Phong Cách Anh Hùng Của Tướng Phạm Văn Phú
Từ 1975 tới nay, có một số người viết
về Tướng Phạm Văn Phú, một cấp chỉ huy trong ngành LLĐB và Nhảy Dù cũ. —
San Jose có tờ báo cũng cho đăng bài của một sĩ quan cấp Tá, nặng lời
với một chiến hữu đã mất. Các cấp bậc của Tướng Phú đều được gắn tại mặt
trận, và ông cũng đã nhiều lần nếm mùi thất bại, cắt lon, giáng chức,
để cho có đủ…”khi vinh lúc nhục” của một đời binh nghiệp. Huyền thoại
Phạm Văn Phú đã được mỗi người nhắc tới một cách khác nhau. Ông đã chết
nên…ngoại trừ nhà văn Phạm Huấn, người cũng đeo bằng Dù trên ngực áo như
Tướng Phú, và đã sống cạnh ông trong những ngày cuối của 1974-1975, là
hơn một lần lên tiếng bênh vực cho cấp chỉ huy cũ khi ông Phú bị chỉ
trích. Nhà văn tiền bối Nguyễn Đông Thành, đeo cấp Trung Úy từ năm 1947
và là một cây viết chủ lực của cơ quan truyền thông thời Đệ Nhị Cộng Hòa
và các tờ báo đứng đắn tại hải ngoại hiện nay. Ông đã đúc kết về Tướng
Phạm Văn Phú (Đại Đội Trưởng và Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù năm
1953 tại Điện Biên Phủ) qua tài liệu khách quan nhất của những người
ngoại quốc có thẩm quyền và tiếng nói của họ có đủ giá trị để chúng ta
suy nghĩ.
Trương Dưỡng
Trương Dưỡng
Dù rằng có nhiệm vụ không thể thiếu sót là
làm theo lệnh trên, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, K8ĐL, Tư Lệnh Quân Đoàn 2
và Quân Khu 2, vẫn không chối được trách nhiệm về việc bỏ mất miền Tây
Nguyên và do thế tạo ra điều kiện thuận lợi cho Cộng quân tiến chiếm
toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa một cách mau chóng và để dâng hơn cả
dự liệu hoang đường nhất của bọn Chóp Bu CSBV. Đó là nhận định nhất trí
của người Việt Nam tị nạn Cộng Sản ở nước ngoài, trong vào năm đầu hạ
bán thập niên 1970. Nhận định như thế quả là rất thuận lý vào hồi đó,
tức là trong khi người ta chỉ biết rất mù mờ về phần đóng góp của Thiếu
Tướng Phạm Văn Phú vào cuộc rút quân khỏi vùng Tây Nguyên, một cuộc hành
binh đã bị ghi nhận là thiếu kế hoạch, thiếu chuẩn bị, và thiếu chỉ
huy.
Nhưng rồi thì từng phần sự thực dần dần
được phơi ra. Người ta chưa biết thật đầy đủ, thật chính xác, nhưng cũng
đã biết rõ được vài ba sự việc có thể chứng minh rằng Thiếu Tướng Phạm
Văn Phú trên thực tế không có trách nhiệm gì hết trong cuộc rút quân
khởi sự ngày 13/3/75 ở Pleiku. Cuộc rút quân ấy do chính Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu quyết định với tư cách và quyền hạn của vị Tổng Tư Lệnh
QLVNCH. Trung Tướng Thiệu đã đích thân ra Nha Trang gặp Thiếu Tướng
Phạm Văn Phú, mang theo Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng tham Mưu Trưởng, để
đích thân truyền đạt quyết định rút quân cho Tướng Phú thi hành.
Với tư cách là Tư Lệnh của một Quân Đoàn
trong QLVNCH, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú dĩ nhiên không được phép chống
lại mệnh lệnh của Tổng Tư Lệnh và Tổng Tham Mưu Trưởng. Nhưng Thiếu
Tướng Phạm Văn Phú cũng không tuân hành: hoặc là vì chính ông từ khước;
hoặc vì Tổng Thống Thiệu, Đại Tướng Viên ngại rằng Tướng Phú sẽ không
ngoan ngoãn vâng lời. Người đứng ra thi hành lệnh rút quân khỏi vùng Tây
Nguyên là một Đại Tá mới được thăng cấp Chuẩn Tướng, Đại Tá BĐQ Phạm
Duy Tất, để lãnh chức Tư Lệnh Phó Quân Khu 2, và Tướng Tư Lệnh được đặt
trong tình trạng bất khiển dụng vì lý do sức khỏe, từ ngày 14/3/75 đến
ngày bị Trung Tướng Trần Văn Đôn, Tổng Trướng Quốc Phòng mới nhận chức,
bắt giam vì tội bỏ mất vùng Tây Nguyên!
[...]
Như vậy khi cuộc rút quân khỏi miền Tây
Nguyên được thực hiện theo lệnh trên, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú trên thực
tế chẳng còn là Tư Lệnh Quân Đoàn II và Quân Khu II, nên không có trách
nhiệm gì về cuộc hành binh tự sát mà Thiếu Tướng tuyệt nhiên không tham
dự vào bất cứ một giai đoạn nào, từ quyết định, thiết kế, đến việc
chuẩn bị và thực hiện. Tuy nhiên dù không dự phần trách nhiệm trong việc
bỏ mất vào tay địch một phần lãnh thổ Quốc Gia, Thiếu Tướng Phạm Văn
Phú vẫn khẳng khái tự xử khi thấy rõ là đại cuộc đã tạm thời không còn
cách nào cứu vãn nữa, vì Tướng Dương Văn Minh đã lạm dụng quyền Tổng Tư
Lệnh mà bắt toàn quân phải buông súng, nộp mình cho giặc Cộng.
