Kỳ 1: Tuổi thơ cay đắng
TT - Tròn ba năm từ ngày NSND Phùng Há ra
đi (5-7-2009, 13-5 âm lịch), cuộc đời gần trọn thế kỷ của bà trở lại với
bạn đọc qua câu chuyện kể của NSƯT Nam Hùng - người được Phùng Há nhận
làm con nuôi năm 1950.
| Nghệ sĩ nhân dân Phùng Há thời trẻ - Ảnh tư liệu gia đình |
“Những chuyện tôi viết ra đây do má tôi kể hoặc do bà
con trong gia đình kể lại, cũng có chuyện do tôi chứng kiến”, NSƯT Nam
Hùng viết vậy khi gửi cho Tuổi Trẻ tập bản thảo 14 trang đánh máy. Tuổi Trẻ trích đăng.
Như một ngày hội lớn, bà con của hai gia đình, bạn bè
thân hữu, chòm xóm thân quen cùng nâng ly chúc mừng ngày thôi nôi của bé
Trương Phụng Hảo.
Sinh ngày 30-4-1911, Phụng Hảo là con thứ sáu của ông
Trương Nhơn Trường ở làng Hạt Sơn, Quảng Đông, Trung Quốc, và mẹ là bà
Lê Thị Mai, người làng Điều Hòa, Mỹ Tho. Hai ông bà chung sống với nhau
có được bảy người con, ba trai bốn gái: Trương Tích Kỳ (con trai
trưởng), Trương Ngân Hảo (nữ), Trương Liên Hảo (nữ), Trương Tích Hoa
(nam, mất lúc còn nhỏ), Trương Tích Trung (nam), Trương Phụng Hảo (nữ),
Trương Nguyệt Hảo (nữ).
Lễ thôi nôi được ăn mừng lớn hơn các anh em khác trong
nhà cũng vì một lẽ: từ lúc mang thai bé Phụng Hảo, gia đình bắt đầu làm
ăn khấm khá, từ một tiệm bán thịt bò nho nhỏ mà chỉ trên một năm đã mở
lớn hơn và thêm một trại cưa lớn. Gia đình mới mời một thầy bói người
Hoa đến xem tướng mạo cho bé Phụng Hảo, ông thầy xủ quẻ bảo rằng: “Cô bé
mặt mày rất sáng, đẹp như nàng tiên trong tranh vẽ, mà tiên thì ở trên
trời, tiên trốn xuống trần tiên sẽ bị đọa”. Quẻ báo rằng: “Bé Phụng Hảo
tương lai sẽ là một tài nữ được sống trong vinh hoa phú quý, nhưng lại
nhiều khổ lụy trong cuộc tình”.
Vượt ngàn dặm thọ tang cha
Cuộc sống gia đình yên vui, công cuộc làm ăn càng ngày
càng sung túc. Khi bé Phụng Hảo được 7 tuổi thì ông Trương Nhơn Trường
đột ngột từ trần chỉ sau vài ngày lâm bệnh. Bà Mai điện về Trung Quốc
cho bên nội của các con hay. Đang chuẩn bị mai táng chồng thì bà Mai
nhận được một bức điện tín từ Trung Quốc đánh sang: “Hãy hỏa táng ông
Trương Nhơn Trường, bà Mai và tất cả các cháu phải đưa ông Trường về
làng Hạt Sơn, Trung Quốc”. Bà Mai vô cùng bối rối.
Đường đến làng Hạt Sơn, Trung Quốc xa xôi vạn dặm. Thôi
thì đành nhắm mắt đưa chân cho tròn câu đạo lý... Bà cùng sáu người con
mua vé tàu thủy ra đi. Ở lại Mỹ Tho chỉ còn người con trai trưởng là
Trương Tích Kỳ và em trai của ông Trường cùng trông coi gia sản.
Tang ma chu toàn nhưng lệnh của dòng họ là bà Mai và
các con phải ở lại thọ tang ba năm. Ở lại Trung Quốc sống một cuộc sống
ăn nhờ ở đậu với người vợ lớn của ông Trường và gia đình bên nội của các
con, ngày ngày mẹ con bà phải đi làm ruộng, làm vườn cùng mọi người,
cuộc sống hết sức vất vả và khó khăn.
