Thứ Tư, 12 tháng 12, 2012

HẠT ƯƠM HƯ (1 - 9 hết)

Hạt Ươm Hư [1]

|
Phần 1, Phần 2

Chương 1.
Cuối tháng hai, năm 1975…
Khi trái bóng từ góc phạt trái ở cuối sân bóng đá, vút bổng lên cao, mọi cái đầu đều nhìn ngược và ngước lên cao, rồi chạy ùa vào khung thành, tranh trái bóng.
Chợt nhiên, mọi người khựng lại, khi nghe tiếng gầm rú trên không thật gần của hai chiếc chiến đấu cơ. Khi trái bóng vừa rơi xuống sân, giữa khung thành, cũng là lúc hai chiếc chiến đấu cơ chúi đầu xuống và từ trong bụng nó rót ra hai trái bom đen ngòm. Trong tiếng rít xoáy tai ấy, tích tắc, sau đó, hai tiếng nổ rền vang.
Bọn thanh niên rú lên hãi hừng và bỏ chạy tán loạn, quên cả nhặt trái bóng da rất quý hiếm đối với họ.
Tuấn vơ vội cái áo cộc, chạy thục mạng về nhà.
Đó là hai trái bom do Không quân của quân lực Việt Nam Cộng Hòa thả xuống, hòng phá hủy cây cầu Bống ở Nha Trang, để chận đường tiến quân của quân Bắc Việt đang ùn ùn tràn vào như nước vỡ bờ. Nhưng phi vụ không thành, hai trái bom đã thả chệt hướng rớt xuống làng chài xóm Bống.
Từ bên kiađèo Lương Sơn, những khẩu đội phòng không của quân đội Bắc Việt, bắt đầu phản pháo, nảđạn liên tục. Cả một bầu trời đang trong xanh, biến thành màu đen của những đám khói bay lỡn vỡn. Hai chiếc chiến đấu cơđành thúc thủ, bay trở ngược về phi trường Cam Ranh.
Không khí chiến tranh đang lan tỏa, chết chóc đang thành hình. Cả tuần nay, mọi tin tức chiến sự như một cái nồi súp-de sắp bùng vỡ.Huế, Đà Nẵng thất thủ! Qui Nhơn di tản. Quân đoàn 2 ở Buôn Mê Thuột vỡ tan và đang triệt thoái bằng con đường liên tỉnh lộ 7 B, theo lệnh tổng thống Nguyễn Văn Thiệu rút về Nha Trang tử thủ.
Những tin tức này, Tuấn đã nghe trên radio mấy ngày nay, nhưng tuổi trẻ vô tư, anh cứ mãi miết chơi. Không khí chiến tranh đã quá quen thuộc trên quê hương đói nghèo này, vì thế, con người Việt Nam dường như vô tư, khi không khí ấy nó chưa kéo tới nơi họ ở, để phá cho tan hoang mọi điều. Bây giờ, Tuấn đã bắt đầu sợ! Chiến tranh đang kéo tới nơi anh cư ngụ, một nơi chưa từng xẩy ra trong trí nhớ ở thời thơ ấu.
&
Diên khánh, một thị trấn nhỏ cặp sát Quốc lộ 1, còn gọi là phố Thành. Thị trấn này, trong thời chiến tranh Quốc & Cộng ít xẩy những vụ đánh lớn, họa hoằn lắm, thi thoảng, mấy ông du kích về gài mấy trái mìn ở quận, khi rút ra, bị chận lại và thường để lại vài xác chết, với cái quần xà loỏng duy nhất trên người. Chính quyền thường để những xác chết này ở ngã ba A Ùi, để thân nhân nhận diện, đem về chôn cất. Mấy ông du kích cũng là dân trong quận, trong làng cả, nên chính quyền cũng làm ngơ để thân nhân họ nhận xác, mà không bắt bớ. Mỗi khi có những xác chết như thế, tiệm phở, bánh bao của ông A Ùi vắng tanh khách cả tuần lễ. Người dân sợ mùi máu tanh của những xác chết còn vươn đọng lại trong không không khí thanh tao của khu phố. Ông A Ùi, thường vê vo cái bụng bự như nồi phở của tiệm, la trời hởi, trời ơi.
Còn sao gọi là phố Thành?
Phải dài dòng chỗ này chút xíu. Năm 1793, sau khi đánh chiếm được Diên Khánh từ tay nhà Tây Sơn, Chúa Nguyễn Ánh đã cho xây dựng trên vùng đất, khi ấy còn heo hút, một căn cứ quân sự và khu dân cư được vây quanh bởi một tòa thành. Từ đó đến nay, gọi là Thành Diên Khánh. Thành Diên Khánh được bao bọc bốn hướng, với: Cửa Đông, Cửa Tây, Cửa Tiền, Cửa Hậu; mỗi Cửa như vậy đều xây lên một cái thành. Mỗi cái thành, là độc đạo đi vào cổng thành, hai bên đường là hai cái hồ nhân tạo rất sâu, sâu cả hơn chục thước và bề dài thì gấp đôi. Cuối hồ là một con lạch nhỏ khoảng vài thước bề ngang, chạy dài mấy cây số thông qua các Cửa khác; và cứ như vậy, bọc thành Diên Khánh. Do đó, thành như một cù lao nổi, xung quanh toàn là nước với nước. Thành cũng có mái cong vút, hai bên thành là những bệ cấp để đi lên, trên có lính gác đủ để đi hai hàng dọc ngược chiều. Bề dày của cổng thành gần chừng chục thước, bề ngang từ bốn đến năm thước, đầu và cuối cổng thành là một vòng tròn ở trên. Vì dày và hẹp như vậy, nên mỗi khi gió thổi, nó kêu u u và mát lạnh. Bốn hồ ấy thông nhau, chảy ra con sông Cái ở Cửa Tiền.Vì thế, khi xưa, Hoàng đế Quang Trung nhiều lần xuất quân đánh nhưng bất thành. Thời VNCH cũng vậy! Mấy ông du kích, nhiều lần muốn tấn công đánh vào quận Diên Khánh, nhưng bất thành.
Mấy ông Việt cộng thấy khó vào thành, họ bèn nghĩ cách: lặn xuống nước, ngậm ống sen, bơi từ bờ bên này sang bên bờ thành. Giữa một cái ao lớn nước tù đọng (vì lâu ngày, các ao không còn thông nhau bởi bùn), mấy ông Địa phương quân, thấy mấy cái ống sen trôi lừ đừ; họ chờ mấy ông du kích lên bờ mới làm thịt, hoặc khi lười, họ ném trái lựu đạn là xong đời mấy ông du kích, sáng hôm sau, những thây ma thằng Chổng nổi lềnh bềnh!
Để trả những mối thù này, mấy ông du kích, bèn gài mìn cho nổ tung những chuyến xe lam, ở những làng xã xa xôi. Người dân vô tội chết lãng nhách! Đôi khi, chính những du kích giết chết những bà con họ hàng của họ! Dĩ nhiên, chiến tranh là sự tàn nhẫn, điều đó ai cũng hiểu, nhưng có cần đi đến sự tận cùng của cái ác, là giết chết những người thân của mình? Mà dường như, dân tộc nào trên trái đất này, cũng đều hành xử như vậy! Sự tiến bộ của nhân loại về mọi hình thức, chỉ là một lá chắn để che chở cho sự ngụy biện, khi quyền lợi quốc gia chưa bị đụng đến. Càng văn minh, sự che dấu càng… hợp pháp hơn!
Qua bao bể dâu, sau thời hậu Trịnh Nguyễn phân tranh, bên ngoài Cửa Đông, là Cửa chính đi vào thành (ngày nay, là đi từ Nha Trang vô Thành, vô Cam Ranh…) là những rừng cây nhỏ hoặc những cánh đồng, lâu dần người dân xây nhà cửa lập ra khu phố, buôn bán. Đây là điểm đặc dị của phố Thành! Thông thường, mọi hàng quán, sinh hoạt dân sự, luôn dính liền với quân sự hoặc hành chánh, nhưng Thành thì riêng biệt hẳn hòi.
Chi khu cảnh sát, Hành chánh Quận, Trung tâm 3 nhập ngũ trại Trung Dũng, trường trung, tiểu học Diên Khánh nằm trong nội thành! Nghĩa là… dù bất cứ chính quyền đối nghịch nào, có vào chiếm thành thì thật là khó!
Vậy mà…
&
Khi hai trái bom rơi chệt hướng vào làng Chài, đó là điềm báo sự mất miền Nam? Điều đó chưa hẳn!
Chính quyền miền Nam Cộng Hòa, nghĩ thế nào khi cho oanh kích cây cầu Bống Nha Trang để chận đường Nam tiến của quân Bắc Việt!? Thật là một sai lầm tai hại! Họ đã không nghĩ đến con đường Cải lộ tuyến, người Mỹ đã xây, chạy ra đến tận đèo Lương Sơn, bên kia thành phố Nha Trang, mà nơi đó trước Hiệp định Paris, quân đội Nam Triều Tiên trấn đóng với hai sư đoàn: Bạch Mã (White Horse) & Cây Dừa (Coconut). Từ đèo Lương Sơn đổ dốc xuống ngoại thành của phố Thành, gần hơn Nha Trang đi xuống Thành.
Hay rút lui trên con đường Tỉnh lộ 7B, Buôn Mê Thuột, cũng là một sai lầm trầm trọng, như ném hai trái bom nơi cầu Bống?
&
Ở Thành, thường thấy những người điên! Có nhiều người điên, ở những trạng thái khác nhau.
Mụ Nuôi là trường hợp đau khổ nhất, ai cũng thương. Mụ có ăn học hẳn hòi – Năm thứ nhất Đại học Sư phạm – và lại đẹp nữa. Đôi vú của Mụ, không bao giờ đeo xú-cheng, lộ rõ hai cái núm tròn ủm, mịn màng, đã treo trên người Mụ sự nghiệt ngã của cuộc đời, từng nhiều lần bị hiếp dâm ở chợ lồng khi ngủ qua đêm. Mụ yêu một sĩ quan Võ Bị Đà Lạt (cùng trường, quê), anh đậu Thủ khoa, tự sát tại Bình Dương sau một trận công đồn của Việt cộng.
Ông Cường, 48 tuổi, chủ của một đại lý bia “Con cọp rằn”, theo đạo Vi Vô của thầy L.S.H. Đạo này, trên khắp đất nước, có rất nhiều người bị… tẩu hỏa nhập ma! Họ thích xuất hồn, phiêu diêu nơi miền cực lạc… nữa đêm giờ Tí! Hằng đêm, sau khi tọa thiền, sau 2 giờ sáng, ông vừa đi, vừa “sả thiền”, và bắn “điển” lên trời, để không giết linh hồn mộng mị… những con ma vất vưởng trên thế gian!
Binh nhất, Cai Dù, tức Cu dài, vô đạo, vô phái, cũng điên tận mạng! Nghe nói, Binh nhất, 18 tuổi, bị bắt lính, huấn luyện tại Trung tâm 3 trại Trung Dũng, chỉ vài tháng sau bị điên (hoặc khùng), gửi trả về địa phương. Ngày ngày, binh nhất Cu dài đi lang thang, ở truồng, với cái kèn “harmonica” thổi khúc quân hành, khoe chim đi giữa phố Thành khơi khơi! Nhìn con cu hắn, thiên hạ bắt khiếp! Nó to bằng trái bắp, cuối mùa thu gặt với nhúm râu ngô đen thùi lùi rũ xuống cuống. Người ta cũng đồn rằng: hắn ta, là tình nhân điên khùng với mụ Nuôi. Nhưng vì là tinh dịch khùng nên mụ Nuôi, không bao giờ có chửa.
Người tiếp đến là mẹ Tuấn. Bà không điên nặng, nhưng có từng cơn!
Còn lắm kẻ khùng và điên! Nhưng vì, họ sống trong nội Thành, nên Tuấn không rõ. Cái tuổi, ăn chưa no, lo chưa tới, hoài hơi mệt sức!
Dân ở Thành bảo: Tộc Việt , trong Bách tộc, đã diệt cả một hệ tộc Chàm, nay phải “hưởng” thành quả của… quả báo!
Bốn Cửa thành, được xây lên, bằng những viên đất sét, chồng khít lên nhau, rồi được ủ rơm, củi, và gỗ… nung chín thành gạch. Nó giống nhau, như Tháp Chàm ở Nha Trang.
Nhưng, kẻ điên, đặc biệt nhất là Bảy Rắn!
nguồn:http://www.danchimviet.info/archives/69704
======================================================================
Hạt Ươm Hư [2]