Người thất bại anh hùng Phạm Văn Phú tự
sát chẳng phải là vì sợ giặc Cộng bắt được và hành hạ trả thù. Nếu muốn,
Thiếu Tướng Phạm Văn Phú cũng có đủ khả năng để đào thoát ra nước ngoài
một một cách ung dung như một số đông các vị cựu Tướng Lãnh khác, chứ
không đến nỗi phải chịu nhục trong tòa Đại Sứ Hoa Kỳ như một số người
khác…hay phải đạp lên đầu đồng bào mà tranh lấy một chỗ ngồi trên chiếc
trực thăng đáp trên một mái nhà như ông Bộ Trưởng Quốc Phòng, kẻ mới
tuần trước còn tống giam Tướng Phú vì tội “Không dám hy sinh chiến đấu
và bỏ chạy trước quân địch”!
[...]
Việc Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đến cơ quan
D.A.O. gặp Tướng Mỹ Smith để chỉ xin độc một chỗ trong một chuyến bay di
tản cho một người con ông, tác giả sách Decent Interval không khen các
Tướng khác là thức thời, và cũng không chê Thiếu Tướng Phạm Văn Phú là
gàn dở. Ông chỉ viết thêm một câu ngắn, đại ý là Tướng Phú tự sát ngay
sau khi Cộng sản tràn vào Sài Gòn, và thở hơi cuối cùng ở bệnh viện
Grall.
Nhưng một tấm hình in trong tập ảnh kẹp ở
giữa quyển Sauve Qui Peut (bản tiếng Pháp của sách Decent Interval) lại
“nói” hộ ông Frank Snepp những điều ông cần viết ra mà vẫn nói lên được,
về tiết tháo và tinh thần trách nhiệm cao độ của một Phạm Văn Phú đã
quyết tâm tự sát để được chết với lương tâm thanh thản chứ không đành
chạy thoát lấy thân khi đất nước lâm nguy. Đó là bức ảnh kỷ niệm mà
Tướng Smith chụp với Tướng Phú tại cơ quan D.A.O. ngày 27/4/1975. Tướng
Smith lúc đó phụ trách việc xếp hạng ưu tiên cho những người được coi là
có liên hệ với Hoa Kỳ cùng với việc ấn định giờ giấc, lần lượt của các
phi vụ di tản. Ông ta bận đến mực không có thời giờ đi ăn, nên sự kiện
Tướng Smith bỏ ra vài chục phút để tiếp chuyện và chụp ảnh lưu niệm với
Tướng Phú, chứng tỏ hai người có tình thân thiết lắm. Nếu cũng tham sống
sợ chết, Tướng Phú có thể xin ở một người thân với mình như thế hàng
chục chỗ cho cả gia đình ung dung ra đi.
Nhưng người thất bại anh hùng Phạm Văn Phú
còn đủ liêm sỉ để không đành cúi mặt sống hèn; ông chỉ hỏi xin Tướng
Smith một chỗ duy nhất cho một cậu con trai của ông, ý hẳn là để giữ cho
họ Phạm còn có người nối dõi. Hành động tự giết mình để chết theo Quốc
Gia và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử đã được quyết định từ lúc
Thiếu Tướng Phạm Văn Phú tìm gặp Tướng Smith để ký thác “con côi”, chứ
không phải là một việc liều lĩnh chỉ được nghĩ tới khi chiến xa Cộng sản
đã hùng hục tiến về phía Dinh Độc Lập.
Trước Frank Snepp hơn 20 năm, hai tác giả
người Pháp cũng đã có dịp để tán thưởng phong cách anh hùng của một sĩ
quan Nhảy Dù tên Phạm Văn Phú, một nhân vật mà lẽ ra họ không lưu ý tới,
vì đã chỉ có một chức vụ khiêm nhường (Tiểu Đoàn Phó mới được đề bạt)
lại là sĩ quan người bản xứ của một quân đội mới thành hình. Một trong 2
tác giả đó là Đại Tá Pierre Langlais, một sĩ quan Pháp đã tự thú là có
thành kiến xấu với quân nhân Việt Nam.
Cho đến ngày Trung Úy Phạm Văn Phú theo
đơn vị (Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù Việt Nam) nhảy xuống tiếp viện lực lượng
G.O.N.O. trong vùng lòng chảo Điện Biên Phủ, Trung Tá Langlais còn giữ
nguyên vẹn cái thành kiến xấu xa của ông ta. Langlais lại có ấn tượng
xấu đặc biệt về Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù Việt Nam, đơn vị mà chính ông ta đã
đề nghị trả về Lực Lượng Tổng Trừ Bị hồi cuối năm trước. Langlais có
chép lại đầu đuôi vụ ấy trong quyển Điện Biên Phủ do nhà xuất bản
France-Empire phát hành năm 1963. Cũng trong tập ký sự đó, Langlais còn
nhìn nhận rằng ông đánh giá lính Việt Nam thấp…Nhưng cũng trong tập ký
sự Điện Biên Phủ về sau, Langlais lại dành ra đến hơn 10 đoạn để nói về
Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù VN, và đặc biệt về viên sĩ quan cấp Úy mang tên Phạm
Văn Phú, người đã chỉ huy giỏi giang và chiến đấu dũng liệt đến mức làm
cho Langlais phải từ bỏ các thành kiến sai lầm của mình về tinh thần
chiến đấu của chiến sĩ Việt Nam trên trận tuyến chống Cộng. Đại Tá
Langlais viết đến người về sau trở thành vị Tư Lệnh cuối cùng của Quân
Khu II của nước Việt Nam Cộng Hòa:
Ngày 2/3/1954, khi tình hình Biện Điên
Phủ đã nguy ngập tới mức Bộ Trưởng Bộ Quân Lực Pháp (René Pleven) vừa
từ Điện Biên Phủ trở về, đã phải ra trước Hội Đồng Liên Bộ để đề nghị
một loạt biện pháp cấp cứu. Tướng Navarre ra lệnh thành lập Liên Đoàn 5
Nhảy Dù VN, Tiểu Đoàn 2/1 Kỵ Binh Nhảy Dù, và Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, mà
Tiểu Đoàn Trưởng Thiếu Tá Begeard, là một đơn vị trưởng nổi tiếng từ
những năm kháng chiến ở vùng Đức chiếm đóng. TĐ5NDVN nhảy xuống Điện
Biên Phủ trước tiên, vào buổi chiều ngày 14/3/1954. Nhảy ở độ thấp, dưới
mưa đạn súng cối và đại bác 105 ly. Địch bắn dữ dội đến mức phải thay
đổi bãi nhảy mấy lần.
