Thứ Ba, 6 tháng 8, 2013

Trương Quang Đệ - Trung Quốc và phương châm: " Một mà hai, hai mà một"

Trương Quang Đệ - Trung Quốc và phương châm: " Một mà hai, hai mà một" 

   at 8/06/2013 09:55:00 AM
Trương Quang Đệ

Trong cuộc sống chung khó khăn với người Phương Bắc, các mối quan hệ diễn ra thường rất phức tạp. Giới cầm quyền nước ta chủ trương kiên trì “mười sáu chữ vàng”, tránh mọi căng thẳng về chính trị ngoại giao. Trong khí đó ngư dân lo lắng thấy ngư trường thu hẹp, tính mạng bị đe doạ, tàu thuyền bị bắt giữ, đập phá. Dân chúng trong nuớc thấy kinh tế có nguy cơ bị lũng đoạn, tài nguyên thất thoát. Giới trí thức ngán ngẩm thấy những nhà quân sự Trung Quốc luôn đưa ra những luận điệu diều hâu chống Việt Nam và một số “học giả” chủ trương cứng rắn về lãnh thổ, luôn về hùa với chính sách bành trướng bằng mọi giá hiện nay.


Bài này bày tỏ một cách dè dặt quan điểm của một công dân bình thường, một “kẻ thất phu” trước cảnh nước nhà gặp cơn thử thách khốc liệt. Theo kẻ thất phu này, muốn biết tình hình diễn biến ra sao, ta cần tìm hiểu xem triết lý chủ đạo của người Phương Bắc là gì? Khác với Phương Tây, nơi con người  tư duy và lập luận theo kiểu Descartes, tìm cội nguồn sự việc mà xét đoán tương lai, người Trung Quốc thường tin tưởng một cách giản dị vào một số châm ngôn ngắn gọn, được chấp nhận mà không hề tìm hiểu sự chính xác đến đâu. Chẳng hạn ngày trước ai cũng thuộc lòng “Nhân chi sơ, tính bản thiện” và ít có ai đặt câu hỏi xem câu đó đúng hay sai so với đời sống thực tế bên Tàu cũng như bên ta.

Từ ngày nổ ra cách mạng văn hoá và cao trào chống Liên xô  xét lại đến nay, dẫu về hình thức chính trị Trung Quốc có ít nhiều thay đổi, nhưng về triết lý chủ đạo của giới cầm quyền thì vẫn trước sau như một. Đó là phương châm nổi tiếng “Hai mà một,một mà hai” xuất hiện vào những năm 60 của thế kỷ trước. Theo cách lý giải của Trung Quốc, những kẻ  xét lại thời đó dưới ngọn cờ Khơrútsốp ở Liên xô và các đảng theo đường lối Liên xô có triết học chủ đạo là “hai mà một”, còn đối với cách mạng mao-ít thì tư tưởng chủ đạo là “một mà hai”. Thực vậy, nhũng người xét lại chủ trương chung sống hoà bình giữa các nước có chế độ khác nhau tức là coi hai phe đối kháng về ý thức hệ có thể hoà hợp làm một, dẹp sang một bên sự nghiệp đấu tranh giai cấp, cốt lõi của chủ nghĩa Marx.. Những kẻ xét lại còn chủ trương từ bỏ những quan niệm thịnh hành thời Lê Nin cho rằng mọi thứ đều có tính giai cấp. Liên xô dưới thời Khơrútsốp không quan niệm có hai nền khoa học khác nhau, một khoa học xã hội chủ nghĩa và một khoa học tư bản chủ nghĩa, mà chỉ có một nền khoa học chung cho loài người. Các nhà khoa học từng ủng hộ cybernetics và tự động hoá cũng như những người không theo học thuyết Mítchurin-Lysenkô mà ủng hộ Mendel-Morgan, những người lầm lỡ theo chủ nghĩa cấu trúc  vv... đều được ra khỏi cảnh o ép và được tiếp tục nghiên cứu khoa học. Trung Quốc giận dữ khi Khơrútsốp tuyên bố “Đảng của toàn dân”chứ không riêng của giai cấp công nhân. Tóm lại theo lý giải của Trung Quốc thì những người xét lại từ bỏ đấu tranh giai cấp, thoả hiệp với bọn tư bản vv.