|

Phần 1, Phần 2

Chương 4.
Chưa một dân tộc nào có những cuộc chiến tranh dài lâu như dân tộc Việt Nam. Và cả sự chịu đựng của người Việt Nam, phải làm cả thế giới kinh ngạc lẫn bội phục.
Chiến tranh và đói nghèo, đã hút cạn kiệt trên thân xác con người Việt Nam vốn còm cõi, hơn 4 ngàn năm văn hiến. Giữ nước, giữ bờ cõi của Tổ tiên để lại, đã là một gánh vác nặng nề cho nhiều Nhân sĩ trí thức và người dân yêu nước. Một Nguyễn Trãi phải nén thù nhà, đưa tiễn cha là Nguyễn Phi Khanh qua Ải Nam Quan – như một dâng hiến tôi đòi và thần phục Bắc triều – để dốc lòng phù Chúa mới, quên chuyện thù nhà, phải trả nợ nước.
Nước Việt Nam hình cong như chữ S, chạy dài dọc bờ biển Thái Bình Dương, từ Ải Nam Quan tới Mũi Cà Mau, tài nguyên rất phong phú, là miếng mồi ngon, béo bở mà bọn phương Bắc rất thèm muốn, và vì đây là “Cửa Lớn” thông thương ra Thái Bình Dương qua eo biển Maclaca.
Bao ngàn năm, chúng luôn muốn thâu tóm mảnh đất giàu, đẹp và màu mỡ này, nhưng bao giờ chúng cũng thất bại nặng nề, dưới sự kiên trì, gan dạ với đất nước của con dân Việt.
Việt Nam luôn là một mảnh xương hóc, đâm vào cái yết hầu dơ dáy của gã Đại Hán to lớn, nhưng vô cùng thô bỉ! Do đó, bằng mọi cách, chúng phải tiêu diệt tộc Việt tìm đường ra Cửa Lớn.
Sự thâm nhập chủ nghĩa lai căng Tam vô của Cộng sản, bắt đầu từ thập niên 1930. Đảng CSVN thành lập ngày 03/02/1930 (thực ra là đảng CS Đông Dương), dưới chiêu bài độc lập và giải phóng dân tộc, do Hồ Chí Minh đứng đầu, giả danh ái quốc, qua hệ thống cộng sản quốc tế, tại miền Bắc; đã làm thay đổi cuộc diện xã hội và đời sống của nhân dân miền Bắc và sau này của miền Nam.
Vĩ tuyến 17 Bến Hải, là một vết chém nham nhở, thâm độc, và vô cùng đau đớn, trên thân thể Mẹ Việt Nam, bởi một chủ nghĩa lai căng mới vừa xuất hiện không lâu!
Sau những biến động lịch sử đã qua, và còn đang đến ở những vùng khác trên đất nước.Nhiều đêm, ngồi trước một màn hình tròn, nhỏ để sửa những cuộn film, Tuấn từng suy nghĩ thế. Là con mọt sách, như bạn bè thường gọi, anh luôn kiếm tìm những loại sách, vừa mới xuất bản ở Sài gòn. Đặc biệt, Tuấn mê Phan Nhật Nam như điếu đổ, và Duyên Anh!
Tuổi 17, chưa hẳn đã trưởng thành, nhưng cũng không còn là đứa con nít trí năng tồi tệ.
Tám tuổi, Tuấn mồ côi cha.Sau đó, Mẹ thì điên điên, khùng khùng, khi thấy những xác chết, sau khu vườn rộng mát của bà, là những con dân Việt bắn giết nhau đến tồi tệ, tàn ác.
&
Cả ngày nay, không hiểu vì sao Bảy Rắn thấy bồn chồn trong dạ, vừa làm, vừa ngồi không yên. Đưa đôi tay rắn chắc, nhanh nhẹn, hắn bào lướt trên mảnh ván. Những âm thanh “rúut, rúut” trên mặt gỗ nghe nhẹ tênh, thật ngọt.Bảy Rắn lẩm bẩm chữi thề mấy tiếng, rồi vứt cái bào trên mảnh ván, gạt mồ hôi trán.
- Đ.m! Giờ này, sao chưa thấy “mấy chả” vô kìa. Hay có sự cố gì đây?
Bảy Rắn leo xuống con “ngựa gỗ”, xỏ đôi chân cáu ghét vào dép, rút trong túi quần cái khăn trắng – vật bất ly thân – quấn ngang đầu, thít chặt lại. Hắn cầm cái bào gỗ, suy nghĩ lung lắm, rồi cẩn thận bọc lại lớp vải mỏng lận sau lưng, sẳn chai sơn đánh vẹc-ni, Bảy Rắn bỏ vào túi áo, đi ra ngã ba A Ùi.
Bấy giờ là buổi trưa.Trời nắng chang chang như đổ lửa, không một ngọn gió.Phố Thành im lìm trong không khí cực căng thẳng.Mọi nhà đều đóng cửa, im lìm trong cái nắng nóng chảy da thịt. Bảy Rắn chạy sang bên kia đường, nép vào tường của Chùa Thành, nơi các Sư nữ đang tu, ngóng mắt nhìn lên Đình dò dẫm.
- Mẹ! Tụi Nghĩa quân chéc ngủ trưa hết rầu!Trong lúc không biết làm gì, đi đâu. Bảy Rắn chợt thấy binh nhất Cu dài từ dưới cầu Ông Cạn lơn tơn đi lên! Gã vừa đi, vừa thổi khúc nhạc quân hành, mà gã đã bị khai trừ không lâu, sau khi nhập ngũ.
- Trời ạ. Thằng lạ đời! Bữa nay, lại bày đặt mặc áo! – Bảy Rắn lẩm bẩm.Đúng là lạ đời! Binh nhất Cu dài mặc cái áo không biết nhặt ở đâu, dài quá gối. Thấy Bảy Rắn đứng dang hai tay trước Chùa sư nữ, gã trố mắt, ngạc nhiên đứng khựng lại, nhìn Bảy Rắn. Lần đầu tiên, Bảy Rắn “dám” xâm phạm con đường đi của gã, sau “hiệp ước đình chiến”!
Đã lâu, sau một trận chiến gay go bằng đòn gánh, thúng và đá đất, dân chúng ở ngã ba A Ùi đã sắp xếp cho câu chuyện êm xuôi.
Chuyện thế này: Binh nhất Cu dài và Bảy Rắn là hai cực điên rất đối chọi nhau.
Cu dài thì ngơ ngơ, ngẩn ngẩn, thích ở truồng đi lang thang. Bảy Rắn vừa lươn lẹo, ma mãnh, lại vừa khùng khôn! Bảy Rắn thích ăn ngon. Cu dài lại thích ăn bông vạn thọ! Đường bên này là Trần Quí Cáp, có ngôi Chùa do các Sư nữ trụ trì. Trước Chùa xếp những hàng bông vạn thọ dài, hai bên cửa sắt.Cu dài mặc sức ngắt ăn. Bên kia là đường Phan Bội Châu, có những thùng nước lèo luôn bốc hơi nóng hổi, khiêu khích khẩu vị của ông A Ùi. Thế là, Cu dài chọn con đường bên Chùa mà đi; dĩ nhiên Bảy Rắn đi bên A Ùi vì thích ăn ngon.
Thường nhật, Cu dài sống bằng nghề gánh cá mướn quanh năm, khi những chiếc xe lam từ Nha Trang chạy lên Thành vào mỗi sáng sớm. Khi gánh đôi thúng cá, gã luôn mặc cái áo che khuất hạ bộ, xong việc, gã cởi áo xách cu đi về cây Dầu đôi ở xã Diên An. Bảy Rắn là dân thợ mộc nổi tiếng chính tông, ai ai cũng biết. Không hiểu sao, năm rồi, thi thoảng hắn cũng cầm cây đòn gánh ra gánh mướn cá, định chiếm “thị trường làm ăn” của Cu dài!
Thấy Bảy Rắn định chiếm thị trường làm ăn của mình, Cu dài tức tối, liền đổi chiến thuật thầm lặng! Sau những gánh cá tanh lờm mỗi sáng sớm, Cu dài với cây bút chì vắt ngang tai, đi từng nhà, gạch ngang, dọc, xéo từng số nhà treo ở mỗi góc, miệng lẩm bẩm những câu vô nghĩa.
Gã đi từ đầu phố đến cuối phố đường Trần Quí Cáp, nhằm mục đích kiểm soát hành vi xâm phạm giới tuyến của Bảy Rắn!
Chỉ có Đại tướng (hoặc Tổng thống, mới làm cái việc ấy – nhưng cũng chưa chắc- mới dám làm!) Vì thế, dân ở Thành gọi Cu dài là Đại tướng Lê văn Cu, và Bảy Rắn bị hạ xuống hai bậc: Thiếu tướng Bảy Rắn!
Thế là một trận thư hùng xẩy ra. Thúng, đòn gánh, đá đất… bay vun vút giữa sáng tinh mơ. Vì vậy, mấy bà bán cá mới phân định “biên giới” hai bên. – Cu dài bên đường Trần Quí Cáp, vì thích ăn bông vạn thọ của Chùa, Bảy Rắn bên kia A Ùi vì thích ăn ngon. Cấm xâm phạm chủ quyền giới tuyến… lẫn nhau!
Vậy mà hôm nay, thằng cha Bảy Rắn dám xâm phạm chủ quyền! – Cu dài buông cây kèn, hỏi.
- Thiếu tướng Bảy. Ngài chiếm mặt đường của tôi, rồi còn vung tay chận tôi là nghĩa làm sao? – Nói xong, Cu dài nhảy hai chân tanh tách như con khỉ đột. Thân thể gã nghiêng ngã, con cu lúc thò ra, thục vô như trái bắp đầy râu đen thui. Gã thổi khúc quân hành lớn thêm cho khí thế.
- Đại tướng cái con cặt gì mày. Thằng điên khoe cặt, thì có! Tao nhịn mày lâu rồi. Tại sao mày chọn con đường bên phải, còn tao bên trái?
- Thưa ngài Thiếu tướng! Tui không chọn, mà “nhân dân”… bán cá, chọn cho tui!
- Á, à… Mày khùng mà còn khôn! Mày có bao giờ thấy chiếc xe Lam nào, đậu bên đường lề trái chưa? Chỉ có thằng thực dân, đế quốc và bọn thuộc địa ngoan ngoãn! Hầu hết, xe phải đậu bên lề phải trước cổng Chùa. Mày đi với chính quyền, như một thứ bị bắt buộc, – mày – phải – đi – lề – phải! Như nó vạch cặt ra, bắt mày phải bú! Mày cướp cơm chim của ông!
- Có! Mấy ông tài xế đậu xe trước cái vòng cong của quán ông A Ùi, đậu lề trái, ngược ngạo coi đời như vung. Thưa thiếu tướng! Bây giờ tui nói thiệt: Ông bước qua bên kia A Ùi!
- Hừm… Tao không bước, mày làm gì tao!?
- Á, à… Ông xâm phạm “hiệp ước”. Tôi đánh thấy mẹ ông!
Vừa nói, Cu dài nhào tới, vừa thổi kèn, vung tay đấm tới tấp. Bảy Rắn lùi lại, vì biết, thằng cu to này, dĩ nhiên nó có đôi tay hộ pháp dũng mãnh. Hắn rút cái bào gỗ, dứ dứ.
- Tao bào cái mặt… điên tướng của mày, như bào tấm thớt, ngon ơ!
- Bào đi, bào đi… thử cái coi, biết liền, ngài Thiếu tướng! – Cu dài vỗ vỗ vào má nghe bành bạch thật to, thách thức.
Bảy Rắn nhìn cái lưng cong vòng, đôi vai chắc nịch thường gánh cá mỗi sáng sớm, rồi hắn nhìn xuống con cu của Cu dài đang ló ra, đong đưa. Hắn gờm gờm.
- Ông đếch thèm chơi nữa. Đồ… Chí phèo, bạo lực chân tay, óc lò xo, chập chùng lên xuống! – Bảy Rắn lậng lưng cái bào, định đi qua bên kia đường (mà ông A Ùi, vừa kéo cánh cửa vì nghe tiếng đốp chát của hai gã điên), đớp tô phở nóng tái, nạm gân gầu.
“Réét, réét…”
- Dừng tay, dừng tay… hai cha điên!
Bảy Rắn chợt té xuống, nằm quằn quại dưới lề đường, la ré lên, hai tay ôm đầu, với cái tang trắng nhuộm đỏ bên thái dương, rồi lẹ làng đút vào túi quần chai sơn đánh vẹc-ni!
Anh lính Nghĩa quân trong Đình chạy ra, với cái còi trên miệng, dí cây súng M.16 vào lưng hai kẻ điên, dẫn về Đình.
Bảy Rắn được ông anh xã trưởng bảo lãnh ra chiều hôm đó. Binh nhất Cai dù, tức Cu dài bị hốt về trại Trung Dũng, nơi vừa huấn luyện tân binh, cũng là nơi nhốt thường phạm.