Trung tá Langlais là Tư Lệnh là Tư
Lệnh Phó Lực Lượng GONO nhưng nắm toàn quyền trên thực tế, vì Đại Tá De
Castries chỉ làm một việc độc nhất là…ký và chuyển đi những gì được
Langlais đưa cho. Langlais vốn có thành kiến với quân nhân người Việt,
nhất là với TĐ5NDVN, mà chính ông ta đã “trả về” trước đó hơn 2
tháng. Nên ông đã dự tính là xé lẻ ra để bổ sung chỗ này chỗ nọ, chứ
không sử dụng nguyên cả tiểu đoàn như một lực lượng xung kích.
Ngay mấy giờ sau khi nhảy xuống, một
đại đội của TĐ4NDVN đã bị biệt phái cho một đơn vị Lê Dương để tiếp cứu
lực lượng trấn giữ ở cứ điểm Gabrielle; cuộc hành quân không đạt được
kết quả nên Langlais càng nghi ngờ khả năng và tinh thần chiến đấu của
lực lượng vừa gởi đến tăng viện. Nhưng Langlais đã bắt đầu nhìn TĐ5NDVN
với con mắt khác hẳn ngay vài hôm sau. Cùng với TĐ6ND của Thiếu Tá
Begeard, TĐ5NDVN được giao cho trấn giữ đồi Eliane IV ở phòng tuyến thứ
2, nhiệm vụ vừa nặng nề vừa nguy hiểm, là tự chôn mình dưới hỏa lực
địch. Cả 2 tiểu đoàn đóng ở gần đỉnh đồi, TĐ6 giữ mặt Tây, TĐ5NDVN giữ 2
mặt Đông và Nam.
Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn có thể vị bắn
trực xạ bất kể ngày đêm bởi các xạ thủ địch rình rập thường trực ở phía
đối diện. Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng tình nguyện trấn giữ vị trí nguy
hiểm đó, chiến sĩ tiểu đoàn đào đắp xong công sự và địa đạo giao thông
hào trong một thời gian kỷ lục; Langlais bắt đầu nghĩ khác về khả năng
và tinh thần phục vụ của những quân nhân Việt Nam, đang ép lòng chấp
nhận quyền chỉ huy của người Pháp vì đang cần đến đồng minh giai đoạn!
Hồi ấy, Trung Úy Phạm Văn Phú là sĩ
quan người Việt Nam độc nhất nắm đại đội trong TĐ5NDVN và cũng là Đại
Đội Trưởng độc nhất mang cấp bậc Trung Úy, 2 Đại Đội Trưởng khác là Đại
Úy Armandi, Rouault, và Đại Đội Phó tạm lĩnh.
Ngày 24/3/54, TĐ5NDVN được tăng cường
thêm Đại Úy Alian Bizzard, một quân nhân Tùy Viên của một Tướng ở Sài
Gòn để xung phong ra mặt trận, do ở thâm niên cấp bậc, ông được cử làm
Tiểu Đoàn Phó TĐ5NDVN, rồi chịu trách nhiệm trấn giữ 2 cứ điểm H.6 và
H.7, trong tập đoàn cứ điểm Huguette, mà nhiệm vụ bảo vệ các phi đạo còn
dùng được. Đại Úy Bizzard mang theo mấy trung đội lấy từ 2 Đại Đội I và
IV; trong khi ấy Đại Đội III được biệt phái cho cứ điểm Dominique,
Éliane, và Isabelle; lính Bắc Phi ở Dominique I bị tràn ngập. Đại Đôi
III của TĐ5NDVN tăng phái chỉ còn 10 người chạy về tới Tiểu Đoàn Bộ.
Tình hình hồi ấy tuyệt vọng đến mức
Navarre và Cogny chỉ còn độc một việc là đổ lỗi lên đầu nhau; Langlais
luôn miệng réo hết Bruno (ám hiệu của Begeard) đến Dédé (Botella), để
động viên tinh thần họ giữ vững đồi Éliane IV, vì để mất cứ điểm ấy là
Đại Bản Doanh của De Castries cũng mất luôn. Tuy rằng phải chia sẻ với
TĐ6 của Begeard cái nhiệm vụ tử thủ đó, TĐ5NDVN, đã mất đi Đại Đội III,
vẫn chỉ sử dụng được non phân nửa quân số còn lại. Langlais giải nhiệm
cho Bizzard chức Tiểu Đoàn Phó hư hàm để ông ta mang Đại Đội I đi trấn
giữ cứ điểm H.6, trong khi Trung Úy Phú được tôn vinh bằng một trọng
trách không tương xứng với 1 đại đội là trấn giữ điểm tựa Opéra vừa
thiết lập để chận địch trong khoảng giữa các cứ điểm Huguette I và
Épevier.
