường Chinh
viết “Đề cương văn hóa” năm 1943, thậm chí, một chút, về lịch sử báo chí
Việt Nam trước đó. Nói về kinh tế thị trường (lần đầu tiên được đưa vào
các văn kiện Đảng là năm 1991), anh quay trở lại vấn đề “lược sử kinh
tế tư nhân” ở Việt Nam từ cuối thế kỷ 19, đặc biệt, đầu thế kỷ 20, dưới
thời Pháp thuộc. Nói về các chính sách đối với người Hoa vào những năm
1978-79, anh quay lại quan hệ giữa Việt Nam (chủ yếu là miền Bắc) với
Trung Quốc trong Hiệp định Paris năm 1954 cũng như trong suốt cuộc chiến
tranh Nam Bắc thời 1954-75, bao gồm cả chuyện Hoàng Sa năm 1974, v.v..
Những tài liệu này, thật ra, không mới, nhưng chúng được trình bày một
cách gọn ghẽ, sáng sủa và mạch lạc, làm cho vấn đề có thêm bề dày của
lịch sử.
Nhưng mặt mạnh nhất của Huy Đức là ở tư
cách nhà báo. Không những chỉ là người làm báo lâu năm, anh còn có ba
đặc điểm mà không phải nhà báo kỳ cựu nào cũng có: Một, quan hệ rộng;
hai, có tầm nhìn dài; và, ba, có cách làm việc khoa học.
Tôi gặp Huy Đức một lần ở Hà Nội, hình như
là vào cuối năm 2002 hay đầu năm 2005 gì đó. Buổi sáng, tôi đang ngồi
uống cà phê với nhà thơ Phan Huyền Thư và nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên
thì anh và nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn đến nhập bọn. Phạm Xuân Nguyên
giới thiệu Huy Đức với tôi: “nhà báo, đang làm ở tờ Thời báo Kinh tế Sài
Gòn”. Lúc ấy, Huy Đức chưa có Osin blog, chưa có các bài bình luận
chính trị được phổ biến rộng rãi trên internet, cho nên, thú thật, tôi
không hề biết anh, kể cả cái tên. Mà Huy Đức cũng rất ít nói. Hôm ấy,
anh chỉ ngồi nghe bọn tôi nói hươu nói vượn về chuyện văn chương và
cười. Đến lúc Phạm Xuân Nguyên đọc một số bài ca dao mới chế giễu giới
lãnh đạo Việt Nam, trong đó, có cả Hồ Chí Minh, cả bọn cười ngất, riêng
Huy Đức thì lôi trong túi ra một cuốn sổ tay nhỏ và đề nghị Nguyên đọc
lại, chầm chậm, cho anh chép. Sau đó, trong suốt buổi nói chuyện, cứ hễ
bắt gặp một câu gì hay hay, một chi tiết gì thú vị, anh lại lôi sổ tay
ra chép. Cung cách làm việc của anh khiến tôi để ý. Và nhớ mãi.
Nhiều người trong giới nhà báo có ưu điểm
là biết rộng nhưng phần lớn lại mắc phải khuyết điểm là sa đà trong các
sự kiện có tính chất giai thoại vụn vặt, cuối cùng, chỉ viết được những
bài báo ngăn ngắn, đầy tính thời sự, để được đọc ngày hôm trước và bị
quên lãng ngay vào ngày hôm sau. Huy Đức, khi theo dõi và ghi chép các
tin tức hằng ngày, đã có tham vọng sử dụng cho một bức tranh toàn cảnh
về sinh hoạt chính trị Việt Nam thời anh đang sống. Cuốn Bên Thắng Cuộc,
gồm hai tập, “Giải phóng” và “Quyền bính”, như anh tiết lộ trong lời
nói đầu, được hình thành trong 20 năm, chính là kết quả của tham vọng
ấy.