Vừa được ông anh xã trưởng bảo lảnh ra, Bảy Rắn bước sang bên kia đường là chợ Thành, đưa đôi mắt rắn rà suốt từ đầu chợ, đến cuối chợ. Hắn nói như rên.
- Mẹ nó. Chờ mỏi con mắt!
Chiều bắt đầu buông tối, Bảy Rắn lùng sục lần nữa quanh nhà lồng chợ. Không thấy gì, hắn nhảy tót lên tấm phảng chặt thịt heo, cong mình nằm im.
Bảy Rắn lại vừa “xâm phạm chủ quyền bản địa” của binh nhất Cu dài. Dù Cai dù, đang ngồi tù!
Nằm một chập, không thấy động tịnh gì, Bảy Rắn bực bội, rón rén bước xuống tấm phảng chặt thịt heo, dạo thêm một vòng chợ. Hắn chợt thấy, trong một góc tối, dường như có bóng người đang ngồi nấp lấp ló sau gờ tường. Tưởng người đưa tin xuất hiện, Bảy Rắn mừng húm, chạy nhanh tới.
Thì ra mụ Nuôi đang ngồi chồm hỏm tiểu tiện! Hắn thất vọng, chửi mụ Nuôi.
- Mụ Nuôi. Mụ làm gì mà ngồi đái tồ tồ, nghe như nước suối đổ vậy?
Mụ Nuôi giật mình, kéo quần cái rột để che đôi mông trắng hếu. Mụ đứng dậy, trừng trừng nhìn Bảy Rắn. Mụ chợt nhớ, buổi trưa hôm nay, giữa Bảy Rắn và Cu dài có chuyện xích mích động chân tay đến đổ máu, Cu dài phải ngồi tù. Mụ điên tiết.
- Tui đái giữa chợ, chớ không đái vào cái mả cha nhàông nhé. Làm người ta hú hồn. Đồ điên!
- Mụ nói ai điên? – Bảy Rắn nhìn láo liên quanh lồng chợ, tính toán. Dường như, mụ Nuôi ngửi thấy sự đe dọa trong cặp mắt rắn của Bảy Rắn. Mụ nói lớn.
- Cái mả cha nhà ông điên, chứ ai. Tui thích đái ở đâu, đó là quyền của tui. Đây là nơi công cộng!
Bảy Rắn lấm lét xuống giọng.
- Nhưng mụ đái, nghe tồ tồ đến phát ớn!
- Ớn, hay thèm cái lỗ, gây ra tồ tồ? Ông làm gì, đêm hôm cứ rảo quanh chợ đến mấy bận. Không sợ, tụi Việt cộng đang sắp về tới nơi, nó cắt cái của quý… thèm cái lỗ gây ra tiếng động tồ tồ?
- Mụ Nuôi. Mụ giả điên hay điên thật?
- Bảy Rắn. Ông điên thật hay giả điên vậy? Bớ người ta… – Mụ Nuôi la toáng lên. Bảy Rắn hoảng hốt chạy thục mạng về nhà, quên luôn nhiệm vụ.
&
Thông thường, hằng đêm, muộn lắm chín giờ tối, cả nhà ông Năm đi ngủ. Một giờ sáng, chuông đồng hồ gõ bí boong, bí boong… Cả nhà thức dậy công tác vệ sinh và bắt đầu lên gác ngồi thiền đến hai giờ.
Chợp mắt hơn ba giờ nữa, Tuấn thức dậy. Trời còn tối, Tuấn phải cố gắng “retouch” cho xong cuộn film, trước khi đi đến trường. Cả tháng nay, trường học đóng cửa vì không khí sôi động của chiến tranh ngày càng cao.
Ngồi vào ghế chưa nóng chỗ, Tuấn nghe những tiếng vang vang.
- Chạy mau… chạy mau, chúng sắp tới rồi!
Ở những thành phố nhỏ, người ta không làm những cánh cửa sắt kéo ra, vào rất tiện và nhanh, mà là những thanh chắn bằng gỗ dày và cứng không thua gì những thanh sắt. Nó được lắp vào nhau, thẳng đứng, cở hai gang tay (20 centimet), thanh này nối thanh kia, được chốt bên trong bằng một cây vắt ngang. Vì thế, cánh cửa lúc nào cũng có những lỗ hỏng một đường dài, thẳng đứng.
Tuấn lấy cái cán cây bút lông vạch kẻ hở, nhìn ra.
- Úi chao! Người ở đâu mà chạy nhốn nháo thế kia! Lính có, thường phạm có, vừa chạy vừa tuột cả áo quần, súng đạn vất bừa bãi xuống lòng đường! Họ vừa chạy, vừa la toáng lên vì mừng rỡ lẫn sợ hãi. Lính thì sợ hãi vì đang tan hàng. Tù nhân thì mừng vì vừa thoát ra khỏi nhà tù.
- Việt cộng vào rồi, bà con ơi! Chạy thôi…
Họ chạy như ma đuổi, dáo dác tỏa tứ hướng. Ông Năm mở bung cánh cửa, chạy theo đoàn người hoảng hốt.
- Cậu chạy đi đâu vậy? – Tuấn hỏi.
- Ở nhà chờ Cậu… cách mạng về rồi!
Ông mất biến sau ngã ba chợ Thành.
Tuấn hoang mang.
- Mẹ nó. Cách mạng! Cách mạng, đã chôn vùi nửa triệu dân miền Bắc, cũng nửa triệu dân miền Nam, qua chiến tranh. Ta từng biết qua, đọc sách, báo, hình ảnh…
- A lô, a lô… Đại diện cách mạng lâm thời miềm Nam VN, đang tiến về Diên Khánh! Xin mọi người ở yên trong nhà, để quân cách mạng lâm thời dàn xếp, trị an thành phố! A lô, a lô…
Dường như, đó là tiếng nói của Bảy Rắn, Tuấn ngờ ngợ như thế.Tuấn nhìn ra, chỉ thấy sương lờ mờ. Đúng là Bảy Rắn, với cái tướng đi xiên xẹo như rắn của hắn, vai đeo cây a-ka 47 bá ngắn. Mặc Bảy Rắn nói, đám lính và thường phạm vẫn tháo chạy.
Khi bóng người cuối cùng còn sót lại chạy lạch bạch, túm hai vạt áo lính dưới hạ bộ. Chạy qua khỏi Bảy Rắn một đoạn, gã quay lại, với cây súng ngắn trên tay dấu sau lưng. Bất thình lình, gã đưa súng lên, dí vào trán Bảy Rắn.
- Thằng Thiếu tướng giả điên, giả khùng, Bảy Rắn kia. Mày vất cha cái loa và cây A-ka, cho tao được nhờ! Mày tưởng ở cái xứ Thành này, chỉ có tao: Đại tướng, và mày: Thiếu tướng là điên sao!? Mày lầm rồi, Bảy Rắn ạ! Nhiều, nhiều lắm… trên cái đất nước hệ lụy chiến tranh này!
- Mày… mày… không điên à? – Bảy Rắn bỏ súng xuống, run run hỏi.
- Tao trốn lính, bởi tao hèn. Tao sợ chết, đành giả điên! Nhưng tao không mải quốc, cầu vinh: “Ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản. Mày hiểu không!”
Binh nhất Cu dài, kẻ bị đào thải khỏi chiến tranh vì tật nguyền: tâm thần giả trá. Gã đưa nòng súng ngắn, lượm đâu đó, khi chạy thoát khỏi nhà tù, lần xuống yết hầu của Bảy Rắn bóp hai tiếng chát chúa, rồi vụt chạy đi. Bóng Cu dài loãng dần, như ma trơi trong màn sương.
Cả thân người Bảy Rắn bật ngữa về sau đánh cái “bịch”. Hai tay quơ quơ, như bắt những con chuồn chuồn trong cơn bão rớt, trước khi mưa chụp xuống. Dòng máu nơi yết hầu, sủi bọt. Những vòng tròn bong bóng màu đỏ, nhỏ tí lăn tăn phì ra… như con nít thổi ống đu đủ bằng xà phòng. Bảy Rắn trợn trừng đôi mắt.Bây giờ mắt hắn thật to, hai đồng tử mở rộng một màu trắng đục vàng, của kẻ nát rượu, bị bệnh sơ gan, không ti hí như mắt rắn thường ngày.
Trời chưa sáng, còn nhọ mặt người. Chưa ai kịp nhìn thấy kẻ sát nhân, cả lời hạch tội, ngoài Tuấn, vì cái dáng quen quen của binh nhất Cu dài, thường đi ngang nhà anh mỗi sáng, cầm cây bút chì quẹt, gạch, xóa những con số.
Cùng lúc, ông Năm chạy về, thấy Bảy Rắn nằm thẳng cẳng. Ông la lên.
- Đồng chí Ba Nhân! Đồng chí làm sao vậy?Ai bắn đồng chí?
- Thằng… thằng…
Bảy Rắn nghẹo đầu qua một bên, hai mắt trợn trừng, tay bắt chuồn chuồn rồi buông xuống nhanh chóng. Bấy giờ trên hai mép Ba Nhân, tuôn ra hai giòng máu đỏ thắm. Đây là máu thật. Không phải thứ máu, màu đỏ của vẹc-ni, mà hắn thường dùng để đánh lừa kiếp nhân sinh!
- Hắn tên Ba Nhân, chứ không phải Bảy Rắn. Có bao nhiêu Bảy Rắn ở miền Nam VN?
Tuấn tự hỏi và kéo tấm ván hở, đóng lại.
Như sau này, cái bóng ngã nghiêng của Cu dài, đầu bị cạo trọc lóc khi ở tù, sẽ đóng lại vĩnh viễn trong tiềm thức anh.
nguồn:http://www.danchimviet.info/archives/69708
======================================================================
Hạt Ươm Hư [3]