Thấm thoát đã gần ba năm, ngày trở về sắp đến thì bất
ngờ nạn dịch trái rạ hoành hành dữ dội, rất nhiều người chết. Loa truyền
của chính quyền buộc tất cả những người có bệnh phải tập trung về một
nơi để chữa bệnh, ai không tuân lệnh sẽ bị bắt.
Bé Nguyệt Hảo bị trái rạ rất nặng, bé Phụng Hảo cũng bị
lây. Cuối cùng bé Nguyệt Hảo đã không qua khỏi. Sau khi chôn cất bé
Nguyệt Hảo, bà Mai không muốn Phụng Hảo bị đưa vào nơi tập trung trị
bệnh nên xin phép gia đình bên nội gửi các con ở lại và tìm cách chạy
giấy tờ mua vé tàu đưa bé Phụng Hảo trở về Việt Nam. Trung Quốc lúc này
là mùa đông giá rét, tuyết rơi trắng ruộng đồng. Bé Phụng Hảo được che
kín mặt mày cùng bà Mai xuống tàu trở về Mỹ Tho.
Phút hãi hùng trên biển
Chiếc tàu chở hàng hóa và mấy mươi hành khách người
Hoa, thuyền trưởng là một người Pháp. Sau vài ngày lênh đênh trên biển,
người trên tàu tình cờ phát hiện Phụng Hảo bị trái rạ. Mọi người xôn xao
sợ hãi. Một buổi họp liền mở ra ngay trên boong tàu, một số người nhất
quyết đề nghị đoàn phải bỏ bé Phụng Hảo xuống biển trên một chiếc bè có
lương thực và nước uống, một số người khác không đồng ý. Người ta nói
nếu không bỏ bé xuống biển, tất cả mọi người sẽ chết vì bị lây trái rạ,
phải hi sinh một người để cứu nhiều người vì còn lâu tàu mới về đến Việt
Nam.
Đa số đã thắng thiểu số, mặc bà Mai lạy lục thuyền
trưởng và van xin mọi người. Mở chiếc bè trong đó có lương thực và nước
uống thòng xuống biển, hai người đàn ông to lớn chụp bé Hảo toan bỏ
xuống chiếc bè. Trong khi bà Mai gào khóc quyết nhảy theo con, bé Hảo
hét la khủng khiếp thì một tiếng thét thất thanh ra lệnh dừng lại. Một
phụ nữ từ trong phòng thuyền trưởng bước ra cương quyết không cho quăng
bé Hảo xuống biển. Đó là vợ người thuyền trưởng - một phụ nữ Việt Nam
rất đẹp. Vị thuyền trưởng và nhiều người cùng người phụ nữ tranh luận
rất dữ dội. Người vợ thuyền trưởng nói: “Không ai có quyền giết người
khi luật pháp chưa luận tội. Đứa bé vô tội, chúng ta phải có bổn phận
chăm sóc chu đáo cho đến khi tàu cập bến An Nam. Trừ khi đứa bé chết
trên tàu ta mới có quyền quăng xuống biển, nếu đứa bé có bề gì thì tôi
sẽ là người đứng ra tố cáo”. Thuyền trưởng và mọi người cuối cùng cũng
đành đuối lý. Hai mẹ con được đưa vào ở một phòng nhỏ cuối tàu, gần
phòng máy, được chu cấp thuốc men và nước uống.
Trở về Mỹ Tho
Qua nhiều ngày lênh đênh trên biển, mẹ con bà Mai cũng về đến quê hương, lạy tạ người nữ ân nhân, hai mẹ con chạy nhanh về nhà.
Ngôi nhà nơi hai mẹ con trở về lúc này do Trương Tích
Kỳ cùng em trai của ông Trường quản lý. Bà Mai kể cho gia đình nghe
những niềm đau và nỗi khổ suốt mấy năm thọ tang ở Trung Quốc, những ngỡ
nhận được sự chia sẻ của những người thân yêu ruột thịt, nhưng thật bất
ngờ khi con trai và chú ruột của Phụng Hảo lại không muốn cho cả hai ở
lại nhà mà còn định mua vé tàu đưa bà và Phụng Hảo trở lại Trung Quốc.