Trong thượng tuần tháng 4/54, tình
hình ngày càng tồi tệ hơn. Ngày 14/4/54, Langlais báo cáo là chỉ còn
3000 quân khiển dụng vì ông không thèm tính tới các phần tử đã mất hết
tinh thần chiến đấu. — đoạn này trong sách Điện Biên Phủ, tác giả nhấn
mạnh rằng lực lượng đóng cứ điểm Éliane IV (TĐ6ND và TĐ5NDVN) vẫn giữ
vững tinh thần, và họ đã nhất quyết sống chết với nhiệm vụ.
Hôm sau, ngày 15/4, Đại Tá De Castries
được thăng Thiếu Tướng, hai Trung Tá Langlais và Ladande cũng được
thăng một cấp, cũng như mười sĩ quan khác trong số có Trung Úy Phạm Văn
Phú.
Ngày 19/4/54, Đại Úy Phú được thay thế bởi Đại Úy Bizzard, ông này được lệnh rút khỏi cứ điểm H.6 đêm hôm trước, Đại Đội I gồm 200 chỉ còn có 80 người đứng vững để tới điểm tựa Opéra thay thế Đại Đội II, rồi Đại Úy Phạm Văn Phú được đề bạt lên chức Tiểu Đoàn Phó ngày 26/4.
Ngày 19/4/54, Đại Úy Phú được thay thế bởi Đại Úy Bizzard, ông này được lệnh rút khỏi cứ điểm H.6 đêm hôm trước, Đại Đội I gồm 200 chỉ còn có 80 người đứng vững để tới điểm tựa Opéra thay thế Đại Đội II, rồi Đại Úy Phạm Văn Phú được đề bạt lên chức Tiểu Đoàn Phó ngày 26/4.
Vào thời điểm ấy, tình hình ở Điện
Biên Phủ rõ ràng là vô phương cứu vãn. Sau gần một tháng thí quân không
tính đếm, 3 Trung Đoàn địch đã phá hủy được toàn bộ phi đạo; giải quyết
hết 3 điểm tựa trong số có điểm tựa Opéra, mà Đại Úy Phú đã giao lại cho
Đại Úy Bizzard 5 ngày trước.
TĐ5NDVN chỉ còn ngót hơn 200 chiến sĩ,
vì ngoài Đại Đội II (không toàn vẹn), Bộ Chỉ Huy chỉ sử dụng vài chục
người còn lại của 3 đại đội đã tan vỡ. Quân số đã hao hụt quá nửa, nhưng
TĐ5NDVN lại phụ trách nhiệm vụ nặng nề gấp bội, là một mình trấn giữ
tuyến đầu, án ngữ phía trước cho TĐ6ND (Tiểu Đoàn Trưởng mới là Thiếu Tá
Béchignac) giữ liên lạc với Bộ Chỉ Huy Trung Ương. Để làm cái việc
không thể làm nổi là ngăn chận không cho địch quân (đông gấp mấy chục
lần) vượt sông mà xâm nhập khi Trung Tâm, ngót 200 chiến sĩ TĐ5NDVN chỉ
dược tăng cường với mấy chục chiến sĩ còn lại của Tiểu Đoàn 2/1 Kỵ Binh
Nhảy Dù do Đại Úy Guillemint chỉ huy. Nhưng lực lượng tử thủ ấy vẫn làm
tròn được nhiệm vụ cho tới sáng sớm ngày 7/5/54. Mấy giờ trước đó, hai
đại đội lính Lê Dương gởi đến tiếp viện cho TĐ5NDVN, nhưng họ phải mất 3
giờ mới đến được Chỉ Huy Sở của Thiếu tá Botella, và chỉ còn không quá
20 chiến sĩ!
Đến hừng sáng, Đại Úy Phạm Văn Phú mở cuộc phản kích với ngót 100 tàn quân của mấy đơn vị hợp lại, đánh cận chiến ở thế 1 chọi 20, nhưng cũng giành lại được hơn 100 thước địa đạo. Nhưng rồi thì mũi xung phá ấy bị bẻ gãy, nhiều chiến sĩ và 3 sĩ quan (Đại Úy Guillemint, Thiếu Úy Lafanne, và Đại Úy Phạm Văn Phú) lần lượt bị đạn địch quật ngã. Thiếu Úy Mackowak, sĩ quan độc nhất còn đứng vững cùng vài chục chiến sĩ TĐ5NDVN tiếp tục tử chiến trong khúc địa đạo dưới sườn đồi phía Đông Nam. Địch chùn bước vì mức thương vong quá cao; nhưng mấy chục phút sau, trận đánh dứt điểm tiếp diễn, lần này với loại vũ khí đầu tiên được sử dụng trên chiến trường VN (một thứ súng cối có nhiều nòng và bắn tự động hàng loạt đạn), và căn cứ chỉ huy của TĐ5NDVN thất thủ lúc 9 giờ sáng ngày 7/5/54.
Đến hừng sáng, Đại Úy Phạm Văn Phú mở cuộc phản kích với ngót 100 tàn quân của mấy đơn vị hợp lại, đánh cận chiến ở thế 1 chọi 20, nhưng cũng giành lại được hơn 100 thước địa đạo. Nhưng rồi thì mũi xung phá ấy bị bẻ gãy, nhiều chiến sĩ và 3 sĩ quan (Đại Úy Guillemint, Thiếu Úy Lafanne, và Đại Úy Phạm Văn Phú) lần lượt bị đạn địch quật ngã. Thiếu Úy Mackowak, sĩ quan độc nhất còn đứng vững cùng vài chục chiến sĩ TĐ5NDVN tiếp tục tử chiến trong khúc địa đạo dưới sườn đồi phía Đông Nam. Địch chùn bước vì mức thương vong quá cao; nhưng mấy chục phút sau, trận đánh dứt điểm tiếp diễn, lần này với loại vũ khí đầu tiên được sử dụng trên chiến trường VN (một thứ súng cối có nhiều nòng và bắn tự động hàng loạt đạn), và căn cứ chỉ huy của TĐ5NDVN thất thủ lúc 9 giờ sáng ngày 7/5/54.