Không phải nhà báo nào cũng có quen biết
nhiều, đặc biệt trong giới lãnh đạo, như Huy Đức. Ở Việt Nam, để có được
những quan hệ rộng rãi như thế, không những cần có tính cách thích hợp
(quảng giao) mà còn có cả yếu tố “nhân thân” nữa: Sinh trưởng ở miền
Bắc, vốn là sĩ quan, từng làm việc ở Campuchia với tư cách chuyên gia
quân sự trong hơn ba năm trước khi về làm báo, anh có đủ điều kiện để
được tin cậy. Chính vì thế, anh được báo Tuổi Trẻ giao trách nhiệm tường
thuật các kỳ họp Quốc Hội, ở đó, anh có thể, ở “những thời điểm nóng
bỏng nhất”, “vào tận phòng làm việc hỏi chuyện Thủ tướng Võ Văn Kiệt,
Thủ tướng Phan Văn Khải” hoặc “đến nhà riêng, văn phòng làm việc của
Tổng bí thư Đỗ Mười, Tổng bí thư Lê Khả Phiêu... phỏng vấn”. Trong “Mấy
lời của tác giả”, anh cho biết anh đã tiến hành “hàng ngàn cuộc phỏng
vấn”; và theo “Lời cám ơn”, chúng ta được biết, trong số những người
được anh phỏng vấn, ngoài các tên tuổi nêu trên, còn có Chủ tịch Nước Lê
Đức Anh, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, Đại tướng Võ Nguyên Giáp,
Thượng tướng Trần Văn Trà, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư Nông
Đức Mạnh, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Quốc hội Lê Quang
Đạo, Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết, Bộ trưởng Công an Lê Minh Hương,
Phó Chủ tịch Nước Nguyễn Thị Bình, v.v.. Cả trăm người. Toàn những người
lãnh đạo ở bậc cao nhất trong nước. Ngoài ra, anh còn phỏng vấn vợ họ,
con họ và các thư ký riêng của họ nữa.
Chắc chắn không có một nhà báo hay nhà
biên khảo nào ở hải ngoại, kể cả người ngoại quốc - vốn vừa ít bị nghi
ngờ vừa được các trung tâm nghiên cứu lớn tài trợ để có thể bỏ ra năm
bảy năm thu thập tài liệu cho một cuốn sách - có thể tiếp cận được đến
chừng ấy người trong giới lãnh đạo Việt Nam. Ở trong nước, làm được điều
ấy, cũng không phải dễ. Nhìn từ góc độ xuất bản, có lẽ Huy Đức là người
đầu tiên. Điều này trở thành một thế mạnh đầu tiên của cuốn sách: Đó là
chuyện kể từ những người trong cuộc của “bên thắng cuộc”. Tính chất
“trong cuộc” ấy đã tạo nên những đặc trưng về thể loại và thẩm mỹ của
cuốn sách.
Trong cái gọi là đặc trưng thẩm mỹ ấy, tôi chỉ xin tập trung vào một điểm: sự hấp dẫn.
Phải nói ngay: hiếm có cuốn sách về chính
trị nào hấp dẫn như cuốn Bên Thắng Cuộc. Điều đó có thể thấy qua những
tiếng ồn nó gây ra trong mấy tháng vừa qua. Lâu lắm rồi, giới cầm bút
Việt Nam hầu như hoàn toàn bất lực trong việc gây ồn. Hầu hết sách báo
được xuất bản ở trong nước cũng như ở hải ngoại, đặc biệt ở hải ngoại,
đều rơi vào im lặng. Không phải chỉ là chuyện hay hay dở. Mà chủ yếu ở
tâm lý quần chúng: dửng dưng. Cuốn Bên Thắng Cuộc, ngược lại, ngay từ
lúc mới ra mắt ở hải ngoại, là đã gây ồn ào ngay. Kẻ bênh người chống,
bên nào cũng xôn xao và lên tiếng ỏm tỏi trên mọi diễn đàn, từ trên giấy
đến trên mạng. Những tiếng ồn ấy khiến cả những người chưa đọc cuốn
sách, hoặc có khi, không có ý định đọc cuốn sách, cũng quan tâm, thậm
chí, như ở California, xuống đường biểu tình đòi... đốt sách!