“Mẹ phải về với các em!” - người con trai nói. Còn người em chồng thì
bảo bà Mai phải về chăm sóc mộ phần của ông Trương Nhơn Trường. Đau đớn,
tức giận, bà đành đưa bé Phụng Hảo rời khỏi căn nhà thân yêu mà suốt
bao năm bà đã cùng chồng gầy dựng.
Bà Mai dẫn Phụng Hảo về tá túc với bà ngoại ở chợ Giồng
Nhỏ, Mỹ Tho. Từ lúc bà Mai cùng các con về thọ tang ở Trung Quốc, bà
ngoại của bé Phụng Hảo sau một cơn bạo bệnh đã bị mù lại rất nghèo khổ,
phải sống nhờ sự giúp đỡ của dòng họ. Bé Hảo phải ngày ngày mò cua bắt
ốc phụ giúp mẹ nuôi ngoại.
NSƯT NAM HÙNG
nguồn_tuoitreonline:http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/500260/Phung-Ha---100-nam-bay-gio-moi-ke.html
---------------------------------------------------------------------------------
Phùng Há - 100 năm bây giờ mới kể
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để
xả stress
Kỳ 2: Cô đào trong lò gạch
TT - Năm 1923, phong trào đờn ca tài tử nổi lên khắp
nơi ở Mỹ Tho. Bé Phụng Hảo sáng đi bán trái cây, chiều đi học thêm, tối
xin phép mẹ đi nghe đờn ca tài tử...
>> Kỳ 1: Tuổi thơ cay đắng
| Nghệ sĩ Phùng Há và Ba Vân trong vở Khi người điên biết yêu - Ảnh tư liệu gia đình |
12 tuổi, Hảo thích thú khi được nhìn những nghệ sĩ,
nhạc sĩ mặc áo dài đen, đầu đội khăn đóng, bốn người ngồi bốn góc hình
chữ bát, người ca ngồi ngay chính giữa trên bộ ván gõ; nhạc thì gồm:
kìm, tranh, gáo và cò. Năm Phụng Hảo 13 tuổi, công việc bán trái cây hết
sức cực khổ nhưng gia đình cũng không đủ sống, hai mẹ con xin vào in
gạch cho lò gạch của ông Bang Hoạch.
Có những trưa hè oi ả, tiếng hát thánh thót của bé Hảo
đã giúp cuộc sống của công nhân lò gạch thêm vui. Có những đêm mưa rả
rích, người ta nghe văng vẳng tiếng hát phát ra từ căn nhà lá của bà già
mù ở xóm Chợ Giồng.
Tài hoa lộ diện
“Chuyện lạ lùng” ở Mỹ Tho
Ngày khai trương ban hát Huỳnh Kỳ như một ngày lễ hội,
apphich, băngrôn treo rợp trời trên đường phố và chợ Mỹ Tho. Hai ghe bầu
loại chở lúa lớn nhất được huy động để chở tranh cảnh, phông màn và
nghệ sĩ, công nhân đậu tại bờ sông Mỹ Tho. Bạch Công Tử với bộ comlê màu
trắng, đội nón màu trắng cùng cô đào Phùng Há trên chiếc xe hơi mui
trần hiệu Fiat Sport từ bungalow (khách sạn) ở bờ sông chạy chầm chậm
tới chợ Mỹ Tho - nơi ban hát Huỳnh Kỳ khai trương. Pháo nổ vang rền,
người xem đứng chật hai bên đường, trẻ con thì hò reo inh ỏi, có người
nói rằng: “Từ cha sanh mẹ đẻ đến bây giờ mới thấy chuyện lạ lùng như
vậy”.
|
Có phải những đau thương ngang trái của cuộc đời mà
tuổi thơ đã nếm trải khiến bé Hảo dù không biết nhịp của bài hát là gì,
bài hát điệu gì, nhưng khi cô bé cất lên tiếng hát thì ai bi não ruột.
Tiếng đồn bay xa, ông Hai Cu - chủ ban hát Tái Đồng Ban - tìm đến nhà
xin được nghe bé Hảo hát.
Thật lạ lùng! Bé Hảo hát một số bài trong ba Nam sáu
Bắc rất đúng điệu. Giọng hát lời ca trong trẻo ngọt ngào, có lúc lại
hùng hồn, có khi lại bi ai thống thiết. Đoán được tương lai rực rỡ của
cô bé, ông đề nghị ký bản hợp đồng với số tiền 20 đồng trong ba năm (một
số tiền rất lớn đối với người nghèo vào thời đó). Vậy là Phụng Hảo về
ban hát Tái Đồng Ban, bà Mai được theo con ăn ở khỏi tốn tiền.