Trên đây là tóm lược các đoạn nói về
TĐ5NDVN, và về Đại Úy Phạm Văn Phú trong quyển Điện Biên Phủ của Đại Tá
Pierre Langlais, người thực sự chỉ huy lực lượng G.O.N.O. ở Điện Biên
Phủ trong thời gian TĐ5NDVN tham chiến tại mặt trận đó. Đại Tá Langlais
đã đích thân ra lệnh, đã chính mắt nhìn thấy, hay đã được báo cáo tường
tận tại chỗ, nên chắc chắn là biết rất đúng sự thật. Viên Đại Tá Pháp đó
đã từng mang nặng thành kiến không tốt với chiến hữu VN, nên chắc chắn
không cố ý nói sai để ca tụng chiến sĩ Việt Nam trong TĐ5NDVN nói chung,
và viên Đại Úy anh hùng Phạm Văn Phú nói riêng. Vả chăng, tác giả tập
hồi ký Điện Biên Phủ cũng chỉ thuật lại các sự việc, như tác giả quyển
Decent Interval về sau, chứ không trực tiếp khen chê gì nhân vật Phạm
Văn Phú.
Cũng như Đại Tá Pierre Langlais, người
viết quyển La Bataille de Dien Bien Phu (xuất bản ở Paris cuối 1963)
cũng là một sĩ quan cao cấp, từng tham chiến ở mặt trận đó suốt từ đầu
đến cuối. Ông Jules Roy về sau được phép trở lại Bắc Việt thu thập tài
liệu để kiện toàn pho sách của ông (gọi là pho vì dầy đến 624 trang),
nên vẫn bị nghi ngờ là có thiện cảm với phe thắng trận ở Điện Biên Phủ.
Sự nghi ngờ đó không phải vu vơ, quả thật tác giả La Bataille de Dien
Bien Phu đã đưa ra khá nhiều hình ảnh và luận điệu có lợi cho phe đó.
Tuy nhiên trong các đoạn rải rác trên mấy chục trang nói về diễn tiến
mấy trận đánh từ sau ngày các cứ điểm Béatrice I, II, và III thất thủ
(đêm 13/3/54), Jules Roy cũng ghi nhận tương tự như Pierre Langlais (khá
chi tiết hơn vì viết dài hơn) về các chiến tích của TĐ5NDVN, và nhất là
về phong cách anh hùng của Tiểu Đoàn Phó Phạm Văn Phú. Về trận đánh dứt
điểm đêm mùng 6 rạng mùng 7/5/54 nhằm vào cứ điểm Éliane IV, Jules Roy
bổ túc thêm các chi tiết dưới đây:
Xế chiều ngày 6, địch pháo kích kịch
liệt cứ điểm Éliane IV. Áp dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung, đến 18
giờ 30, địch mới tấn kích, lực lượng của cộng quân là Trung Đoàn 98. Bộ
chỉ Huy TĐ5NDVN chỉ còn sử dụng được khoảng 200 chiến sĩ đã mệt nhừ sau
một tuần lễ chiến đấu, đạn dược đã gần cạn mà xin tiếp tế không được.
Thiếu Tá Botella ra lệnh cho chiến sĩ kháng cự bằng súng cối và đại bác
không giật, nhưng xạ thủ phải tiết kiệm từng viên đạn một, nên địch quân
vẫn tiến được lại gần. Trong thế ưu thắng rõ rệt, Trung Đoàn 98 vẫn
phải dè dặt tối đa; đây là lần đầu tiên họ sử dụng đường điện thoại vô
tuyến nối liền vác đại đội với Chỉ Huy Sở Trung Đoàn!
Chiến sĩ TĐ5NDVN chiến đấu cực kỳ dũng liệt, đến 21 giờ Đại Úy Phạm Văn Phú chỉ còn có 30 người để chỉ huy, họ bắn đến nòng súng nóng bỏng, và địch tràn vào như thác nhưng chẳng ai chùn lại. Họ tử chiến để giành giật với địch từng đoạn địa đạo; lấy súng của người đã chết để bắn về phía những tên đội nón cối đan bằng nan tre. Một loạt đạn súng cối liên châu (như Tow mà thô hơn) nã vào, đất bị cày tung lên và đổ ập xuống ông Tiểu Đoàn Phó vừa bị đốn ngã.
Chiến sĩ TĐ5NDVN chiến đấu cực kỳ dũng liệt, đến 21 giờ Đại Úy Phạm Văn Phú chỉ còn có 30 người để chỉ huy, họ bắn đến nòng súng nóng bỏng, và địch tràn vào như thác nhưng chẳng ai chùn lại. Họ tử chiến để giành giật với địch từng đoạn địa đạo; lấy súng của người đã chết để bắn về phía những tên đội nón cối đan bằng nan tre. Một loạt đạn súng cối liên châu (như Tow mà thô hơn) nã vào, đất bị cày tung lên và đổ ập xuống ông Tiểu Đoàn Phó vừa bị đốn ngã.
