
Vị tướng đánh giặc từ thuở lên 10
Xuân Linh - Thúy Quỳnh (Vietnamnet) - 10
tuổi, Trung Thu đã tự chế mìn, lựu đạn, vũ khí đánh địch theo chiến
thuật du kích. Dáng nhỏ thó, thoăn thoắt, cậu giả chơi để dò la, rồi tự
vác mìn nặng chục kg đi gài xe tăng địch mà chẳng chút sợ hãi. Trong một
lần phát hiện địch di chuyển về làng, cậu bé quyết định mang 5 quả mìn
bỏ vào bao mang đi gài địch.
*
Suốt đời binh nghiệp, người anh hùng từng đánh hàng chục trận, bắn rơi
không biết bao máy bay, tiêu diệt địch nhưng chỉ tự nhận có 4 trận đánh
lớn nhất đời, khi mới chỉ là chú bé 14-15 tuổi.
Nghĩa trang xã Bình Dương, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam một ngày
cuối hè. Thắp nén nhang cho những đồng đội nằm xuống trong chiến tranh,
Trung tướng Nguyễn Trung Thu lặng người. Có những tấm bia ghi danh liệt
sĩ 10 tuổi lúc hy sinh.
"Nếu số phận không may mắn, tôi có thể cũng ở đây như họ" - vị tướng
được trao danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân khẽ nói. Gần 50
năm đi qua, giờ đây ở cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam,
ông là một trong những người cầm súng chống Mỹ ít ỏi còn lại trong quân
ngũ.
Binh nghiệp - Thiên mệnh
Nguyễn Trung Thu sinh ra trong một gia đình truyền thống cách mạng ở xã
Hòa Hải, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng. Sau khi cha tham gia cách mạng bị
địch phát hiện, cả gia đình ông chuyển vào huyện Thăng Bình, Quảng Nam
sinh sống. Ở chính mảnh đất anh hùng này, Nguyễn Trung Thu đã bước những
bước đầu tiên trên con đường binh nghiệp.
Những năm 1950, chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện các cuộc thảm sát
tập thể mang tên “tố Cộng", "diệt Cộng". Ở Quảng Nam, đó là các vụ giết
chóc tàn bạo trên sông Vu Gia, sông Thu Bồn, ở đập Vĩnh Trinh, đập Thạch
Bàn (Duy Xuyên), động Hà Sống (Đại Lộc). Vụ thảm sát đập Vĩnh Trinh
(huyện Duy Xuyên) đêm 28 tháng chạp cận Tết Ất Mùi (1955) tàn bạo làm
rúng động dư luận thế giới lúc bấy giờ khi quân ngụy bắt người đóng
đinh, thả bao bố trôi sông.
Phó Tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam Nguyễn Trung Thu
Tận mắt chứng kiến tội ác của kẻ thù, những đứa trẻ chưa kịp lớn như cậu
bé Trung Thu đã biến lòng căm hận thành ý thức tự giác cầm súng đánh
giặc.
10 tuổi, Trung Thu đã tự chế mìn, lựu đạn, vũ khí đánh địch theo chiến
thuật du kích. Dáng nhỏ thó, thoăn thoắt, cậu giả chơi để dò la, rồi tự
vác mìn nặng chục kg đi gài xe tăng địch mà chẳng chút sợ hãi. Trong một
lần phát hiện địch di chuyển về làng, cậu bé quyết định mang 5 quả mìn
bỏ vào bao mang đi gài địch.
Trời mưa phùn, gió thổi, trong lúc loay hoay, chiến sĩ du kích nhí chưa
kịp thực hiện phương án thì địch phát hiện. Chúng bắt cậu giơ tay hàng,
dí súng thẳng giữa trán. Khi phát hiện bao túi cầm theo là mìn, toán
lính Mỹ đá cậu ngã văng. Cậu thừa cơ vùng lên bỏ chạy, may mà không bị
đuổi bắn. Sau lần đó, cậu vẫn tìm cách quay lại, tiếp tục dò la, vác mìn
đi gài xe tăng phá nổ.
1965. Sau khi các xã vùng đông của huyện Thăng Bình được giải phóng,
quân Mỹ ngụy tìm mọi cách đánh phá giành lại quyết liệt. Thôn 6, xã Bình
Dương, là một trong những nơi bị giặc càn phá dữ dội nhất. Trong tình
thế đó, đội du kích nhỏ tuổi ra đời với những thành viên tuổi đều chưa
quá 15, trong đó có Nguyễn Trung Thu.