|

Phần 1, Phần 2, Phần 3
Chương 7.
Cái xác Bảy Rắn chưa kịp chôn, còn ở trong Vườn Trầu nhà ông Xã trưởng, thì hôm sau, một chuyện trọng đại xẩy ra.
Quân Bắc Việt đang tiến vào thị trấn Diên Khánh.
Đó là vào lúc sáu giờ, khi lão Tôn thức dậy và bắt đầu ghi nhật ký phố Thành, như thường lệ.
Trời sinh ra lão Tôn, có đôi tai và cái mũi “ó đâm” rất thính!
Những tiếng ù ù… gầm rú của xích xe tăng, đang bò qua cầu Sông Cái càng lúc, rõ dần. Lão Tôn đang viết dỡ dang trang sách, đút vội vào túi quần, nghểnh tai nghe ngóng, định vị trí. Lão tung cửa chạy ra ngoài đường.
Ông Năm, chủ tiệm hình “Bóng Tối”, cũng vừa dắt chiếc vespa ra khỏi nhà. Ông khởi động đạp cái bàn đạp bên hông xe, trèo lên. Lão Tôn kêu ré lên, đưa tay vẫy vẫy.
- Ông Năm. Chờ tôi với. Tôi đi cùng ông.
Lão Tôn thót người, nhảy lên đệm xe, ôm chặt cứng hông ông Năm. Chiếc xe lao vút đi về hướng Cải lộ tuyến, nơi có cây Dầu đôi vài trăm tuổi.
Bên kia cầu Sông Cái, hàng mấy chục chiếc xe tăng T.54, nòng pháo xếp xuống, kềnh kềnh như những con bọ hung, nối đuôi nhau tiến vào thị trấn Diên Khánh. Chiếc cầu do người Mỹ xây lên, để quân lính Mỹ và Triều Tiên di chuyển trong chiến tranh và đóng quân bên kia đèo Lương Sơn, trước kia, run bần bật. Chiếc trước chạy, chiếc sau nối tiếp, cứ thế, tỏa ra đầy khói đen. Đến những chiếc gần cuối, những cái xích của tăng T.54, cào lên một lớp nhựa đường đen thui, bắn vãi về sau. Bộ đội Bắc Việt, đội nón cối, nằm, ngồi đầy bên ngoài trên chiếc xe tăng, dáo dác nhìn ngược xuôi.
Qua khỏi cây cầu, đến ngã ba Cải lộ tuyến, bọn lính Tăng khựng lại. Chúng dò dẫm phương hướng.
Quẹo trái, hay quẹo phải?
Cái nòng súng T.54 đang nâng lên cao từ từ. Chợt nhiên, nó bắn một phát đạn. Nó bắn thị uy hay bắn “sảng”!?
Vừa khi ấy, một chiếc xe Jeep của Quân Cảnh VNCH, từ dốc cầu Ông Cạn, hú còi, chạy xuống chận đầu đoàn xe tăng. Ông Bé, Xã trưởng, anh họ gã Bảy Rắn – vừa bị bắn chết sáng hôm qua – rút cây colt 45 ngang hông, bắn ba phát lệnh, rồi đeo vào tay trái cái vòng vải đỏ. Ông móc trong túi áo ra một lá cờ Mặt Trận, cột chặt vào cây ăng-ten xe!
Chiếc xe tăng đầu tiên rống ga, cái nòng súng quay phải, trái liên tục như dò dẫm. Khẩu pháo T.54 hạ xuống từ từ, chĩa thẳng vào chiếc xe jeep của quân đội VNCH, chuẩn bị loạt pháo thứ hai. Khi cái cờ xanh đỏ của Mặt Trận, được ông Xã trưởng Bécột chặt trên cái ăng-ten chiếc xe jeep, gã lái chiếc xe tăng, chợt hiểu. Nó quẹo phải, theo gã Xã trưởng tiến về phố Thành.
Ông Xã trưởng nằm vùng hú còi, dẫn đường!
Gần tới cầu Ông Cạn, cảnh cũ cũng lập lại. Lớp nhựa đường bị bóc ra từng mảng, đen đặc bay về sau. Ông Xã trưởng Bé, xuống xe, điều khiển từng chiếc tăng qua cầu, vì cầu Ông Cạn nhỏ và hẹp.
Ông Năm đèo lão Tôn, lách lẹo qua cầu, giúp ông Bé Xã trưởng, điều khiển đoàn quân tăng qua cầu an toàn. Khi đoàn tăng, qua hết cầu. Ông Xã trưởng mới nói.
- Cái băng đỏ của anh đâu rồi?
Lúc bấy giờ, ông Năm mới nhớ đến khẩu hiệu ngầm, trong tổ chức, nằm vùng. Ông lấy ra tấm vải đỏ, cột vào cánh tay.
Không hiểu lão Tôn cố ý hay tình cờ, cũng có một miếng vải đỏ khá dài, bề ngang bằng ba lóng tay. Lão cột chặt vào cánh tay, đến nổi gân.
Ông Xã trưởng và ông Năm, ngẩn người nhìn lão Tôn.
- Ông cũng là…?
Lão Tôn không trả lời, vội trèo lên ghế chiếc xe jeep ông Xã trưởng nằm vùng, nhặt đâu đó, khi lính Cộng Hòa tan rã, tháo chạy rồi bảo.
- Trước mắt… trước mắt, như… chạy lửa! Ông Bé. Cái loa, ông để chỗ nào?
- Dưới chân ông.
Chiếc xe Jeep vượt đoàn tăng, vào ngã ba A Ùi, với cờ Mặt Trận!
- Việt cộng vào rồi!
- Không, cách mạng vào rồi!
Lão Tôn thầm nghĩ.Lão mỉm cười, tự khen cái sự thông minh của mình. Là người từng trốn chạy chiến tranh trước kia ở ngoài Trung, lão đã từng chứng kiến, cảnh những tên Việt cộng nằm vùng, khi có thời cơ cướp chính quyền, như chúng thường rêu rao. Chúng thường đeo băng đỏ để dễ nhận diện nhau. Là người lo xa, lão Tôn luôn luôn giấu một cái băng đỏ như thế trong người, ngừa hậu sự khỏi bị chết oan, khi biết chiến tranh ngày càng ác liệt. Thật ra, lão chẳng ưa gì CS. Vợ lão chết dưới tay chúng mà. Lão muốn an phận làm người, có cuộc sống an nhàn, nên lão phải thủ thân!
Lão ngồi trên hai cái gọng che gió, nắng mưa, của chiếc xe Jeep nhà binh, bắt loa nói huyên thuyên.
- Đây là Mặt Trận giải phóng miền Nam, đại diện cho chính quyền lâm thời. Quân Cách mạng đã giải phóng miền Trung, thoát ách Đế quốc Mỹ, Ngụy! A lô, a lô… Quân Cách mạng đang vào. Bà con ra chào đón đoàn quân cách mạng…
Qua khỏi chợ Thành, đoàn xe T. 54 chợt ngưng ngang ngay ngã ba. Cái ngã ba bề ngang trên bốn thước, chỉ đủ cho một chiếc xe jeep hoặc xe lam ba bánh chạy. Trước mặt chiếc xe tăng là những dãy nhà lầu.
Mà cái nòng nóng súng T.54 lại quá dài! Những chiếc xe tăng T.54, đứng khựng lại. Cũng lại cái ngã ba đường! Cái nòng súng T.54 lại bắt đầu bấn loạn, như khi vào ngã ba Cải Lộ tuyến. Cái nòng súng, càng lúc, càng quay lên cao.
- Ình!
Nó bắn một phát đạn hù dọa. Rồi một phát nữa như tức tối!
- Ình!
Khi thấy chiếc xe Jeep của ông Xã trưởng, quay ngược lại. Nó thốc tháo đâm đầu tiến tới.
Trước mặt, là tiệm Pharmacy của bà Hai Thơ. Chiếc tăng rấn lên, quên rằng cái nòng súng chưa hạ xuống. Nữa cái nhà đổ sập.Chiếc tăng ủi thêm vào, rồi nó lui ra.Đất đá, gạch ngói, rớt ầm ầm phủ cả chiếc tăng. Gã lái xe mất phương hướng, cái nòng súng quẹt qua, quẹt lại, hai căn nhà hai bên đổ sập cả mặt tiền. Hàng loạt chiếc tăng phải de lại. Chiếc đầu tiên mới đủ chỗ, rướn đi tiếp.
Trời sáng hẳn.
Khi đoàn quân Bắc Việt tiến vào hai con đường của phố Thành, mọi người ùa ra, đứng hai bên đường vẩy tay và la ó, như một lũ điên. Nhiều gã trai tráng trong phố, chạy ra leo lên những chiếc tăng reo hò vui mừng.
Từ trên căn gác lững, nơi Tuấn và một người anh thường ngủ, đang là Luật sư hành nghề ở Sài gòn; Tuấn nhìn xuống.
Hình ảnh đầu tiên, đập vào mắt anh, không là những chiếc Tăng T.54, mà là những lá cờ của Mặt Trận giải phóng miền Nam treo đầy! Những lá cờ này, được treo trước nhà, hay trên sân thượng của những Hoa kiều, sống rất lâu ở phố Thành!
Tổng Thống Ngô Đình Diệm, là một vị Tổng Thống anh minh.Ông rất đúng, khi ban hành nhiều sắc luật.trong đó có: Cấm người Hoa, nhiều mặt về buôn bán. Ông sợ số người Hoa ngụ cư này, thao túng kinh tế và lũng đoạn nền chính trị miền Nam.
Những lá cờ này, từ đâu ra, khi mà người dân phố Thành, lúc đó mới biết, đó là cờ: Mặt Trận Giải phóng miền Nam???
Tuấn nhìn đám người dưới đường đang vui mừng la ó, hò reo quân Bắc Việt, lẩm bẩm.
- Reo hò cho đã đi, rồi từ từ thấm đòn!
Tuấn nhìn đoàn xe tăng đang chầm chậm tiến vào. Anh nhìn thấy, dẫn đầu đoàn tăng là ông Năm trên chiếc xe vespa, sau đó là ông Xã trưởng cùng lão Tôn đang vung cái loa nói thao thao. Tuấn giật mình, hoảng hốt.
- Sao kỳ vậy? Lão Tôn là Việt cộng nằm vùng, mình không ngạc nhiên, nhưng lão Xã trưởng Bé mà cũng nằm vùng à?! Hèn chi, lão ta chứa gã Bảy Rắn giả điên, nhận bà con. Mẹ. Lão Tôn “chơi chẳng bao giờ đã”, như lời mụ Bốn Cao rao khắp phố cũng ghê gớm thiệt! Miền Nam sắp mất vào tay CS rồi!!!
Lão Tôn đưa cái loa, ngang cái mũi “ó đâm”, nói rổn rảng.
- Kính thưa đồng bào trong phố. Đây là đoàn xe tăng đầu tiên, của quân đội nhân dân chính quy, từ Hà Nội, đang trên đường vào tiếp thu Sài gòn. Họ đi đường xa, xin bà con ủng hộ quân đội cách mạng những gì có thể. Họ là bộ đội cụ Hồ! A lô… a lô… Bà con có nghe tôi nói?
Bà con có nghe tôi nói? Ai, chứ lão Tôn mà nói câu này, thì phải hiểu bằng một ý khác. Lão ghi vào sổ nhật ký là tàn đời trong giai đoạn tranh tối, tranh sáng này!
Tuấn đưa mắt quan sát.
Dân chúng bắt đầu đem mọi thứ có được mang đến tận những chiếc xe tăng, hân hoan dâng quà. Đám bộ đội còn rất trẻ, cở tuổi Tuấn, hí hửng nhận.Trên lầu cao, đám Hoa kiều liệng xuống những bao gạo nặng ký cùng đồ ăn, thức uống. Trên ban công nhà ông Thuận Thanh ném xuống những hộp sửa ông Thọ. Ông cố tình ném thật mạnh, vào đầu một gã bộ đội, rồi thụt người vào. Gã bộ đội trẻ, la ré lên, ôm cái đầu máu cùng hộp sửa ông Thọ, nháo nhác nhìn.
Tuấn lắc đầu, nhìn cái ban công nhà ông Thuận Thanh không một bóng người, chép miệng.
- Đồ vô hậu, ăn ở bạc ác. Hèn chi lão sinh chục đứa con gái, không trai!
Trời bắt đầu nóng.Cái nóng hừng hực lửa của bắt đầu vào Hè.
Đó là ngày 2 tháng 3, năm 1975.
Đoàn xe tăng nổ máy, bắt đầu di chuyển xuôi Nam, cho một hành trình kế tiếp. Ông Năm dẫn đầu đoàn xe, tiếp đến lão Xã trưởng Bé nằm vùng, cùng lão Tôn trên chiếc xe jeep với cái loa luôn luôn léo nhéo, trực hướng Cam Ranh.
- Chiến tranh và khói lửa đang chờ họ trước mặt. Liệu đám thanh niên miền Bắc mới lớn này, dù có chết, xác lấp đầy núi rừng Trường Sơn, do một chủ nghĩa ngoại lai du nhập, có bao người còn lại để nhìn thấy một Sài Gòn – Hòn Ngọc Viễn Đông – với ánh sáng chói lòa, tỏa khắp thành phố..
Ôi. Dân tộc Việt Nam, cả hai miền Nam, Bắc. Hãy bắn giết nhau đi, dù đồng chủng!
Tuấn thầm nghĩ.Anh bước vào nhà khép cánh cửa lại, anh ngồi xuống giữa nhà, nhập vào thiền và quên đi tất cả.
Một kiếp phù du!
&
Người con gái ông Năm, 21 tuổi, gọi Tuấn bằng anh, vì con cô cậu. Cô đưa cho Tuấn một tấm ảnh bằng lụa, nói.
- Ba bảo: Anh chụp lại tấm ảnh này, rồi rửa ra 200 tấm ảnh, cở 9×6. Phải xong chiều nay!
Tuấn mở mắt, đưa chân duỗi dài ra vì ngồi thiền khá lâu, rồi đứng dậy, cầm tấm ảnh.Đó là tấm ảnh của một ông già tốt tướng, râu trắng bạc phơ.Anh hỏi.
- Hình ai đây?
- Đố anh đấy!
Tuấn lắc đầu, chịu thua.
- Bác Hồ đấy nhé!
- Bác Hồ nào?
- Chính thị bác Hồ Chí Minh mà lị! Ba giữ tấm ảnh này lâu lắm rồi!
Tuấn nhìn kỷ bức ảnh lần nữa, anh không nghĩ: đó là ảnh ông Hồ. Anh nói.
- Đây không phải ảnh ông Hồ Chí Minh.Trong những tờ báo, cậu đặt mua ở Sài Gòn, Tuấn thấy hình ổng nhiều lần. Đó là khuôn mặt của một con cáo, hai tai vễnh như tai chuột, miệng thì nhọn, hơi hô, gầy đét như một kẻ nghiện thuốc lá rất nặng. Đây không thể là hình ông Hồ, một khuôn mặt phúc hậu, trái với ảnh ông Hồ trên các tờ báo Tuấn đọc hàng ngày.
- Nhưng rõ là Bác Hồ mà lại! Bởi vậy, ba mới kêu anh chụp lại, phóng ảnh 6×9, phát cho dân trong phố để… thờ!
- Mẹ kiếp. Cái dân tộc VN đến quái lạ.Thờ gì không thờ. Đi thờ một gã, đã giết chính dân tộc mình! Mậu Thân ở Huế, Hè Đỏ Lửa ở Quảng Trị, Bình Long chết thảm… không cho họ một bài học? – Tuấn định buột miệng, nhưng anh kịp dừng lại, nói lãng.
- Được rồi! Tuấn đi làm việc đây.
Tuấn biết, tấm ảnh đã được sửa, thêm thắt, cho đúng khuôn mặt của một Cha già lãnh đạo dân tộc!
&
Buổi chiều, ông Năm cùng lão Tôn trở về trên chiếc xe vespa. Bây giờ, lão Tôn là người sốt sắng nhất phố Thành.Lão đi vận động từng nhà, kêu gọi họ đến tiệm ông Năm, mua ảnh chủ tịch Hồ Chí Minh về thờ, không quên kèm thêm lời hù dọa.Người ta ùn ùn kéo đến mua ảnh.
Tuấn cố tránh mặt, leo lên căn gác lửng ngủ, nên không biết ông Năm bán một tấm ảnh bao nhiêu tiền.
Đang ngủ, chợt nhiều tiếng khóc thảm thiết từ dưới đường vọng lên, làm Tuấn thức giấc. Anh chạy ra ban công nhìn xuống. Một cảnh tượng làm anh đến sửng sờ. Trên con lộ nhỏ bốn thước chiều ngang, 500 thước chiều dài, bọc xuống ngã ba A Ùi. Anh thấy, trước mỗi nhà là một cái bàn thờ, với di ảnh Hồ Chí Minh, được trân trọng đặt giữa bàn, với hai cây đèn cầy hai bên, cùng bánh trái.
Tuấn thấycó người ôm bàn thờ quỳ khóc, như chính cha mẹ họ chết.Họ quỳ hàng loạt, như những công dân hiếu hạnh.
- Sao mà giống ngày Phật tử xuống đường ở Huế năm Mậu Thân!
Ô kìa…
- Bác Hồ ơi, là bác Hồ! Hu… hu… Bác sống khôn, thác thiêng, hãy về đây mà chứng giám! Bác chết chi quá sớm, để không nhìn thấy thành quả chiến thắng ngày hôm nay, Nam Bắc đã một nhà. Công ơn Bác, dân miền Nam chúng con một lòng trân trọng biết ơn! Hu… hu…
Đó là giọng khóc của mụ Bốn Cao. Mụ khóc nghe ghê, đến rợn tóc gáy, sởn cả da, gai gai! Nó nheo nhéo như cái loa ở phố treo vội vã hồi chiều, để tuyên truyền chiến thắng.
Lão Tôn tay trái đeo băng đỏ, tay phải cầm cây gậy quơ quơ, đang đi gần đó, thấy vậy bước tới. Vừa nhìn thấy lão Tôn, mụ Bốn Cao chụp vai lão Tôn, khóc nức lên đến thảm thiết.
- Ông Tôn ơi, là ông Tôn! Hu… hu…
- Nín khóc, nín khóc cô Bốn. Hôm nay là ngày đại thắng miền Nam, chớ nên khóc lóc làm mất không khí linh thiêng ngày cúng vái!
Mụ Bốn Cao nằm vật xuống, hai tay đập thùi thụi xuống đùi.
- Ông Tôn ơi, là ông Tôn ơi. Hu… hu… Sao hồi trước, ông không nói cho tôi biết, ông là người của Cách mạng, là người… của bác Hồ yêu quý của chúng ta… Tôi sẽủng hộông hết mình! – Miệng vẫn lu loa, mắt ráo hoảnh, mụ liếc nhìn lão Tôn, van lơn.
Lão Tôn khoái chí trong bụng, cúi xuống, nói nhỏ.
- Vậy, vẫn mùa hoa khế tím nhé, em Bốn Cao!
Tuấn đóng sập cánh cửa, buông câu.
- Rõ một bọn phường chèo nhơ bẩn!
nguồn:http://www.danchimviet.info/archives/69715
======================================================================
Hạt Ươm Hư [4]