Trong lúc đó, với học thuyết “Một mà hai” Trung Quốc đã lý giải những sự kiện trong nước và ngoài nuớc hết sức linh hoạt. Học thuyết này đến thời Đặng Tiểu Bình khi xẩy ra sự kiện đáng khâm phục “Một nước hai chế độ” (Hồng Kông trở về với lục địa năm 1997 mà vẫn duy trì chế độ tư bản trong vòng 50 năm) chứng tỏ tính ôn hoà của nó. Chủ trương “Một nước hai chế độ” từ bỏ dùng bạo lục để “giải phóng” những vùng lãnh thổ phân liệt như Đài Loan hay thuộc địa cũ như Ma cao, Hồng Kông. Những người có thiện chí trên thế giới đều hoan nghênh cái học thuyết “một mà hai” này. 

Tuy nhiên, trong cách mạng văn hoá, học thuyết “một mà hai” diễn ra cực kỳ khủng khiếp. Học thuyết này giải thích rằng trong nội bộ một cơ cấu, dầu đó là Nhà nước, Đảng cọng sản, đoàn thể quần chúng hay chỉ đơn giản một tập thể nhỏ, đều luôn có mâu thuẫn đối kháng trong xu hướng tách đôi. Chẳng hạn trong nội bộ Bộ chính trị Đảng cọng sản có người theo chủ nghĩa xã hội như Mao, Lâm Bưu…và những người theo đường lối tư bản xét lại như Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình…Sau khi dẹp được nhóm theo tư bản rồi (bức hại Lưu Thiếu Kỳ, giam giữ Đặng Tiểu Bình…)  nhóm Mao-Lâm lại tách làm đôi với việc Lâm tháo chạy nhưng không thoát.

Lịch sử Trung Quốc hiện đại chứng kiến cảnh phân rã kiểu “phóng xạ dây chuyền nhị phân” như vậy và chỉ chấm dứt khi trừ khử được “bọn bốn tên” và những phần tử cơ hội cực tả. Nhưng nền triết lý “một mà hai” vẫn luôn là tư duy chủ đạo của giới chính trị Trung Quốc. Hiên nay, “một mà hai” thể hiện rõ ràng nhất ở chỗ cùng một việc nhưng “nói khác, làm khác” như chuyện Biển Đông chẳng hạn. Trung Quốc luôn e ngại những đàm phán đa phương vì thấy khó áp dụng sách lược “một mà hai” trong những cuộc đàm phán đó. Ngược lại họ luôn kêu gào đàm phán song phương, trong vòng bí mật, để về sau họ nói thế nào cũng được mà đối tác, cũng vì bí mật nên đành câm lặng chấp nhận.

Nhìn ngược về lịch sử triết học Trung Quốc, tư duy “thấy vậy mà không phải vậy” đã có từ thời xa xưa trước công nguyên với những giáo huấn của Lão Tử trong “Đạo đức kinh”. Trong tác phẩm “Đại tượng vô hình” (La grande image n’a pas de forme), nhà triết học hiện đại Pháp F. Julien lí giải như sau: Lão Tử khuyên ta nên phân biệt cái “biểu hiện bên ngoài” (hình) và cái “thực chất “ (tượng). Đại tượng vô hình nghĩa là cái thưc chất quan trọng nhất không bao giờ thể hiện rõ, không có hình dạng nhất định. Trong “Đạo đức kinh” ta thấy những câu sau:

Hình vuông  lớn không có góc
Công trình lớn không thể hiện
Âm thanh lớn chỉ là âm giảm thiểu
Cảnh lớn không có dạng
………
Trên thế gian, muôn loài sinh ra từ cái có
Mà cái có lại sinh ra từ cái không.

Tóm lại, về mặt chiến lược xử thế, ai hiểu được “đại tượng”, kẻ đó sẽ làm chủ thế giới.

Tay cấm đại tương
Nắm được thế gian.