Mà Bên Thắng Cuộc hấp dẫn thật. Đọc, chúng
ta biết được rất nhiều chuyện, từ những chuyện lớn liên quan đến chính
sách đến những chuyện nhỏ, có khi nhí nhách nữa, liên quan đến đời sống
hàng ngày của một số người. Lớn, ví dụ, những toan tính đằng sau các
chính sách hay chiến dịch có ảnh hưởng đến sinh mệnh cả hàng chục triệu
người; những thay đổi trong tính cách của Lê Duẩn: từ một cán bộ hay hy
sinh cho người khác đến một lãnh tụ chuyên quyền và độc đoán; trong thái
độ của Trường Chinh: từ một người giáo điều và bảo thủ đến một người đi
đầu trong phong trào đổi mới; trong chủ trương của Nguyễn Văn Linh: từ
một người đổi mới đến một người phản-đối-mới. Cũng có thể xem là lớn mối
quan hệ giữa các lãnh tụ với nhau, như giữa Lê Duẩn với Hồ Chí Minh,
Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp và Lê Đức Thọ; giữa Nguyễn Văn Linh với Võ
Văn Kiệt, những chi tiết liên quan đến cái chết của Đại tướng Lê Trọng
Tấn vào tháng 12 năm 1986 vốn, theo lời Huy Đức, bị “lịch sử phi chính
thống [...] xếp vào hàng nghi án” (“Giải phóng”- GP, tr. 151)... Còn nhỏ
thì nhiều hơn, có khi lôi cuốn người đọc hơn, chẳng hạn, chuyện vào
ngày 30/4/1975, trong Dinh Độc Lập không hề có chiếc máy ghi âm nào để
thu lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh (GP, tr. 23); chuyện các sĩ
quan Bắc Việt đầu tiên vào chiếm Dinh không dám bước vào thang máy vì
thấy nó giống cái... hòm và họ sợ bị nhốt luôn trong đó (GP, tr. 22);
chuyện khuya ngày 5/7/1967, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh bị mệt, được đưa
vào bệnh viện Quân y 108 để cấp cứu, nhưng vừa đến nơi thì ông “phát ra
một tiếng kêu ‘ặc’ rồi mặt và toàn thân tím ngắt”; mấy tiếng đồng hô
sau, ông mất... (“Quyền bính” - QB, tr. 64) Có một số chuyện không biết
là lớn hay nhỏ, như chuyện khi Hiệp định Geneva được ký kết, Thủ tướng
Phạm Văn Đồng, trưởng đoàn Bắc Việt, không hề biết sông Bến Hải nằm ở
đâu (vì tất cả đều đã được Trung Quốc quyết định giùm!) (GP, tr. 52);
chuyện Tôn Đức Thắng, Chủ tịch nước, vốn là thợ cơ khí, nhiều lúc rảnh
và buồn quá, lật “chiếc xe đạp của ông ra sửa để giết thời gian” (GP,
tr. 120); chuyện Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng, biết trước vụ
tổng tấn công hồi Tết Mậu thân chỉ có một ngày (QB, tr. 67); chuyện khi
đón tiếp Tổng thổng Bill Clinton trong chuyến thăm Việt Nam năm 2000,
“Bộ Chính trị đã thống nhất là không được cười” (QB, tr. 137), v.v..
Nhiều chuyện có thể đã được người này
người nọ kể đâu đó rồi. Nhưng theo chỗ tôi biết, chưa có nơi nào các
chuyện thuộc loại ấy được tập trung với mật độ dày đặc như trong cuốn
Bên Thắng Cuộc. Trang nào cũng đầy ắp chi tiết. Có những chi tiết không
dễ gì tìm được ở những nơi khác, ví dụ: Ở Sài Gòn, trước tháng 4/1975,
có bao nhiêu đảng viên Cộng sản nằm vùng? – 735 người! (GP, tr. 27) Cũng
ở Sài Gòn, sau tháng 4/1975, có bao nhiêu người ra trình diện để “được
đi học tập cải tạo”? – Có 443.360 người, trong đó, có 28 tướng, 362 đại
tá, 1.806 trung tá, 3.978 thiếu tá, 39.304 sĩ quan cấp uý, 35.564 cảnh
sát, 1.932 nhân viên tình báo các loại, 1.469 viên chức cao cấp trong
chính quyền, và 9.306 người trong các đảng phái bị xem là “phản động’
(GP, tr. 29), v.v..(Còn tiếp)
***
Chú thích: Số trang trong phần chú thích ghi theo bản “Smashworlds Edition” của Bên Thắng Cuộc.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Chú ý: Điền vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
Sẽ xóa những comment không phù hợp
Thinhoi001