Trên đỉnh trời vừa rạng sáng, trận cận
chiến vẫn tiếp diễn trong ruột đồi Éliane IV. Quân địch tràn ngập khắp
nơi, nhưng phép lạ là cứ điểm Éliane IV vẫn còn cầm cự. Theo lệnh Đại Tá
Langlais, Trung Tá Lemeunier, Tư Lệnh Bán Lữ Đoàn Lê Dương số 13, đi
tiếp cứu Éliane IV nhưng không kịp. Vì trong căn cứu chỉ huy đầy nhóc
thương binh. Thiếu Tá Béchignac không đồng ý xin bắn lên đầu mình và hơn
10 người còn vững tay súng bị bắt làm tù binh lúc 9 giờ sáng!
Tác giả quyển La Bataille de Dien Bien Phu
bị nghi ngờ là có thiện cảm với phe thắng trận Điện Biên Phủ. Tác giả
hồi ký Dien Bien Phu xác nhận vốn có thành kiến xấu với quân nhân người
Việt Nam nói chung và TĐ5NDVN nói riêng. Nhưng cả hai tách giả ấy đều đã
không thể không ghi nhận phong cách anh hùng của nhân vật Phạm Văn Phú,
hồi ấy còn là một sĩ quan cấp Úy, tức là nhỏ cấp hơn họ nhiều. Một
chiến sĩ chống Cộng có phong cách anh hùng như thế, từ thuở mới bắt đầu
binh nghiệp, tất nhiên không thể chà đạp lên tiết tháo và tinh thần
trách nhiệm của một Tướng Lãnh, mà cúi mặt…ở nước người này quân tan,
nước mất. Việc thất bại, anh hùng Phạm Văn Phú tự sát, để được chết với
lương tâm thanh thản chỉ là việc tất nhiên phải có của một nhà Tướng. (tác giả Nguyễn Đông Thành (trích trong Đời Chiến Binh – Trương Dưỡng)
Thiếu tướng Phạm Văn Phú
Thiếu Tướng Phạm Văn Phú sinh năm 1929 tại
Hà Đông, Bắc Việt. Sau khi tốt nghiệp học khóa 8 trường Võ Bị Liên Quân
Đà Lạt vào giữa năm 1953, ông đã tình nguyện phục vụ trong binh chủng
Nhảy Dù. Ngày 14 tháng 3/1954, trong tình hình chiến trường Điện Biên
Phủ vô cùng sôi động, ở cấp bậc Trung Úy ông đã chỉ huy một đại đội của
Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, nhảy xuống Natasha, một vị trí sát phi đạo chính.
Sau hơn một hơn tháng liên tục giao tranh với Việt Minh, ngày 16 tháng
4/1954, Trung Úy Phạm Văn Phú đã chỉ huy một thành phần của Tiểu Đoàn 5
Nhảy Dù cùng với các đơn vị bạn phản công tái chiếm một cứ điểm trọng
yếu. Sau trận phản công này, ông được thăng cấp Đại Úy tại mặt trận khi
vừa đúng 25 tuổi, và đến ngày 26 tháng 4/1954, được cử giữ chức Tiểu
Đoàn Phó Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù. Ngày 7/5/1954, Điện Biên Phủ thất thủ, ông
bị địch quân bắt giam. Sau 20/7/1954 (Hiệp định Genève), ông được trao
trả và tiếp tục phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).
Năm 1960, được tuyển chọn để phục vụ trong
binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt. Cuối năm 1962, thăng cấp Thiếu Tá và giữ
chức vụ Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn Quan Sát 77 Lực Lượng Đặc Biệt. Giữa
tháng 5/1964, ông đã chỉ huy liên đoàn này đánh tan Trung Đoàn 765 Cộng
Sản Bắc Việt (CSBV) tại Suối Đá, Tây Ninh. Gần cuối năm 1964, ông được
thăng Trung Tá và giữ chức tham mưu trưởng Lực Lượng Đặc biệt. Một năm
sau, ông được thăng Đại Tá nhiệm chức.
Đầu năm 1966, không hiểu vì lý do gì, ông
bị vị Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt trình Bộ Quốc Phòng thâu hồi cấp Đại Tá
nhiệm chức và thuyên chuyển ra miền Trung, giữ chức Phụ Tá Tư Lệnh Sư
Đoàn 2 Bộ Binh, giữa năm 1966, ông là Đại Tá Tư Lệnh Phó, xử lý thường
vụ Tư Lệnh Sư Đoàn này. (Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh là Thiếu Tướng Hoàng
Xuân Lãm, được cử giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn 1 Vùng 1 Chiến Thuật vào
cuối tháng 5/1966). Cuối năm 1966, ông được điều động ra Sư Đoàn 1 Bộ
Binh làm Tư Lệnh Phó Sư Đoàn. Giữa năm 1968, được cử giữ chức vụ Tư Lệnh
Biệt Khu 44 (bao gồm các tỉnh biên giới ở miền Tây Nam phần). Năm 1969,
được thăng cấp Chuẩn Tướng tại mặt trận. Đầu năm 1970, chuẩn Tướng Phú
được cử thay thế Thiếu Tướng Đoàn Văn Quảng trong chức vụ Tư Lệnh Lực
Lượng Đặc biệt.
Gần cuối tháng 8/1970, Tướng Phú được Tổng
Thống Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm giữ chức Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh thay
thế Thiếu Tướng Ngô Quang Trưởng, được cử giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn 4.