15 tuổi, Nguyễn Trung Thu chính thức trở thành người lính thực thụ, tham
chiến ở một sư đoàn chủ lực lừng lẫy thành tích chiến đấu: sư đoàn bộ
binh 2, Quân khu 5. Người lính Nguyễn Trung Thu đã đi qua nhiều chiến
trường, từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, cho đến Mặt trận 4 của Quảng Đà, Mặt
trận 579 Quân khu 5, đường 9 Nam Lào và sau này là lính của quân bộ đội
tình nguyện ở chiến trường Campuchia.
Suốt đời binh nghiệp, người anh hùng từng đánh hàng chục trận, bắn rơi
không biết bao máy bay, tiêu diệt địch nhưng chỉ tự nhận có 4 trận đánh
lớn nhất đời - mà điểm chung là khi mới chỉ 14-15 tuổi và đậm chất "nghệ
thuật du kích" nhất.
Trận đánh thứ nhất vào năm 1966, cứu được 20 cán bộ du kích thoát chết
khỏi hầm trú ẩn trong vòng vây của địch. Một mình cậu bé ban ngày lẻn
trinh sát địa hình, ban đêm mang mìn, lựu đạn gài đặt chốt đóng của
địch. Sau 3 ngày, khi các cán bộ trong hầm kiệt sức vì đói khát và thiếu
khí thở, chiến sĩ du kích nhỏ phá trận thành công, cứu toàn bộ 20 người
đưa lên khỏi lòng đất.
"Bây giờ tôi vẫn là người lính... Binh nghiệp là thiên mệnh"
Một trận đánh anh hùng nữa vào năm 1967. Sau nhiều lần đặt mìn phá địch
không thành bị phát hiện, cậu bé Trung Thu khi đó 14 tuổi lần đầu tiên
tổ chức chỉ huy, thiết kế một trận đánh mìn lừa địch ngoạn mục.
Sử dụng mìn giả để đánh lạc hướng địch, trong tích tắc sơ suất của địch,
cậu bé và đồng đội đã cho kích nổ mìn gây thương vong cho địch. Trận
đánh này đáng nhớ bởi sau thương vong của địch, những chiến sĩ du kích
còn quay lại thu gom lính bị thương đưa về băng bó, cho ăn uống và trả
lại đối phương.
Trận khác, chiến sĩ Trung Thu một mình bắn rơi một máy bay, hạ nhiều tên
địch song người chiến sĩ nhỏ đã không nhận hết thành mà chia nửa thành
tích còn lại cho người đồng đội tên Năm Tươi đã hy sinh, để lại khẩu
súng cho cậu thay khẩu bị hỏng.
Nguyễn Trung Thu đã bốn lần vinh dự là dũng sĩ diệt Mỹ. Năm 1966, ông
được Đảng bộ liên khu 5 cử ra gặp Bác Hồ ở Hà Nội cùng anh hùng Vai và
chị Can Lịch.
Thời bình, người lính Nguyễn Trung Thu tiếp tục theo đuổi binh nghiệp.
Trước khi trở thành Phó Tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, ông từng là
Tư lệnh quân khu 5, Tư lệnh quân đoàn 3. Được thăng hàm lên Thiếu tướng,
rồi Trung tướng, nhưng dù ở các vị trí quản lý trong quân đội thời
bình, ông vẫn coi mình là người lính.
"Bây giờ tôi vẫn là người lính, sẵn sàng cầm súng bảo vệ Tổ quốc. Dù là
Tướng, tôi vẫn là người cầm súng. Đã là Tướng phải cầm súng. Điều đó
không bao giờ thay đổi. Bởi binh nghiệp là thiên mệnh".
Vị tướng đi chống bão
Năm 2010, trận bão số 9 và số 11 đổ bộ tàn khốc vào miền Trung. Quân đội
được huy động tối đa. Đến giờ, nhiều người vẫn nhắc lại hình ảnh vị
tướng Tư lệnh quân khu 5 quần xắn, lội nước vừa đi cứu dân, vừa gọi điện
thoại tất bật điều động phương tiện, quân số, chỉ đạo các cánh quân
phối hợp chống bão...
Năm đó, khi đang họp bàn triển khai khắc phục bão lũ sau khi rút đi, vị
Tư lệnh nhận được điện thoại của sư trưởng Sư đoàn 2 báo có một cụ già
bị mắc kẹt ở cành cây mắc trên dòng lũ dưới một đập thủy điện. 24 giờ
sau khi phát hiện, ông mới được biết tin khi trời đã chuyển chiều muộn.
Ông hiếm khi rời chiếc Ipad để điều hành công việc, nắm bắt thông tin trong điều kiện làm việc di chuyển như con thoi.