Qua nhiều tháng luyện tập ca cho đúng nhịp, hát cho
đúng điệu, Phụng Hảo được nghệ sĩ Tư Chơi vừa dạy đàn, vừa dạy ca. Còn
về diễn xuất do nghệ sĩ Năm Châu hướng dẫn. Đến năm 14 tuổi, Phụng Hảo
đã có tên trên bảng quảng cáo với nghệ danh Phùng Há. Tên Phùng Há do bà
Mai đặt từ âm hưởng Phụng Hảo mà ra.
Vai hát đầu tiên của Phùng Há trên sân khấu Tái Đồng
Ban là vai Giả Thị - vợ của Hoàng Phi Hổ (trong tuồng Hoàng Phi Hổ quy
châu của soạn giả Nguyễn Công Mạnh). Khán giả Mỹ Tho đã đổ xô đến xem
ban hát Tái Đồng Ban diễn tại nhà lồng chợ Mỹ Tho, chứng kiến cô bé
nghèo ở lò gạch ngày nào hát trên sân khấu. Bà Mai nghẹn ngào xúc động
nhìn con gái y quang rực rỡ, mỗi khi cất lên tiếng hát mọi người đều
chắc lưỡi hít hà.
Năm 1926 khi Phùng Há được 16 tuổi, đã vững vàng trên
sân khấu, để đền ơn đáp nghĩa người đã có công luyện tập giúp đỡ rất
nhiều cho Phùng Há nên danh, bà Mai đã đứng ra gả cô cho nghệ sĩ Tư
Chơi.
Vào chốn đoạn trường
Nghệ sĩ Tư Chơi là một nghệ sĩ tài năng, đẹp trai, hát
hay, đàn giỏi. Ngoài Việt văn, Pháp văn ông còn giỏi Hán văn. Sau này
ông sáng tác nhiều vở cải lương rất nổi tiếng với bút danh Huỳnh Thủ
Trung - tên thật của ông.
Nhưng cuộc đời có mấy ai biết được chữ ngờ. Đôi trai
tài gái sắc chỉ chung sống với nhau trên đôi năm, có được một bé gái bụ
bẫm đặt tên là Bửu Chánh thì gia đình xảy ra những bất hòa, tranh cãi
quyết liệt và cuối cùng là chia tay mỗi người mỗi ngả.
Cô Phùng Há về đầu quân cho ban hát thầy Năm Tú ở Mỹ
Tho, kép Tư Chơi ở lại ban hát Tái Đồng Ban. Cô Phùng Há được đón tiếp
nồng hậu, hợp đồng tốt, lãnh lương cao và là đào chánh đóng cặp với nghệ
sĩ Năm Châu.
Hôn nhân tan vỡ, năm 1928 nhiều nỗi đau đớn khác còn
dồn dập đổ xuống cuộc đời cô đào trẻ: bà ngoại mất do tuổi cao sức yếu
và người mẹ thân yêu cũng qua đời tại nhà thương Mỹ Tho. Chơi vơi một
mình giữa bao nhiêu chông gai khắc nghiệt của cuộc đời, cô Phùng Há 18
tuổi đành gom góp tiền bạc nhờ người đưa con gái Bửu Chánh về làng Hạt
Sơn, Trung Quốc gửi cho các anh chị chăm sóc và lo việc học hành.
Đau đớn như ai cắt từng đoạn ruột khi nhìn người ta
bồng bé Bửu Chánh xuống tàu. Nhớ lại ngày nào cô cùng mẹ trải qua cơn
thập tử nhất sinh giữa muôn trùng sóng dữ. Giờ đây cô chỉ biết chắp tay
cầu xin trời Phật cho con được bình an khỏe mạnh, ăn học giỏi giang. Rồi
một ngày không xa, khi cuộc sống được ổn định cô sẽ đón con về quê mẹ
thân yêu.