Tháng 3/1971, ông được thăng Thiếu Tướng tại mặt trận sau cuộc hành
quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào (ngoài Tướng Phú, có hai Đại Tá được thăng cấp
chuẩn tướng: Đại Tá Vũ Văn Giai -- Tư Lệnh phó Sư Đoàn 1 Bộ Binh, Đại
Tá Hồ Trung Hậu -- Tư Lệnh Phó Sư Đoàn Nhảy Dù). Trong cuộc chiến mùa Hè
1972, ông đã điều động, phối trí các trung đoàn của Sư Đoàn 1 Bộ Binh
giữ vững phòng tuyến Tây Nam Huế. Do điều kiện sức khỏe, đến tháng
9/1972, ông bàn giao Sư Đoàn 1 Bộ Binh cho Đại Tá Điềm, Tư Lệnh Phó, xử
lý thường vụ. Từ 1973 đến tháng 10/1974, ông giữ chức chỉ huy trưởng
Trung Tâm Huấn luyện Quang Trung. Tháng 11/1974, thể theo đề nghị của
Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm và Phó Tổng thống Trần Văn Hương, Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu đã ký sắc lệnh cử ông giữ chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn 2
và Quân Khu 2 thay thế Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn.(Tướng Toàn trở lại
binh chủng Thiết giáp, giữ chức chỉ huy trưởng).
Nhận chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 không phải do chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lựa chọn, hoặc do Đại Tướng Cao Văn Viên -- Tổng tham mưu trưởng -- đề nghị, nên Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đã gặp nhiều khó khăn trong việc sắp xếp nhân sự cao cấp phụ tá ông để điều hành bộ Tư Lệnh. Thông thường, các Tư Lệnh Quân Đoàn được quyền chọn lựa tham mưu trưởng, sau đó, bộ Tổng tham mưu sẽ ban hành quyết định hợp thức hóa, thế nhưng Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đã bị bộ Tổng tham mưu "hạn chế" các quyền hạn dành cho Tư Lệnh Quân Đoàn. Khi Tướng Phú nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn 2, vị tham mưu trưởng đương nhiệm là Chuẩn Tướng Trần Văn Cẩm. (Trong thời gian từ 1967 đến tháng 6/1968, khi Tướng Phú còn mang cấp Đại Tá và giữ chức vụ Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 1 Bộ Binh thì tướng Cẩm còn là Trung Tá, Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn này).
Nhận chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 không phải do chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lựa chọn, hoặc do Đại Tướng Cao Văn Viên -- Tổng tham mưu trưởng -- đề nghị, nên Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đã gặp nhiều khó khăn trong việc sắp xếp nhân sự cao cấp phụ tá ông để điều hành bộ Tư Lệnh. Thông thường, các Tư Lệnh Quân Đoàn được quyền chọn lựa tham mưu trưởng, sau đó, bộ Tổng tham mưu sẽ ban hành quyết định hợp thức hóa, thế nhưng Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đã bị bộ Tổng tham mưu "hạn chế" các quyền hạn dành cho Tư Lệnh Quân Đoàn. Khi Tướng Phú nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn 2, vị tham mưu trưởng đương nhiệm là Chuẩn Tướng Trần Văn Cẩm. (Trong thời gian từ 1967 đến tháng 6/1968, khi Tướng Phú còn mang cấp Đại Tá và giữ chức vụ Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 1 Bộ Binh thì tướng Cẩm còn là Trung Tá, Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn này).
Trong những tuần lễ đầu tiên, Tướng Phú đã
hai lần đề nghị hai vị Đại Tá giữ chức vụ tham mưu trưởng Quân Đoàn
thay chuẩn tướng Cẩm được bổ nhiệm làm Phụ Tá Hành Quân Tư Lệnh Quân
Đoàn 2, nhưng cả hai lần đều bị Trung Tướng Đồng Văn Khuyên tham mưu
trưởng Liên quân trình với Đại Tướng Cao Văn Viên bác bỏ. Cuối cùng,
theo đề nghị của Trung Tướng Khuyên, Đại Tướng Cao Văn Viên đã bổ nhiệm
Đại Tá Lê Khắc Lý, nguyên tham mưu trưởng bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân
Đoàn 1 giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 2. Dù vị tham mưu trưởng
không do mình chọn lựa, nhưng Tướng Phú đã tin dùng và ủy nhiệm cho Đại
Tá Lê Khắc Lý nhiều quyền hạn trong việc điều hành Bộ Tư Lệnh.
Trước khi cuộc chiến Cao Nguyên (năm 1975)
bùng nổ, Tướng Phú được Đại Tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 Quân Đoàn
trình bày về các khả năng Cộng quân sẽ mở cao điểm tại Ban Mê Thuột, thế
nhưng không hiểu vì sao, Tướng Phú không tin và nhận định rằng Pleiku
mới là chiến trường trọng điểm, còn Ban Mê Thuột là mặt trận phụ mà Cộng
quân muốn tạo thế trận nghi binh. Trận chiến Ban Mê Thuột đã bùng nổ
vào rạng sáng ngày 10 tháng 3/1975. Bốn ngày sau, vào trưa ngày 14 tháng
3/1975, trong một cuộc họp đặc biệt tại Cam Ranh, Tổng thống Nguyễn Văn
Thiệu đã ra lệnh cho Thiếu Tướng Phạm Văn Phú triệt thoái toàn bộ Quân
Đoàn 2 khỏi Cao nguyên.