|

Phần 1, Phần 2, Phần 3, Phần 4
Chương 10.
Buổi sáng, từ chín giờ, Xã trưởng Bé chở ông Năm chủ tiệm hình “Bóng Tối”; cùng lão Tôn, chủ tiệm may Tôn Tẩn, chuyên may áo veston, có nguồn gốc xuất phát từ Paris – nhưng chưa hề thấy ai đặt may – từ dưới ngã ba Cải lộ tuyến, ngay cây Dầu đôi, dẫn đầu đoàn quân xa của lính Bắc Việt, đợt thứ hai.
Đợt này, quân đội Bắc Việt xuôi về Nam hàng trăm, đến hàng ngàn những chiếc xe Môlôtôva của Nga, lẫn GMC của quân đội Mỹ bỏ lại. Có nhiều chiếc, kéo cả pháo phòng không phía sau xe; cùng hàng chục ngàn bộ đội chủ lực chính quy, áo quần còn nguỵ trang cây lá đeo đầy người. Họ xuôi từ hai phía. Một hướng từ Nha Trang đi lên, hướng khác từ bên kia sông Cái, Đại Điền Đông tràn vô. Họ nhập lại một thành đoàn quân, ngay cây Dầu đôi to lớn, tàn xum xuê có trên vài trăm tuổi.
Họ bắt đầu xuôi Nam,theo chỉ dẫn của lão Tôn trên cái loa vang rền.
Nhóm du kích nằm vùng bên kia Đại Điền Đông nhìn đoàn quân xa vẫy tay reo hò.
Tuấn nhìn thấy thầy Sinh, vai đeo miếng vải đỏ dẫn đầu đoàn quân.
Hồi Tiểu học, Tuấn có học qua ông ở lớp Năm. Ông nổi tiếng dữ đòn với học trò. Quỳ sơ mít là hình phạt nhẹ nhất của ông! Kế đến, là nằm trên con ghế ngựa dài, ông khệnh vào mông những tên học trò đáng trừng trị, bằng cây thước bảng dài hơn thước tây và rất dày. Hình phạt nặng nhất mà ông ít khi xử dụng, đó là bắt học sinh chụm năm đầu ngón tay lại, đưa lên để ông dùng cây thước bảng to lớn, quất mạnh xuống. Khó có tên học trò lì lợm nào chịu nổi qua ba thước, mà không xỉu! Sau, phụ huynh học sinh phàn nàn đòi kiện, thầy Sinh mới bỏ qua hình phạt cực kỳ độc ác đó.
Nhiều người cho rằng, đánh học sinh kiểu này dễ bị trụy tim. Không một đứa học trò nào, sau khi học qua ông rồi lên bậc Trung học, nếu có gặp ông ngoài đường, chúng quay lưng và không bao giờ chào.Thậm chí có đứa còn nhổ một bãi nước bọt trước mặt ông như khiêu khích, khinh thường rối bỏ đi.Sau đó, ông bị đuổi ra khỏi nghành Giáo dục, trở về quê nhà bên Đại Điền Trung, sinh sống bằng nghề nông.
- Những con chuột bắt đầu rời hang ổ, khoe ra hình hài gớm ghiếc! – Tuấn nhìn ông hằn học. Khuôn mặt rỗ, hai mắt “đá” nhau, như chữi lộn là một biểu hiện không mấy tốt trong tướng số! Anh nghĩ.
Đến ngã ba A Ùi, hai đoàn tẻ nhau đi mỗi hướng. Du kích địa phương, quẹo vào chợ Thành, rồi vào phố, lên thẳng Chi khu Diên Khánh.Quân bộ đội chủ lực trực hướng Cam Ranh thẳng tiến.
Xã trưởng Bé nằm vùng cầm lái, cái miệng lão Tôn không ngừng kêu gọi sự trợ giúp của dân chúng, trên con Quốc lộ 1.
Dân chúng đổ xô ra đường, tay cầm cờ Mặt trận quơ quơ, la hét đến điên khùng. Người ta bắt đầu tiếp tế mọi thứ.
Một rừng cờ, nửa đỏ, nửa xanh tung lên ngợp trời, cùng tiếng la hét dậy vang!
Người ta bắt đầu tràn ra cả lề đường, trèo lên những chiếc xe jeep lùn (của quân đội VNCH bỏ lại) ôm hôn thắm thiết mấy gã sĩ quan Bắc Việt. Đoàn quân xa vẫn chạy, nhưng rất chậm vì người người tuôn ra đầy con Quốc lộ 1.
Ông Năm tiệm hình “Bóng Tối” phải bước xuống chiếc xe jeep, dọn đường cho đoàn quân, nhưng không xuễ.
Đến trưa, xe bắt đầu kẹt cứng, dừng tại chỗ.
&
Khi lão Tôn ngồi trên chiếc xe jeep dẫn đường, do lão Xã trưởng nằm vùng cầm lái, đến xã Suối Hiệp, một cảnh tang thương đến rợn người! Những chiếc xe tăng hai hôm trước, cùng những chiếc GMC của Mỹ, nằm cháy xém đen dọc hai bên đường. Những xác chết của đôi bên nằm rãi rác nhiều nơi, trãi dài suốt đoạn đường đi.
Cam Ranh tử thủ, và nơi đây đã là đoạn đường giao tranh khốc liệt diễn ra.
Qua đoạn đường quẹo cua vào xã Suối Tiên, nơi có ngôi mộ của người Pháp – Bác sỹ Yersin – một đoàn quân hổn hợp, cũng xe jeep và xe nhà binh của chế độ VNCH bỏ lại khi di tản, nhập dòng. Đó là đám du kích hoặc nằm vùng, lẫn bộ đội chính quy miền Bắc chỉ huy, được bổ sung khi cuộc chiến mỗi lúc nóng bỏng hơn. Sau đó, là những chiếc xe tăng, vơi đi con số của hai hôm trước, do lão Tôn dẫn đường.
Thì ra, họ vẫn còn kẹt nơi đây! Lão Tôn nghĩ: Có lẽ đoàn xe tăng bị chận đánh ở xã Suối Hiệp, sau khi lão và ông Xã trưởng Bé chỉ đường đi tiếp vào miền Nam.
Lại kẹt cứng!
Lão Xã trưởng Bé phải quay đầu xe, chạy ngược về phía đoàn quân xa đang tiến quân hơn cây số, để điều chỉnh hướng đi. Khi đoàn quân ô hợp từ xã Suối Tiên đi qua hết con đường rẽ phải vào Nam, lão Xã trưởng mới rú ga lao chiếc xe jeep đi tiên phong, dò tình hình.
Cái miệng lão Tôn thật tài!
Xe chạy tới xã Thủy Triều, thuộc địa phận thị xã Cam Ranh.
Xe chạy bon bon, lướt gió, mà cái miệng của lão Tôn vẫn oang oang như thường.
Lại Mặt trận giải phóng miền Nam, Cách mạng thành công, đuổi đế quốc Mỹ, Ngụy… đang tiếp quản Sài Gòn! Lão dùng từ “tiếp quản” trơn tru, làm lão Xã trưởng hỏi.
- Tiếp quản là gì, ông Tôn?
- Trời đất! Ông theo Cách mạng bao lâu mà không hiểu nghĩa “tiếp quản”!?
Vừa khi ấy, một chiếc F.5 hay A.37 gì đó, từ Cam Ranh cất cánh bay lên. Phi trường Cam Ranh cách xã Thủy Triều vài cây số đường chim bay. Nên khi chiếc chiến đấu cơ vừa cất cánh, chưa kịp độ bình phi, thấy bên dưới là một đoàn quân xa Bắc Việt đang di chuyển vào Nam, nó chúi đầu xuống, thả một loạt bom phủ đầu, rồi cất cánh lên, chao đảo.
Lão Tôn hoảng hồn, mặt tím ngắt, khi nhìn thấy mấy cục sắt đen thui, rót ra từ cái bụng to ngoàm của chiếc chiến đấu cơ. Lão… đái ra quần! Lão nhớ thật nhanh, như một cuộn film quay lại, đầy tang thương cho chính gia đình lão.
- Cuốc, xẻng, dây kẽm gai, đạn a-ka… lão đã thấy nhiều, như vợ của lão đã bị giết trong nhà thương vì là Y tá, nhưng còn giữ được cái xác. Dù hôi thối! Nhưng đây là hàng loạt bom đang trút xuống trên đầu lão.Khó toàn thây, nói chi một xác chết hôi thối, được tìm lại sau tàn phá bởi bom đạn.
Lão Tôn biết, đã cùng đường. Lão đưa cái loa vào tai Xã trưởng Bé, hét lên.
- Lao xe xuống ruộng, lao xuống ruộng nhanh… ông Bé!
Chiếc jeep phóng mạnh, chồm lên, lao xuống ruộng.
Những tiếng nổ “ình ình” chói tai, đến đặc điếc, ù lên, kêu o o trong màn nhỉ của lão Tôn. Lão nằm im, nghe ngóng.Lão thấy âm ấm nơi đáy quần. Tưởng bị thương, lão đưa tay lần xuống, rờ. Thì ra, lão đã đái ra quần, lúc nào không hay!
Mọi thứ đều câm nín, trong một “sát na” của loạt bom nổ. Sau đó, là những tiếng “ầm ì” từ núi rừng trên dãy Trường Sơn, vọng lại, ngân dài, ngân dài…
Lão Tôn nằm im, mặt dập xuống ruộng, tai nghe ngóng. Cái mũi “ó đâm” hít, thở, liên tục.
- Dường như còn có mùi máu?
Lão hé mắt nhìn, không dám động đậy thân hình.Đó là kinh nghiệm, cho lão còn sống đến ngày hôm nay trong chiến tranh. Bên cạnh lão Tôn, ông Xã trưởng nằm vùng, mặt úp vào đất, nữa cái xương sọ, bị tiện đứt, như một vết chém thẳng, ngọt sớt, mắt mở trừng trừng. Lão Tôn hốt hoảng, mắt lấm liếc nhìn quanh.Lão bật người chạy.Lão chạy điên cuồng như trong mộng mị.Lão chạy tọt vào ruộng mía, nơi nhà máy đường Suối Hiệp đầu tư, núp.Lão ngước nhìn bầu trời quang đãng.
Khi chiếc chiến đấu cơ vừa gượng lại bình phi, hàng loạt pháo phòng không, sau đuôi những chiếc Môlôtôva, bắn tới tắp hàng loạt đạn.
Lão nhìn thấy thật rõ, chiếc chiến đấu cơ, tuôn khói, chúc đầu đâm xuống.
Một cánh dù màu cam bung ra, treo lơ lửng trên bầu trời đầy nắng.
Một tiếng nổ kinh hoàng, làn khói đen tỏa mù mịt bầu trời, nóng bỏng đến chết người.
&
Cái nóng đầu hè hắt xuống như như đun bởi củi lửa. Những bộ đội trẻ, mặt vắt ra sữa, ngồi chịu trận trong lòng những chiếc xe Môtôlôva hoặc GMC. Mặt họ đỏ gay, mồ hôi tươm đầy, ướt cả áo. Nhưng họ vẫn chịu đựng, ngồi cứng ngắt trong lòng xe, tay ôm súng, hoang mang. Quả thật, kỷ luật quân đội đến thế là cùng!
Tuấn đứng bên đường nhìn họ, không thù oán mảy may. Dù rằng, anh biết chế độ miền Bắc Cộng sản là một chế độ thối tha, qua những tờ báo, tiểu thuyết, hàng ngày đọc. Anh thương cảm họ hơn! Cũng như, anh thương cảm những người lính VNCH, sinh ra trong chiến tranh và bị hệ lụy bởi chiến tranh.
Cả hai phía, những người trai của đất nước, đã bị kéo vào chiến tranh. Một cuộc chiến ý thức hệ, do Cộng sản quốc tế giựt dây, qua một lãnh tụ “rước Voi về dầy mả Tổ”! Ở họ, cũng là lòng yêu nước vô bờ bến. Cũng chỉ biết xả thân: Chết cho một Việt Nam yêu dấu! Chỉ tiếc rằng: Họ chết cho một cái bánh vẽ rất lớn, mà họ không hề hay biết!
Tuấn biết rằng: Miền Nam, tự do về vấn đề báo chí và truyền thông, ngay cả biểu tình chống chính phủ đòi hỏi quyền cơ bản làm người, mà Liên Hiệp Quốc đưa ra cho mọi quốc gia, ký kết theo một trào lưu tiến bộ của nhân loại. Hiện tượng: Sư, Sãi xuống đường, đem bàn thờ ra chống đối chính quyền Đệ nhất, nhị Cộng Hòa, đòi hỏi cởi mở tôn giáo, hoặc Nhà báo ăn mày đòi tự do báo chí; Tuấn đã từng đọc qua trên các báo Sài Gòn.
Có lẽ, cuộc đời Tuấn được sắp xếp?
Mồ côi cha, từ năm tám tuổi, Tuấn “ở đậu” nhà Cậu, là ông Năm, tiệm hình “Bóng Tối”. Nói “ở đậu” cho bóng bẫy, chứ ở đợ, đúng hơn! Mười tuổi, Tuấn bắt đầu học rữa ảnh, và mười hai tuổi, anh bắt đầu ôm máy ảnh đi chụp lang thang. Những chiều, sau ngủ trưa, Tuấn thường ngồi đọc báo cho ông Năm, đang ngồi dạy anh làm ảnh trên vỉa hè, đường đi nhờ ánh nắng. Nhiều đứa trẻ ở tuổi này, chẳng đứa nào biết tình hình chính trị thời đó như Tuấn. Anh chắc chắn thế! Tuy nhiên, như bao đứa trẻ khác, Tuấn cũng ham chơi, và cũng bị những trận đòn, đến chết người.Những sợi dây điện của Mỹ du nhập vào Việt Nam, đã hằn vết trên lưng Tuấn, bởi người Cậu (mà sau này anh kể lại cho vợ, con nghe, đều khóc!).
Dường như, chiến tranh nó thiêu đốt mọi nhân ái con người. Nhưng Tuấn, được đọc và biết được nhiều thứ của tuổi đang ham chơi, hơn những đứa trẻ khác.
Tuổi mười bảy, Tuấn càng may mắn đi nhiều về vùng nông thôn để chụp ảnh. Anh hiểu thế nào là cuộc chiến tranh tương tàn. Nó vô cùng phi lí, đến mẫn cảm, cho hai phía thanh niên thời chiến!
- Tôi bảo vệ miền Nam của tôi. Xin Anh đừng xâm phạm, vì đã ký trên cái gọi là Hiệp Định Paris!
- Tôi đã ký. Nhưng Đế quốc Mỹ, vẫn còn hiện diện ở miền Nam, chúng tôi phải đánh!
Đó là lời ngụy biện của chính quyền miền Bắc! – Tuấn nghĩ thế! Vì thế, những thanh niên ăn cái bánh vẽ to tướng, không tưởng, lao vào cái chết như những con thiêu thân!
Họ còn trẻ.Rất trẻ… như Tuấn.Ăn chưa no, lo chưa tới, với tuổi đang lớn, để hình thành một thanh niên vào đời.
Rất tiếc. Họ như những trái còn rất xanh, bị dấm dúi, ủ trong những cái khạp, hòm rương, cho chin tới ngoài dự kiến, nhưng không bao giờ… chín rủ ra, như thiên nhiên! Nó chin dấm! Nó tàn héo, sượng sùng giữa chừng, đen đến khiếp…
Guồng máy chiến tranh là một cái gì đó, tồi bại nhất trong lịch sử loài người!
Thế nhưng, loài người cứ bám theo như một loài đỉa: không mặt, mũi, tay chân, hình hài… để hút máu nhân loại.
Tại sao???
&
Ông Năm, chủ tiệm hình “Bóng Tối”, trở lại hiện trường đang tắc nghẽn giao thông, bằng mấy “két” bia Budweizer, chất dưới chân, trên chiếc vespa của Ý. Không biết, ai ai của cái xứ VN này có còn những lon bia Budweizer, thời trước 1975, chứ ông Năm còn rất nhiều! Thời trao đổi, bán buôn với người Triều Tiên, ông có mọi thứ hàng Quân tiếp vụ, cả đô la xanh quân đội Mỹ dùng trong chiến tranh tiêu xài, ông có hàng đống. Ông không uống bia, nhưng vẫn giữ, theo thói quen người Việt dành đó, để đãi khách quý.
Ông bê đến chiếc xe jeep lùn, đang tắt máy chờ đợi, nói.
- Chào đồng chí! Tôi là người đại diện của Mặt Trận miền Nam, xin biếu đồng chí uống giải khát!
- Cái lầy là cái gì?
- Bia của tụi Mỹ, uống khoái lắm!
- Bia, sao lại trong non? Phải là ve chứ! Giống quả lựu đạn chầy, giựt bằng dây thế! Ừ. Để tớ thử nhé. Thứ này, ngoài ấy hiếm lắm đấy!
Ông Năm mở lon bia, kêu “bịp”.
- Ga (s) nhiều quá nhỉ!
Ông Năm nhìn cầu vai gã sĩ quan, hỏi.
- Ông anh cấp bậc gì vậy?
- Đại tá, quân đội nhân dân! – Gã hớp ngụm bia, nói. Tiếp.
- Ối dà.Bia lày nặng đấy! – Gã xuýt xoa.
Ông Năm “Bóng Tối” rút ra tấm ảnh, dí sát vào mặt gã Đại Tá, hỏi.
- Đồng chí, biết ông này?
- Úi nao! Đây nà đồng chí Bộ Trưởng, bên Ngoại Giao! Sao ông có?
- Ổng này, là anh rể họ tôi!
- Hả…?
Gã Sĩ quan, phun ngụm bia, lỏ mắt nhìn ông Năm.
- Đồng chí, có biết ông này?
Gã Đại tá nhìn kỷ, lắc đầu.
- Tôi chưa thấy ông lày! Lày… ông Bộ Trưởng Ngoại giao, là anh rể ông, thật à?
- Còn bà này? – Ông Năm không trả lời, chìa tấm ảnh khác.
- Hình như không quen!
Ông Năm đưa tấm ảnh sát mặt gã Đại tá, nhắc.
- Ông nhìn kỹ lần nữa, xem sao!
Lần này, gã Đại tá thốt lên.
- Tôi biết bà lày! Một du kích quân. 16 tuổi, đã hạ sát tên Xã trưởng Ngụy ác ôn ở Bình Định, được đưa ra Bắc, là chiến sĩ thi đua ba Miền!
- Nó, là em gái họ tôi!
- Ông… Không, không… Đồng chí đùa chắc!
- Tôi, đại diện Mặt trận giải phóng miền Nam, tôi không đùa, như ông nghĩ.
Ông Năm lại đưa tấm ảnh lúc trước, gã Đại tá không nhận ra ai là người trong ảnh. Ông Năm nhấn mạnh.
- Đại úy Trường Sơn, người điều khiển chuyến đi trên con tàu X, mang súng đạn tiếp tế của Nga, Tầu từ miền Bắc vào Phan Rang thành công. Tôi có đi thăm ông ấy, năm 1963.Sau bị lộ, phải đi đường bộ trở về miền Bắc thành công.
- A. Tôi nhớ rồi! Đúng nà Đại úy Trường Sơn. Bức ảnh quá cũ, tôi không nhận ra. Đồng chí nà gì của ông ấy.
- Ông ấy là anh ruột tôi! Tôi thứ năm, ông ấy thứ hai, trong gia đình.
- Tôi báo cáo đồng chí một tin không mấy vui. Khi trở lại miền Bắc, sau chiến công oai hùng ấy, đồng chí Trường Sơn đã được Đảng và Nhà nước ta thuyên chuyển qua bên bộ phận Hậu Cần. Tức bên Anh Nuôi, no cho bộ đội.
- Hậu Cần, Anh Nuôi là gì vậy, đồng chí?
- Nà… nà… no bên quân nhu. Như tiếp tế áo quần, thực phẩm và mọi thứ cho chiến tranh.
Ông Năm “Bóng Tối” mặt buồn so, tiu nghỉu!
Ông cứ nghĩ, anh ông sẽ có mặt trong đoàn quân đầu tiên, bước trên con Quốc lộ 1 Diên Khánh như ông ta từng hứa, với người em ở lại nằm vùng, chờ đợi ngày khải hoàn.
Ông Năm “Bóng Tối” thất vọng, hoàn toàn thất vọng. Ông bỏ đi không nói một lời nào!
&
Những kỷ niệm trên 20 năm, lần lượt, trở lại nơi ông Năm ”Bóng Tối”…
Năm ấy, ông 15 tuổi, nhưng to lớn dềnh dàng, như một chàng thanh niên trưởng thành. Anh của ông, Đại úy Trường Sơn sau này, còn cao to hơn ông, lúc đó tên là Hai Sơn.
Thời đó, bọn Tây gạch mặt Ma Rốc, thường nhũng nhiễu dân lành ở những vùng quê. Chúng từ Nha Trang, đem quân kéo lên Diên Khánh, hãm hiếp đàn bà, con gái. Dư âm của Tướng Trịnh Phong để lại, luôn là nỗi khiếp đảm còn sót đọng. Vài tuần, bọn Pháp cứ kéo lên hành hạ dân chúng, dù dũng tướng Trịnh Phong đã bị tiêu diệt từ lâu!
Ngay cây Dầu đôi, có trên vài trăm tuổi, nơi đó, có một cái miếu thờ Ngài. Lên hơn chút nữa, ngay cầu Ông Cạn, là Đền thờ của Chí sĩ yêu nước, Trần Quý Cáp, đã bị chặt đầu nơi đây.
Đất Khánh Hòa: Cọp đầy rừng, Trăn vắt mình đeo cây, thòng xuống như cái võng, rồi tát nước, bắt cá ăn, không là một truyền thuyết.
Mẹ Tuấn, em kế ông Trường Sơn, năm ấy 16 tuổi, chạy không kịp với người cha là Xã trưởng, kiêm thầy thuốc Bắc, cùng một đàn em còn nhỏ dại. Bà bị chúng hiếp.
Nỗi ám ảnh đó, luôn thù hận, đeo trên vai Hai Sơn. Ông thề rằng, sẽ đánh bọn Pháp gạch mặt đến giọt máu cuối cùng. Ông quyết định “lên núi”, chống Thực dân Pháp. Ông cùng bạn bè rút lên núi Đồng Bò, chờ đợi thời cơ.
Trước khi đi, Hai Sơn vỗ vai em, nói.
- Quá lắm. Quá lắm rồi, Năm! Tao phải đi, Năm! Mày ở lại chăm sóc Cậu, Mợ, cùng con Ba đang điên điên, khùng khùng. Bao nhiêu năm trở về, tụi tao đéo biết! Phải diệt thằng Pháp, dành độc lập!
Thỉnh thoảng, Hai Sơn vẫn về đêm khuya, qua ngã Vườn Trầu, từ trên núi Đồng Bò đi xuống, nhận tiếp tế từ gia đình. Rồi sau đó biệt tin!
Năm 1954, đất nước chia đôi qua vĩ tuyến 17 ô nhục! Gia đình ông Năm “Bóng Tối”, nghe thoang thoáng, đám chống Pháp ở miền Trung và Nam, tập kết ra Bắc trên những chiếc tàu Ba-Lan của Liên Hiệp quốc, sau Hiệp định Geneve.
Năm 1963, qua tin mật báo giao liên, ông Năm được biết, anh ông, bây giờ là Đại úy Trường Sơn, sẽ lái tàu chở vũ khí tiếp vận cho chiến truờng miền Nam, qua đường thủy vào mùa mưa.
Bến đổ là ở một làng nào đó ở Lương Sơn. Nhưng con tàu lại lạc đến Phan Rang, trong cơn mưa bão. Qua giao liên báo lại, ông Năm đã gặp lại người anh, sau gần 20 năm xa cách.
Họ gặp nhau chốc lát, và mất liên lạc từ đó.
nguồn:http://www.danchimviet.info/archives/69718
======================================================================
Hạt Ươm Hư [5]