Rõ ràng tư duy nói trên  có giá trị hơn bao giờ hết trong thời cận hiện đại. Thế kỷ 19 cái “đại tượng” là thuộc địa : ai nhiều thuộc địa kẻ đó hùng mạnh. Đó là trường hợp của Nga, Anh Pháp Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Sau thế chiến thứ hai, Mỹ nắm dược “đại tượng” là công nghệ cao (công nghệ thôn tin, truyền thông, tự động hoá….) nên đã nắm vai trò chủ đạo trên trường quốc tế. Còn Trung Quốc hiện nay, cái “đại tượng” của họ là gì? Mọi người đề lo ngại thấy Trung Quốc có những hành vi  xa lạ với một đất nước yêu hoà bình. Lần lượt Biển Đông, Ấn Độ dương rơi vào tầm ngắm của họ với Đường lưỡi bò kỳ cục.Ta có thể đoán nhận mà không sợ mắc sai lầm rằng cái “đai tượng” của họ hiện nay là ‘thu gom nguyên liệu trên  thế giới” với suy nghĩ rằng tương lai ai có “đất hiếm” kẻ đó làm bá chủ.

Ai cũng biết trong hoàn cảnh hiện nay, hy vọng giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc thông qua vũ lực hay đàm phán song phương là không mang lại lợi ích gì. Nói thế nào để người ta trả lại các hòn đảo bị chiếm? Nói thế nào để họ không trấn áp thô bạo ngư dân? Bới vì họ nói vậy mà đâu phải làm vậy? Dầu muốn dầu không, cách giải quyết cuối cùng văn minh, khoa học, công bằng chỉ là đưa vấn đề ra Toà án quốc tế và các nước liên quan phải có thái độ văn minh chấp nhận phán quyết của những nhà chuyên môn. Giải pháp này đã được Philípin đề xuất dũng cảm và thông minh. Tuy vậy con đường dẫn đến cách giải quyết đó còn rất xa và trong khi chờ đợi, ta cần có một modus vivandi thoả đáng cho các  bên tranh chấp mà ai cũng biết, đó là các qui tắc ứng xử trên Biển Đông. 

Trước khi đến được Toà án quốc tế phải phát động một Toà án dư luận mạnh mẽ có khả năng thâm nhập được vào đội ngũ trí thức Trung Quốc và những từng lớp có thiện chí khác. Bởi lẽ chỉ có áp lực dân chúng trong một xã hội dân chủ cởi mở thì chân lí mới được sáng tỏ. Muốn vậy chúng ta sử dụng vũ khí “một mà hai” theo cách của ta. Trước hết, đó là tách quan điểm chính thức của Nhà nước ra khỏi dư luận quần chúng. Ta quen sống trong một môi trường chính trị mà mỗi người dân phải nói “theo giọng nhà nước” để đảm bảo sự nhất trí của xã hội. Cách đó khiến cuộc đấu tranh của ta suy yếu, vô vọng. Để đối chọi lại một thế lực mờ ám, bất nhất, ta cần một nền dân chủ, công khai, minh bạch trong một phương pháp ngoại giao linh hoạt nhưng lấy danh dự làm trọng. Đối với hai nhà nước, việc thương thảo, tranh luận cần phải công khai, có vấn đề lớn nhỏ gì đều phải cho báo chí biết rõ, thậm chí những yếu kém của mình. Với cách đó, những người cầm quyền phương Bắc hết cơ hội bóp méo thông tin, lừa dối dư luận.

 Một cách ứng xử “một mà hai” khác là phân biệt người dân với chính quyền.Khi hai nước xích mích, lịch sử cho biết việc kỳ thị kiều dân là hạ sách và bất công. Nước Mỹ trong đại chiến II kỳ thi kiều dân Nhật, kiểm soát gắt gao cuộc sống của họ đến ngạt thở. Sau này nhà nước phải chính thức xin lỗi vì thực tế kiều dân Nhật không hề làm điều gì bất lợi cho Mỹ. Cũng trong thế chiến II, kiều dân Đức ở Nga bị kỳ thị tàn nhẫn hơn nhưng thực tế họ chẳng làm gì nên tội cả. Đến thời cởi mở những năm 80 của thế kỉ trước, báo chí mới đề cập đến việc đó và giải oan cho những kiều dân này. Ở ta, sau 1975 khi nổ ra xung đột Trung-Việt, nhà nước đã có những chủ trương hẹp hòi đối với người Hoa. Trên thực tế, đối với cách mạng Việt Nam, người Hoa rất có công. Trên giá sách của tôi có những cuốn sách nói rõ điều đó. Truyện “Bà mẹ Trung Hoa” trong tập truyện ngắn Nguyên Hồng kể lại sự hy sinh cao cả của một bà mẹ người Hoa ở Hải Phòng những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Trong cuốn “Người Mỹ trầm lặng” của Graham Green, chẳng phải là ai muốn liên lạc với Việt Minh đầu đến Chợ Lớn tiếp xúc với Hoa kiếu đó sao? Gần đây cuốn “Hương Sơn” (La montagne des parfums) của một tác giả Pháp dựa trên cuộc đời thực của một trí thức Hải Phòng bạn của Vi Huyền Đắc, kể lại những cảnh cảm động ở thương cảng này với những gia đình kháng chiến được cộng đồng người Hoa đùm bọc. Như vậy ta thấy trong “một Trung Hoa” hai thực thể khác nhau. Một bên là giới cầm quyền với những ý đồ nào đó, bên kia là người Hoa ở hải ngoại cũng như trong nước không có ý đồ gì hơn là sống yên ổn, thân thiện với mọi người và chí thú làm ăn.