Sau khi lực lượng Quân Đoàn 2 triệt thoái
khỏi Nha Trang, 1 giờ 45 trưa ngày 2 tháng 4/1975, Thiếu Tướng Phạm Văn
Phú và vài sĩ quan thân tín đã bay đến ngọn đồi "Lầu Ông Hoàng" để chờ
Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu -- Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 3 -- tới nhận bàn
giao phần lãnh thổ cuối cùng của Quân Khu 2 được lệnh sát nhập vào Quân
Khu 3. Vào giờ phút đó, quanh Tướng Phú chỉ có: Đại Tá Đức --nguyên Phụ
Tá Tư Lệnh Quân Đoàn 2 đặc trách lực lượng diện địa; Thiếu Tá Vinh,
chánh văn phòng; Thiếu Tá Hóa, sĩ quan tùy viên, và Thiếu Tá Phạm Huấn,
sĩ quan Báo chí. Chính tại đây, Tướng Phú đã có quyết định tự sát, nhưng
Đại Tá Đức đã kịp thời cản ông. Theo lời kể của Thiếu Tá Phạm Huấn, vào
lúc 2 giờ 12 phút cùng ngày, Thiếu Tá Hóa tới trình cho Tướng Phú là
trực thăng của Tướng Hiếu sắp đáp xuống. Khi đó, Thiếu Tá Huấn đứng gần
Tướng Phú, thấy đôi mắt Tướng Phú như muốn tóe lửa. Và sau khi Thiếu Tá
Hóa quay gót, Tướng Phú vất điếu thuốc lá đang cầm trên tay xuống đất.
Rất nhanh, ông rút khẩu súng ngắn nòng ra khỏi vỏ. Nhưng tiếng hét thất
thanh của Đại Tá Đức: "Thiếu Tướng". Khẩu súng trên tay Tướng Phú bị gạt
bắn xuống đất. Sự việc này xảy ra quá bất ngờ...
Giữa tháng 4/1975, Tướng Phú lâm bệnh, vào
điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Ngày 15 tháng 4/1975, Đại Tá Phạm
Văn Chung, cựu Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến, nguyên
tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Quảng Nam, đã vào thăm Tướng Trưởng và
Tướng Phú đang nằm dưỡng bệnh. Chính trong lần thăm này, Đại Tá Chung đã
nghe Tướng Phú trăn trối, và kể lại như sau:
Rời phòng Trung Tướng Trưởng, tôi (Đại Tá
Chung) qua phòng kế bên cạnh là phòng của Thiếu Tướng Phú, cũng đang nằm
dưỡng bệnh kế đó. Bước vào phòng tôi thấy Thiếu Tướng Phú đứng dậy ngay
và bắt tay tôi bằng một giọng hằn học, tức tối:
"Anh Chung, anh từng hành quân với tôi đã lâu..."
Nói đến đây Thiếu Tướng Phú ôm tôi và khóc tiếp với giọng nghẹn ngào, tức tối:
"...mà đêm qua, Tổng Thống Thiệu lên
đài nói chuyện và đổ tội cho các tướng lãnh là hèn nhát bỏ chạy. Anh cứ
về hỏi Trung Tướng Trưởng xem, trong buổi họp hôm trước, có cả Trung
Tướng của anh nữa đấy, tôi đã xin Tổng Thống cho tôi giữ Pleiku bằng mọi
giá, Tổng Thống không chịu, bắt tôi phải rút... có cả Đại Tướng Viên và
Đại Tướng Khiêm nghe nữa mà bây giờ Tổng Thống nói chuyện với toàn dân
đổ tội cho chúng tôi, thật cái nhục này tôi không biết tỏ cùng ai, không
biết đồng bào có hiểu không, chỉ có cách chết mới hết nhục".
Tôi (Đại Tá Chung) không khỏi ngậm ngùi
thương xót chia xẻ nỗi oan ức của một vị đàn anh đáng kính như Thiếu
Tướng Phú, nên tôi hết lời an ủi và khuyên Thiếu Tướng hãy bình tỉnh và
nên tĩnh dưỡng.
Đó là lần cuối cùng Đại Tá Chung gặp Tướng Phú. Sáng ngày 29 tháng 4/1975, tại căn nhà riêng ở đường Gia Long, chờ khi vợ và các con rời nhà để đi về phía Trường Đua Phú Thọ tìm cách di tản, Tướng Phú đã uống một liều thuốc cực mạnh tự tử. Người em trai của bà Phú sau khi biết tin này đã chạy tới vào cho bà biết. Cả gia đình quay về. Theo lời kể của con trai Tướng Phú, đã vượt biên sang Mỹ, những giờ cuối của Tướng Phú được ghi nhận như sau: Nhờ có các bác sĩ Pháp gần nhà giúp đỡ, Tướng Phú được đưa vào bệnh viện Grall để cấp cứu. Nhưng Tướng Phú mê man liên miên, mãi đến trưa ngày 30/4/1975, ông mới tỉnh được giây lát và thều thào hỏi người vợ đang ngồi cạnh:
Đó là lần cuối cùng Đại Tá Chung gặp Tướng Phú. Sáng ngày 29 tháng 4/1975, tại căn nhà riêng ở đường Gia Long, chờ khi vợ và các con rời nhà để đi về phía Trường Đua Phú Thọ tìm cách di tản, Tướng Phú đã uống một liều thuốc cực mạnh tự tử. Người em trai của bà Phú sau khi biết tin này đã chạy tới vào cho bà biết. Cả gia đình quay về. Theo lời kể của con trai Tướng Phú, đã vượt biên sang Mỹ, những giờ cuối của Tướng Phú được ghi nhận như sau: Nhờ có các bác sĩ Pháp gần nhà giúp đỡ, Tướng Phú được đưa vào bệnh viện Grall để cấp cứu. Nhưng Tướng Phú mê man liên miên, mãi đến trưa ngày 30/4/1975, ông mới tỉnh được giây lát và thều thào hỏi người vợ đang ngồi cạnh:
- Tình hình đến đâu rồi?
Bà Phú nói:
- Tướng Dương Văn Minh ra lệnh Quân đội bỏ súng đầu hàng, và Cộng sản đã vào tới Sài Gòn!
Nghe xong Tướng Phú nhắm mắt lại và "ra đi".
(tác giả Vương Hồng Anh)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Chú ý: Điền vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
Sẽ xóa những comment không phù hợp
Thinhoi001