Ngay tức khắc, ông điều động lực lượng ra hiện trường. Từng tốp người
bơi ra không thành công. 50 chiếc phao bị dòng nước cuốn phăng. Ông điện
cho không quân điều trực thăng của 2 sư đoàn 370 và 372 bay vào 6
chuyến nhưng cũng bất thành vì thời tiết xấu, trong khi khoảng cách từ
bờ ra đến chỗ nạn nhân chỉ có 70 mét.
Khi mọi nỗ lực đều bất thành, ông cho huy động ô tô chiếu đèn suốt đêm,
dùng loa hướng dẫn cụ già chờ ứng cứu, tìm cách buộc sữa vào dây để tiếp
tế cụ già chống chọi cơn đói rét qua đêm. Nước không rút vào sáng hôm
sau. Ông chỉ huy không quân đưa tiếp 3 chuyến trực thăng vào cứu cũng
không thành.
Tiếp tục thả gầu dây xuống nhưng cũng bị nước cuốn đứt. Cuối cùng ông
phải cho điều động loại súng đặc chủng (súng bắn dây) của lực lượng đặc
nhiệm thì cứu được nạn nhân vào bờ. Cuộc cứu nạn căng thẳng, tốn kém đến
hàng tỉ đồng này ông nói không đáng gì so với cảm giác trút hết nỗi lo,
cứu được người dân an toàn.
Trắng đêm "điều binh" chống bão, đội mưa đi vào vùng bão lũ với nhân
dân, ông quen thuộc với công việc này trong suốt những năm làm tư lệnh
vùng quân khu 5, bằng cả tinh thần quyết liệt như những năm tháng đi
đánh giặc trong chiến trường.
Người ta hay hình dung những vị tướng trận mạc có nét gì đó lạnh lùng,
kiêu bạc, khó gần. Ở Trung tướng Nguyễn Trung Thu lại là chất bình dị,
cởi mở và nồng nhiệt hiện lên trong dáng người thấp đậm.
Hình ảnh ông ngồi bật tay đánh nhịp hát bài chòi vừa hay vừa chuẩn đến
khó tin cũng như những câu thơ ông viết, tuy bình dị mà đầy thôi thúc
như rứt ra từ tâm tưởng: “Trở về với mẹ ta thôi/Đấm lưng cho mẹ trở trời
lúc đau...”.
Bức tượng bà mẹ Campuchia
Trong cuộc đời binh nghiệp, giai đoạn ông tham gia đoàn quân tình nguyện
chiến đấu ở chiến trường Campuchia là một giai đoạn đáng nhớ. Ông vẫn
hay nhắc về câu chuyện người mẹ Campuchia đã cưu mang ông và đồng đội
với tất cả lòng thành kính.
Một ngày năm 1984, nhà mẹ Phiu Ma Ly làng Krom, xã Pree Rum Kơl, huyện
Tha La, tỉnh Stung Treng (Campuchia) rộn ràng hơn bởi sự có mặt của lực
lượng quân tình nguyện Việt Nam.
Chồng mẹ là chiến sĩ biên phòng thời Sihanouk đã mất khi còn trẻ. Mẹ góa
nuôi đàn con côi, vất vả nhiều bề nhưng mẹ nói với ông trưởng thôn cho
bộ đội Việt Nam về ở nhà mình. Trong số đó, mẹ đặc biệt thương người chỉ
huy đơn vị Nguyễn Trung Thu.
Bà thương bởi tính điềm đạm, khiêm nhường, hết lòng với đồng đội. Khi
mùa mưa về, dòng sông đục ngầu phù sa, mẹ tranh thủ hứng nước mưa để
dành vài thùng đợi bộ đội Thu về giặt áo cho trắng...
Trong một lần sang công tác tại Stung Treng trên cương vị Tư lệnh Quân
khu 5 ông quyết định lần hỏi để tìm về gia đình mẹ Phiu Ma Ly để thăm
thì biết ra mẹ mất đã gần 10 năm trước.
Để tưởng nhớ, ông đặt khắc một bức tượng bán thân mẹ Phiu Ma Ly bằng đá
trắng gửi tới để nơi bàn thờ mẹ ở nhà cô con gái Su Navy.
Xuân Linh - Thúy Quỳnh
Ảnh: Lê Anh Dũng
nguồn:http://danlambaovn.blogspot.com/2013/02/va-ay-chem-gio-co-bang-cap.html#more
======================================================================
Chú ý: Nhấn vào
“nhận xét” ở cuối bài để xả stress
Sẽ
xóa những comment nói tục
Thinhoi001
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Chú ý: Điền vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
Sẽ xóa những comment không phù hợp
Thinhoi001