Làm dâu đốc phủ
Bạch công tử tên thật là Lê Công Phước (tự là Phước
George) sinh năm 1901, quê quán Chợ Gạo, Mỹ Tho, con của ông Lê Công
Xủng - đốc phủ Mỹ Tho. Ông đốc phủ có hàng ngàn mẫu ruộng cò bay thẳng
cánh, hàng trăm tá điền, ghe bầu chở lúa gạo đậu chật cả một khúc sông,
có cả một dãy phố mua bán cạnh chợ Mỹ Tho.
Phước George là con trai duy nhất của ông đốc phủ với
người vợ trước. Mười mấy tuổi, Phước George đã được cha cho đi du học ở
Pháp, gần 30 tuổi mới trở về nước, được ông bà đốc phủ giao cho quản lý
gia sản. Công tử Phước George có dáng dấp của một thư sinh mũi cao,
trắng đẹp; tính tình phóng khoáng, rộng rãi, bặt thiệp, có thể tung tiền
bất cứ ở đâu, bất cứ nơi nào, thường họp mặt bạn bè ở các nơi như nhà
hàng, vũ trường, sòng bạc, sòng me..., rất được tình cảm của nữ giới và
bạn bè.
Bạch công tử thích nhất là nhảy đầm, xem cải lương,
nghe đờn ca tài tử. Ban hát thầy Năm Tú diễn ở đâu, cậu đều có mặt. Bạch
công tử rất thích tuồng Mộc Quế Anh dâng cây mà người đóng vai Mộc Quế
Anh phải là cô Phùng Há. Cậu thường nói: “Cô Phùng Há ở ngoài hiền hậu,
nhu mì nhưng khi bước ra sân khấu cô sáng đẹp lạ lùng, lúc thì uyển
chuyển khi uy nghi lẫm liệt như một tướng quân lâm trận”.
Khi ban hát thầy Năm Tú lên Sài Gòn diễn tại rạp hát
Moderne gần chợ Bến Thành, ban hát diễn bao nhiêu đêm thì Bạch công tử
có mặt bấy nhiêu đêm. Sau khi vãn hát, Bạch công tử thường mời cả đoàn
ra nhà hàng ăn uống rồi lại trở về Mỹ Tho, hôm sau lại có mặt. Cứ đều
đều như thế, khi cần ở lại đêm thì công tử thường ở khách sạn
Continental.
Cách ăn chơi của Bạch công tử khiến ông bà đốc phủ rất
lo lắng. Ông bà muốn cậu phải lấy vợ. Ông bà sẽ tìm những cô gái giàu
sang quyền quý, môn đăng hộ đối hoặc đẹp nhất trong vùng nhưng Bạch công
tử nhất quyết từ chối và xin cho cậu cưới cô đào hát. Ông đốc phủ quyết
liệt phản đối, cương quyết không chấp nhận cô đào hát về làm dâu. Không
được như ý muốn, Bạch công tử ăn chơi nhiều hơn, có khi nhiều ngày
không về nhà, bà đốc phủ phải cho người đi tìm kiếm khắp nơi. Bà khóc
lóc van xin ông đốc phủ cho Phước George được toại nguyện cưới cô đào
hát.
Vậy là cô bé nghèo khổ ở xóm Chợ Giồng ngày nào nay
nghiễm nhiên là dâu của ông bà đốc phủ, là vợ của Bạch công tử giàu sang
nhất xứ. Cô đào hát về sống chung với gia đình ông bà đốc phủ, bà đốc
phủ rất thương cô bởi tánh tình hiền lành chân thật. Năm 1928, Bạch công
tử bàn với gia đình là ông sẽ lập một ban hát. Và năm 1929, sau nhiều
tháng tập luyện, ban hát khai trương với bảng hiệu Huỳnh Kỳ tại nhà lồng
chợ Mỹ Tho (Mỹ Tho ngày xưa chưa có rạp hát).
Một cuộc sống mới xán lạn mở ra trước mắt cô Phùng Há. Nhưng cũng từ đây, vinh hoa và cay đắng đeo bám cuộc đời cô...
NSƯT NAM HÙNG
nguồn_tuoitreonline:http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/500421/Co-dao-trong-lo-gach.html
---------------------------------------------------------------------------------
Sẽ xóa những comment nói tục
Thinhoi001
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Chú ý: Điền vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
Sẽ xóa những comment không phù hợp
Thinhoi001