|

Phần 1, Phần 2, Phần 3, Phần 4, Phần 5,
Chương 13
Trận cuồng phong tiêu diệt “văn hóa đồi trụy miền Nam” vừa mới bắt đầu, do lão Tôn khởi xướng, qua ủy ban quân quản, đã làm căng lên tinh thần cả khu phố. Người dân trong phố bắt đầu sống trong sự lo âu. Họ dò xét nhau một cách kín đáo, và thu mình sống như một loài ốc mượn hồn, không biết bị kéo ra khỏi cái vỏ mỏng manh ấy bất cứ lúc nào. Họ vừa sợ lão Tôn, vừa muốn tìm cách đối xử thân thiện hơn với lão để lấy điểm.Cuốn sổ của “Thiên tào Tôn”, là nỗi ám ảnh rõ nét nhất đối với họ. Con thằn lằn đeo cột đình ngày nào… giờ oai ra phết, với cây gậy “thị oai” quơ quơ lên cao khi đi ngoài phố. Lão Tôn phong “thánh” cho mụ Bốn Cao với chức: Hội trưởng hội phụ nữ nhân dân xã! Lão cho rằng: mụ Bốn Cao xuất phát từ giai cấp bần cố nông vô sản, từ lò mỗ heo, lao động chân chất, sau vì sinh kế gia đình nên lao động cật lực hơn, bằng cách đi bộ lên tận núi Khánh Vĩnh, mua bán kiếm sống qua ngày, mới có địa vị như ngày hôm nay.
“Lao động là vinh quang.Chỉ có bọn tư sản mại bản mới sống trên xương máu của nhân dân lao động!”
“Mẹ kiếp! Tui lao động còn hơn mụ Bốn Cao. Hai vợ chồng đẩy hai chiếc xe nước mía đi khắp phố, làng mấy chục năm, mới có cơ đồ như ngày nay, mà lão Tôn vẫn bảo tôi là tư sản!”- Ông Thuận Thanh than van khắp phố.