Rõ ràng trong cuộc đấu tranh khó khăn để giữ vững chủ quyền lãnh thổ, cũng như để phát triển xã hội về vật chất và trí tuệ, một  nền dân chủ thực sự là điều kiện tiên quyết. Nó tạo ra một thứ ánh sáng mà các thế lực màu xám sẽ chùn tay.

Cũng trên cách nhìn “một mà hai”, ta tìm cách rà soát lại một số khái niệm đã từng ăn sâu vào tiềm thức của ta. Hai khái niệm nổi bật nhất mà ta cần rà soát ngay là “văn hoá” và “lịch sử”. Văn hoá Trung Hoa từ lâu đã trở thành di sản của toàn dân. Văn hoá đó giúp ta tiếp cận với y học cổ truyền, văn chương, nghệ thuật, minh triết, lễ nghĩa. Nhưng văn hoá đó cũng mang lại khá nhiều tiêu cực cho ý thức con người. Quả vậy, nho giáo chủ trương sùng bái người xưa, trật tự có sẵn mà không tính đến suy nghĩ, sáng kiến cá nhân, lọai trừ suy nghĩ độc lập, xa lánh những hình thức độc đáo. Khía cạnh văn hoá này tạo ra chủ nghĩa giáo điều cố hữu, dị ứng với cái mới, làm địa hạt vững chắc cho chủ nghĩa AQ. Mặt tiêu cực khác của văn hoá nói trên là tôn sùng sức mạnh, coi chân lý thuộc về kẻ mạnh (Mao từng nói đại ý: súng tạo ra chính quyền hay chính quyền ở đầu ngọn súng).  Như vậy, việc tìm cách thoát ra khỏi ảnh hưởng tiêu cực của văn hoá phương Bắc sẽ góp phần bảo vệ đất nước, dân tộc. 

Trong cuộc đấu tranh gian khổ này, khái niệm lịch sử đặt ra một cách nóng bỏng. Từ hàng ngàn năm qua, giữa Trung Quốc và ta những sự kiện lịch sử diễn ra vô cùng phức tạp. Về nhận thức lịch sử, giữa ta và Trung Quốc có khác biệt nhiều về vũ trụ quan. Ta thường nghĩ về Trung Quốc qua những ấn tượng như anh em, hữu nghị, đồng chí, bành trướng, xâm lược, dối trá,…và điều kỳ lạ là những ấn tượng ấy tồn tại cùng một lúc. Muốn cho cuộc đấu tranh đạt đến kết quả tốt đẹp, nhất thiết phải làm sáng tỏ những ấn tượng ấy. Những ấn tượng mâu thuẫn, sai lệch phần lớn do ta tạo ra để tự lừa dối hay để tuyên truyền, không đúng với thực chất vấn đề. Các học giả và những người có thiện chí đôi bên cần hợp tác thành thật để xây dựng một cách nhìn lịch sử khách quan và nhân ái. Một cuộc chiến nào đó trong lịch sử cần được hai bên nhất trí đánh giá như nhau, chứ không phải một bên thắng, một bên thua như hiện nay. Chỉ có những cách làm quảng đại như vậy thì việc tranh chấp lãnh thổ mới được giải quyết êm thấm. Lịch sử cho biết  những tham vọng thực dân, bá quyền, bành trướng cuối cùng đều có hậu quả tai hại cho các dân tộc.

Tác giả gửi Quê Choa
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả
nguồn:http://www.diendantheky.net/2013/08/truong-quang-e-trung-quoc-va-phuong.html
=======================================================================

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Chú ý: Điền vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
Sẽ xóa những comment không phù hợp
Thinhoi001