Ngay trưa hôm ấy, lão Tôn bệ vệ trong bộ đồ Mao Trạch Đông bốn túi tự may, với sợi dây nịt “made in usa” to bản thắt ngang lưng; nhìn, giống như một con khỉ biến thái thành người! Lão loắt choắt, bé tí so với cái áo đại cán mùa hè, cùng cây gậy “thị oai” của núi rừng Khánh Vĩnh. Lão cầm loa đi khắp phố, ra lệnh mọi nhà phải nộp hoặc thiêu hủy sách báo ngay lập tức trước cửa nhà. Lẽ ra, công việc này không phải của lão, vì dù sao lão Tôn cũng là Xã trưởng, nhưng lão thích làm thế, như muốn răn đe mọi người và củng cố địa vị đang có.
Dường như, trong sinh hoạt hàng ngày, trong nhà lão có một việc gì đó, làm lão Tôn bối rối. Mấy hôm nay, lão lúng túng mỗi khi bước ra khỏi nhà.Hôm qua, lão xuống chổ ông Tư Cò lò rèn, đánh hai cái khoan bằng sắt, như cái còng số tám của Mỹ, khóa chặc cửa, trước khi đi. Lão lấm lét, nhìn trước sau, thấy an toàn rồi mới ngước mặt ngẩng cao nhìn ông Thiên, chễm chệ bước khoan thai.
Ông Trí, chủ nhà sách “Đức Trí” lớn nhất ở phố Thành, là người đầu tiên tự nguyện thi hành mệnh lệnh của lão Tôn.
Ngay trưa hôm đó, cả gia đình ông, chất tất cả sách, báo… toàn bộ tài sản bao đời gây dựng, ra trước nhà, rồi còn kêu lão Tôn đến làm chứng sự hủy diệt văn hóa miền Nam.Ông Trí chủ tiệm sách, tưới xăng đốt toàn bộ báo, truyện, sách ngay cả dụng cụ cho học sinh… trước mắt lão Tôn. Lão hài lòng vui vẽ bắt tay cả nhà, khen ông Trí là người thức thời đối với cách mạng luôn bao dung. Ông Trí khom người, bắt cả hai tay với mấy lượng vàng Kim Thành, gói kín kèm theo.
Ai lại đi đánh kẻ về với mình, vì thế, lão Tôn chẳng bao giờ để ý đến gia đình ông Đức Trí nữa. Lão còn khối kẻ đáng ngờ đang theo dõi, trong cuốn sổ “Thiên tào” trong bao năm qua, đã ghi, đã bình…
Mấy hôm sau, cả gia đình ông Trí, là những người đầu tiên đã vượt biên thành công sau hai tháng “giải phóng” miền Nam! Ba ngày sau, lão Tôn mới khám phá, khi cánh cửa sắt hiếm có ở phố, đóng im ỉm. Lão Tôn tức tối biết bị gạt, kêu bọn đầu bò, đầu bứu là đám du kích, du côn vào phá nát tiệm sách. Lão Tôn có lẽ cũng thu được một số chiến lợi phẩm bất ngờ, nên bớt hung hăn như mọi khi.
Mỗi sáng, khi ra khỏi nhà, lão Tôn kín đáo nhìn trước sau, rồi mới đi một vòng quanh phố, nhìn xem có nhà nào bỏ ngỏ vượt biên? Sau đó, lão xuống Đình, bước qua chợ ngồi uống ly càfê một chập, xắp xếp công việc cho bọn du kích, đoạn đạp xe đến trường.
Con mắt lé liêng, cộng cái mũi diều hâu gẫy gập, luôn ám ảnh ông Năm “Bóng Tối”, một thời từng là cộng sự viên đắc lực cùng lão Tôn, với một lý lịch mới toanh, lẫn lờ mờ về nhân thân. Ông Năm, bây giờ mới hoảng sợ. Ông bảo Tuấn.
- Thằng anh Luật sư của cháu, là một thằng phản động! Bao nhiêu cuốn “play-boy” của tụi Mỹ đem qua, tụi Đại Hàn tặng tao, nó đều giấu kín (lúc đó ông chưa tu tại gia). Tao nghĩ, nó giấu trong cái tủ sắt trên căn gác xép của cháu.
Lão Tôn, không là một thằng tầm thường. Cháu lên đó phá cái tủ và đem đi đốt mọi thứ sách báo, kể cả cái tủ sách gia đình!
Tuấn khômg trả lời. Anh đi lên căn phòng khách của ông Năm, dọn dẹp mọi loại sách, mà con gái ông, lớn hơn Tuấn ba tuổi, đặt mua hàng tháng. Tuấn chun vào cái lổ trên trần nhà, trước kia anh dấu cây Carbin M.2 vào đó. Anh chất những cuốn sách, chồng trên cây súng – sau khi “hôn” nó! Tuấn bắt đầu nạy những hộc sách bằng thép – một loại tủ bằng thép, của Mỹ đem vào miền Nam dùng cho văn phòng, chính phủ. Không một cuốn “play-boy” nào trong đó! Chỉ Lenin toàn tập, Nhật trung nhật ký, Vừa đi đường vừa kể truyện của Trần Dân Tiên, v… v…
Một thứ sách, báo hổn lốn… của cs! Những tờ báo được cắt ra, từ những tờ báo Tuấn thường đọc trước kia, như:
Trắng Đen, Con Ong, Sóng… Trên tờ Sóng, được vòng một vòng tròn đỏ: “Chu Tử phải chết!” – Chữ viết của ông anh Tuấn.
Tuấn tê tái cả tâm can! Anh ngồi bệt xuống sàn nhà, ôm đầu.
- Tại sao? Tại sao??? Trời ơi!!!
Một ông anh, mà Tuấn hằng kính mến thương yêu, dạy Tuấn làm người trong cuộc đời đau khổ này, khi anh, chị cùng ông bố độc thân (sau này lấy mẹ Tuấn, sinh ra anh và ba đứa em trai), dắt dìu nhau từ Bình Định chạy vào Diên Khánh, trốn lánh cộng sản, lại là người cộng sản, mang danh một Luật sư của chính quyền Sài gòn??? Tuấn khóc ngất!
- Ăn học cao để làm gì? Tu thiền để làm gì? Khi mà cái ác đang ngày một leo thang, đang khủng bố, gài bom, giết hại tập thể dân lành, mà một đứa “con nít” như Tuấn cũng nhìn ra!!!
Tuấn chán nãn, đạp cái tủ sắt, bước xuống căn gác, đi lênh bênh, rồi ghé vào Vườn Trầu nhà thằng Đại.

&
Dường như, đó là một linh tính báo “bão”!
Tuấn mượn con dao chặt trái dừa của nhà thằng Đại, lận sau lưng đến trường, vào buổi trưa. Từ khi ông bố thằng Đại bị chính quyền cách mạng đem đi biệt tích, không một thông báo, nó bắt đầu thù lão Tôn ra mặt. Đại ít đến trường, thường ở lì trong phố, ở cái nhà sát vách của lão Tôn, để mỗi trưa theo dõi lão.
Ngồi trong lớp học, Tuấn cứ nôn nao…
Tiếng guốc gõ đều đặn, như cái đồng hồ từng nhịp, từng nhịp, tích tắc… vang dần. Cô Mai, chủ nhiệm lớp Tuấn, gõ cửa bước vào lớp, nói nhỏ với thầy Sơn dạy Toán, rồi gọi Tuấn ra khỏi lớp.
- Em có thấy (lấy) hai cuốn tự điển Larouse?
Ra thế! Hai cuốn tự điển Larouse đã được nhiều người nhìn thấy và mơ ước được giữ nó, ở một thành phố nhỏ miền Trung này.
Ban nãy, trước khi rời khỏi nhà thằng Đại, Tuấn cố lôi nó đi đến trường, nhưng nó lắc đầu bảo.
- Tao chán cái chế độ dối trá đến tởm lợm này, không còn “từ” gì để nói. Thôi mày đi, đi. Mày còn cả tương lai trước mắt!
- Tương lai gì?
- Cách mạng Đỏ!
- Đ.m… mày, bỏ qua chuyện ấy đi.Đừng chửi tao. Mày phải đến trường, để nhìn lũ khốn nạn và nhất là, lão Tôn, thằng Ban bò… tụi nó đang đốt sách, chôn học trò!
- Dù Tần Thuỷ Hoàng, hay cs… có đốt hàng triệu, tỉ tỉ cuốn sách, nhưng lịch sử vẫn là lịch sử! Mày nên nhớ, thằng Mọt sách ạ. Nó sẽ còn đó, còn đó mãi mãi… Chưa hẳn, những thằng cs VN ngu, để ra cái chính sách hủy diệt toàn bộ sách báo miền Nam, mà chúng gọi là “văn hóa đồi trụy”; nhưng chúng chỉ tin và xử dụng những thằng Ngu như lão Tôn, Ban bò… – như chính chúng trước kia, khi mới đi theo cách mạng! Khi chưa leo, trèo cao lên đỉnh quyền lực, những thằng Ngu thích dùng thái độ và hành động bá đạo để lập công. Đó là điều dễ hiểu!
- Tao không muốn nghe lý luận cùn nhằn của mày. Tao muốn nhìn!
- Nhìn, rồi mày ghi, viết… sau này khi có điều kiện?
- Dĩ nhiên, nếu thế!
- Dân tộc Việt nam đã nhìn và đã ghi lại hàng tỉ nghìn trang sách trong thời dựng Nước và giữ Nước, hơn bốn ngàn năm lập quốc. Bọn bành trướng Trung quốc, đã thiêu hủy toàn bộ sách vở ghi chép ấy, nhưng chúng sẽ không xóa nỗi khẩu truyền dân gian của mọi dân tộc bị chiếm đóng và khai hóa của nền “văn minh” xâm lăng. Những Anh hùng, Liệt nữ được truyền tụng mãi mãi mãi về sau, là do dân gian, tức nhân dân bây giờ! Mã Viện thua trận chạy trốn, chun trong ống đồng, có thật không? Chun trong một ống đồng từ Trung quốc nối sang Việt nam, hay cái ống đồng dài cả chục thước, mà họ đi cướp nước khác mang theo, ngừa hậu hoạn sẽ chết xứ người!? Nhưng tất cả hậu duệ chúng ta đều biết, thắng Tàu không bao giờ chiếm được VN, qua khẩu truyền dân gian! Tao chẳng cần nhìn và ghi lại. Con cháu tao, tự chúng sẽ biết qua dân gian truyền khẩu đi vào tâm khảm họ, để lại con cháu đời sau…
Tuấn lắc đầu nhìn cô Mai ngạc nhiên. Giác quan Tuấn thật nhạy! Anh tiên đoán đúng phốc. Thằng Ban bò đã báo cáo tất cả.Thằng Đại thật đúng, khi nhìn cặp mắt của Ban bò đang bắt đầu thay đổi. Nó đã bán đứng Tuấn, để củng cố địa vị đang có và cái chức Đoàn trưởng đoàn thanh niên cs Hồ chí Minh đã ám ảnh Ban. Giờ này, Ban bò chưa có mặt trong lớp, tất nhiên, hắn đâu đó trên văn phòng giám thị hoặc trong thư viện còn ngỗn ngang sách báo, mà Tuấn không muốn nhìn. Tuấn bỏ mặc cô Mai đang chăm chăm nhìn anh suy nghĩ, Tuấn chạy thẳng lên thư viện nhà trường. Anh rút con dao chặt dừa dấu sau lưng, nắm chặt cán trong tay. Thì ra Ban bò vẫn còn ở thư viện. Tuấn xộc vào với cái dao trên tay, chạy tới định chém Ban bò. Hắn đang ôm đống sách cao ngất, vội ném tất cả số sách vào người Tuấn, bỏ chạy thoát thân. Mấy đứa con trai nhào tới ôm chặt Tuấn cùng con dao. Bấy nhiêu năm đi học, Tuấn nổi tiếng ngoan hiền và học cực giỏi, chưa bao giờ đứng hạng tư trong tổng số gần 50 học sinh trong lớp. Cũng chưa bao giờ, Tuấn đánh lộn với bạn bè. Biết mình nghèo, mồ côi cha năm tám tuổi, sống như ở đợ với người cậu ruột, Tuấn luôn luôn phấn đấu và học hành mong thoát khỏi kiếp nghèo, nên vô cùng chăm chỉ. Tình thế đã đổi thay làm đảo lộn mọi mơ ước của anh. Tuấn biết, ông Năm đã bắt đầu một thái độ khang khác với anh, từ khi bị mất hết số tiền bỏ trong ngân hàng Nhà nước. Những đứa trẻ mồ côi, thường nhạy cảm hơn những đứa trẻ bình thường, đã đặt vào đầu óc Tuấn từ rất lâu. Giải phóng miền Nam, tất nhiên hy vọng mà Tuấn ước mơ đã hết. Tuấn không có ước mơ to tát gì lắm, anh chỉ mong khi học xong hệ 12, anh sẽ tình nguyện đi lính, vì không muốn ai cưu mang, xót thương mình nữa… Một ước mơ chết người, mà cũng có kẻ mơ ước!
Tuấn vùng ra từ tay mấy thằng con trai, chạy rượt theo Ban bò đang chạy về phòng Giám thị. Hắn gõ cửa ầm ầm kêu cứu. Ông Giám thị vừa mở tung cánh cửa, Tuấn nhảy vào đá Ban bò. Hắn nhảy qua, né tránh với một động tác thật khéo.Tuấn mất đà, đạp vào ngực lão Tôn, làm lão chới với.Anh sửng sờ trong một thoáng, rồi cắm đầu chạy ra khỏi trường.Tuấn chạy về nhà thằng Đại ở Vườn Trầu.
&
Tuấn lưu lại nhà thằng Đại được hai hôm không dám đến trường. Anh hoang mang chờ đợi cơn dạy sóng đổ ụp xuống cuộc đời.
- Cùng lắm, chết chung với lão Tôn! – Tuấn nghĩ thế và nhớ đến cây Cabin M-2.
Ông Năm cho đứa em bà con gọi Tuấn về. Nhà ông Năm hôm ấy có khách, mà có lẽ là khách cán bộ cấp cao. Hai chiếc xe jeep đậu trước nhà, vài anh lính đứng canh trước cửa nhà rất nghiêm trang. Tuấn bước vào nhà, thấy một người đàn ông trung niêm mặt quen quen, mặc đồ dân sự đang ngồi nói thao thao bất tuyệt của kẻ thắng trận. Ông Năm cũng hoan hỉ không kém! Lần đầu tiên, sau ngày “giải phóng”, Tuấn mới thấy ông Năm “Bóng Tối” nói nhiều và vui. Ông nhìn Tuấn, nhìn ông khách rồi nói.
- Thằng trời đánh đó, anh Bốn! Nó dám cả gan đạp ông Tôn một đạp… nên thân!
Tuấn len lén chào người đàn ông, dò xét.
- Bác Bốn của cháu đó! Ông làm bên Bộ ngoại giao, đang đi công tác vào Sài gòn, ghé thăm má cháu và cậu.
- A, thì ra đây là bác Bốn, ông bác ruột mình.
Tuấn nghe nói, ông đi kháng chiến trước thời 45 và ở luôn ngoài Bắc. Tuấn cũng chẳng vui, cũng chẳng thấy buồn khi nhận được ruột rà, thân nhân. Từ khi cha Tuấn tha phương cầu thực, rời đất Bình Định, làng Mỹ Chánh, rồi ông mất khi Tuấn còn rất trẻ với một bà mẹ điên cùng ba đứa em trai, đứa nhỏ nhất vừa biết lẫy tám tháng tuổi, không một ai từ ngoài ấy, vào thăm hoặc giúp đỡ con cháu cuộc sống mới, mà phó thác cho phía ngoại Tuấn. Cũng may, ông Năm giàu có, cưu mang anh em Tuấn. Bà chị và ông anh được ông nuôi ăn học thành tài. Tuấn ở nhà ông Năm, ba thằng em kề Tuấn, sáng, trưa, chiều… đi học, đều ghé nhà ông Năm ăn bát cơm, rồi về, tối ngủ nhà với bà mẹ trí óc không bình thường.
Tuấn nhìn bác ruột, trên 30 năm xa cách, lí nhí chào, rồi lững thững bước lên căn gác xép, thui thủi như mọi ngày của mọi ngày, của một kẻ ăn nhờ ngủ đậu qua cuộc đời mỏng manh này!
Ở anh, tình cảm dành cho người cộng sản – dù ruột thịt – nó nhạt còn hơn nước ốc! – Tuấn đau đớn nhận ra.
Có lẽ, vì hoàn cảnh chiến tranh?
Chiến tranh nó tàn phá tất cả! Của cải vật chất, xác người… đã đành; nó còn hủy diệt cả con người, nếu người ấy – không – và còn, biết lương tri của con người để nhìn và nhận xét, theo nhân sinh quan!
&
Lão Tôn, bây giờ nhìn ông Năm chủ tiệm hình “Bóng Tối” với một cặp mắt khác. Cặp mắt ấy, lão nhìn như van lơn, nài nỉ ở sự tha thứ.Một cặp mắt đã biết sợ, vì sự lém lĩnh dại dột của mình, coi trời bằng vun, nơi lão ngụ cư.
Là người tu hành tại gia, ông Năm chả thèm phản công như mọi công dân trong phố mong muốn, là dạy cho lão Tôn một bài học đích đáng! Ông tránh ra lề đường ngồi sửa ảnh, ông về nhà Từ đường, cách nhà ông chưa tới trăm mét, nằm trong một con hẽm sâu có vườn cây ăn trái rất rộng; nơi đó, chị ông – là Mẹ Tuấn, cùng hai bà Dì độc thân – sống nhờ mảnh vườn bằng cây trái đem ra chợ bán hàng ngày. Ông muốn quên tất cả những gì đã qua, dù cái đau của cuộc đời vẫn còn lẫn quẫn quanh ông. Đó là sự miệt thị cuộc đời ô trọc này!
Tuấn trở lại trường như không có gì xẩy ra. Anh nhìn Ban bò bằng cặp mắt lạnh buốt, không nói sau cái bắt tay giảng huề của cô Mai. Học với nhau bao năm, Ban bò biết, Tuấn là một học sinh rất tốt với bạn bè, nhưng cá tánh Tuấn cực kỳ nóng nãy. Khi Tuấn tức giận điều gì do bạn bè trêu ngươi, mặt anh tái trắng, tay run run kềm chế sự thịnh nộ. Cũng may, cả lớp ai ai cũng biết, Tuấn được ngồi thiền qua nhiều năm, nên cũng biết kềm hãm cái tuổi trẻ ưa manh động, quậy phá.
Sau ngày tựu trường hơn một tháng, sáng nay lớp Tuấn mới có hai tiết chính trị. Dường như cả cái trường Trung học Diên Khánh này, chả học sinh nào ưa ông giáo dị hợm này.
Chiếc nón cối, cặp kính đen, áo quần xanh màu lính, cùng cái đài nho nhỏ bên hông, thường đạp xe trong sân trường mỗi khi học trò trở về ăn cơm trưa, sau những tiết học. Năm giáo viên miền Bắc, ba nam, hai nữ, chiếm hai lớp học gần nhà ông Cai trường cho tiện sinh hoạt.
Từ ngày trở lại trường sau vụ đạp lão Tôn, Tuấn cùng ba thằng bạn thân thường trốn học ra đây tập tành hút thuốc.
Gia đình ông Cai ở đây đã rất lâu, từ khi có cuộc di tản từ miền Bắc vào Nam sau 1954. Con cái ông lớn lên, ăn học thành người qua cái quán bán chè, kẹo bánh và chút sách vở, phấn bút…
Bây giờ, gặp cái đám thanh niên mới lớn, đổi đời, buôn bán không như trước, bà Cai cũng mua thuốc lá bán lén lút. Ở những thành phố nhỏ lại sát nông thôn, tiền bạc đối bọn học sinh như Đại, Tấn không là vấn đề. Không tiền, chúng chặt cây trái ở nhà vườn trao đổi, bà Cai càng thích, vì có lợi hơn. Vì thế, bọn Tuấn tha hồ bắt đầu ghi sổ nợ, cho sự học đòi thành người lớn, qua những điếu thuốc trên môi, và luôn thắc mắc. Tuấn thường thắc mắc.
- Hay đây là sự phản kháng đang thành hình của tuổi mới lớn, nhìn một xã hội vừa thay đổi và đang từ từ thành hình? Ôi cuộc đổi đời: hạnh phúc hay cay đắng? Có lẽ cả hai!?
- Ừ nhỉ, đúng. Nhị Thiên Đường. Đó là thứ dầu dùng để: thoa, bóp, nắn, bẻ… của thằng Mã Viện đưa sang Việt Nam!
Thằng Đại thổi vào tai Tuấn nghe ù ù…
nguồn:http://www.danchimviet.info/archives/69721
======================================================================
Hạt Ươm Hư [6]


|
Phần 1, Phần 2, Phần 3, Phần 4, Phần 5, Phần 6,

Chương 16
Đại khòm người xuống, trước bức tường cao gần hai mét, đưa đôi vai bảo Tuấn.
- Mày leo lên trước, khi lên được, bỏ dây xuống kéo tao lên. Coi chừng ông Cai trường đi lòng vòng hàng đêm, mình từng “nhập nha” nhà lão Minh chính trị viên.
Đây là “con đường mới” mà bọn Tuấn, Đại nhập vào những đêm muốn xông vào trường.
Từ khi bị mất chiếc xe đạp yêu quý nhất trần đời, giáo Minh ra lệnh cho bọn học sinh Cờ đỏ, đốn tất cả những cây xoài mọc ngoài thành tường gạch cao của trường. Những cây xoài này cao vút, bọn Tuấn chỉ cần leo lên cao, nhảy vào nhà chứa xe đạp học trò, trèo xuống là xong. Cái tánh bá đạo mang dòng máu CS của giáo Minh vẫn còn trong máu, dù đã biết sợ bọn con trai học sinh miền Nam. Nhưng dường như, sự kiêu hãnh lẫn trong sự ngu dốt không khai mở tâm trí của giáo điều buộc chặt, bị bủa chụp và cấy sâu vào não trạng ở gã, làm bọn Tuấn thêm quay quắc đùa phá.
- Mày chịu nỗi không?
Đại gồng mình, tấn hai chân lấy thế.
- Leo lên mày!
Tuấn đạp đôi vai thằng bạn, bám gờ tường, hít thật sâu rồi thót lên bằng hai tay. Anh thòng sợi dây dừa xuống. Thằng Đại leo lên bằng hai chân như người Dơi. Cả hai chạy lúp xúp vào Hội trường. Hội trường của trường Diên Khánh có thể chứa tới 300 học sinh, do chính quyền Mỹ viện trợ nhân đạo nền giáo dục VN.
Trên bục giảng, ba bức tượng bằng thạch cao. Đó là những bức tượng của ba cái đầu người từ cổ trở lên – đã chết thối từ lâu – vẫn hằng bị nhiều dân tộc trên thế giới nguyền rủa suốt đời, ngoài những người CS: Sì-ta-lin, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh, do bạn Hòa lớp phó nắn tượng. Hòa là một học sinh ở Thanh Minh học rất giỏi nhưng con nhà nghèo. Anh kiếm tiền để học bằng cách nắn những con tượng Tò he, nhờ người đem xuống phố bán. Mấy hôm trước, nhân dịp khai trường, ban Thanh tra Ty Giáo Dục Tỉnh quyết định công bố danh sách những nhân vật nào sẽ lèo lái “cai trị” trường Trung học Diên Khánh, sau một thời gian vừa giải phóng chưa điều chỉnh nhân sự học đường. Thầy Bảo, phó Hiệu trưởng bảo Tuấn.
- Thầy nhờ Tuấn chụp hình cho buổi ra mắt “bộ chỉ huy” hôm ấy nhé.
Với Tuấn, chụp hình cho trường và cho chính quyền là chuyện thường hằng như cơm bữa trước kia, 1975. Tuy nhiên, có những lúc họ trả công và cũng có những lúc họ lờ đi! Một xứ sở nghèo đói, chiến tranh và tham nhũng… là điều ắt khó thoát, khi quyền lực có trong tay. Những trò nhờ chụp hình cho trường, đối với Tuấn không mới mẽ gì! Anh gật đầu chào thầy Bảo trở về lớp.

- Mày ỉa chưa Đại? Sao tao khó ị quá, như táo bón!
- Tao cũng chưa ỉa được. Mày đừng thúc nữa được không, thằng mọt sách. Từ từ, tao… ỉa!
“Hừ… hừ…” – Thằng Đại gầm gừ trong cổ họng, rán rặn.
- Mẹ nó. Bình thường, ngồi xuống là ị ngay một bãi thối um trời, giờ khó quá!
- Sao mày cứ hối thế?
- Tao nói cho chính tao mà lị. Ai hối mày… ỉa đâu!
“Tủm… tủm…!”
- Bằng đít hay bằng mồm… nhát khỉ đấy, Đại?
- Tao nói: tao đang ráng mà! Mẹ kiếp, chẳng lẽ tự mày nhận mình là khỉ! Hôm nay sao mày nói nhiều thế?
- Câm cái mồm mày lại. Đừng nói to thế, coi chừng ông Cai trường. Để… tao ỉa đã!
- Ờ, ráng ỉa đi… khỉ!

- Xong rồi! – Thằng Đại nói, tay bịt mũi. Hai thằng bê hai đống phân, gộp lại.
- Cứt của mày như cứt của tao! Sao bịt mũi?
- Tao thử mày thôi. Coi mày có ưng ý cứt của tao, như của mày. He..he…
Hai gã thanh niên bê hai đống phân lên bục giảng có ba bức tượng của những lãnh đạo CS, trịnh trọng đặt xuống. Thằng Đại nói.
- Mời ba ông thối thây, xơi nhé. Của thơm ngon mới ra lò, còn nóng hổi như ổ bánh mì “patê phân thịt người”!
- Trong ba thằng. Thằng nào ngu nhất và khôn nhất. Mày nói tao nghe thử coi, Đại?!
- Ngu nhất, là Hồ Chí Minh. Vì nó là “thằng” không có ăn học nhiều, làm bồi bàn trên tàu viễn dương khi sang Pháp. Thằng ngu thứ nhì cũng là “nó” nốt. Nó nói: nó không có tư tưởng cách mạng con mẹ gì, ngoài thằng Mao và thằng Các-Mác hay Lê-nin gì đó! Ờ… ờ…
- Cái ngu thứ ba?
- Nó đọc Tuyên ngôn độc lập khi ra mắt nhà nước VNDCCH cho thế giới biết, trong đó “nó” có nói về nhân quyền, của mọi công dân đất nước, qua ông Nguyễn Hữu Đang biên soạn, mà chúng nó ăn cắp của Mỹ – vì ngu không có tư tưởng – vì vậy, nó không biết thực thi, hay lưu manh như một thứ côn đồ, coi trời bằng vung! Nó cứ tưởng, nó ăn cắp “bản quyền” của nước khác mà không một ai trong cái đất nước nó vừa cướp được và cai trị, đều ngu như nó!
- Vậy thằng nào khôn nhất?
- Thằng “Ăn-Gian” hoặc, thằng “Cày-Mác”!?
- Vì sao?
- Nó chỉ đưa ra “định đề”, nhưng không hề nghĩ… sẽ “bị thực thi” giết người hàng loạt, bởi những thắng khùng và ngu mang tên CS, đưa nhân dân đến năm Châu Đại đồng… không có thiệt!
- Bạn Trần Đại. Bạn là một tên phản động của nhân dân chưa từng có, ở thời buổi hoang sơ cách mạng này! Bạn là một Hạt Ươm Hư của thằng Ngụy để lại, để bôi nhọ chế độ chuyên chính và vì dân này! Hơn nữa, bạn lại trùng tên với một tên cướp giang hồ nỗi tiếng, ở miền Nam VN do nhà văn Duyên Anh viết ra tiểu thuyết nóng bỏng: “Đại Cathay”. Cũng phản động với chính quyền miền Nam, không kém gì ngươi với Cách mạng và Đảng ta!
- Nhưng Trần Đại ăn cắp đồ của Quân tiếp vụ Mỹ và giới giang hồ. Hắn ta không ăn cướp của nhân dân và giết nhân dân của chính dân tộc hắn ta. Tội hắn chưa nặng!
- Thi hành bản án!
- Bản án gì?
- Nhét cứt!
- Là Ai?
- Những thằng giết đồng loại và dân tộc mình!
- Thì… để từ từ tao trét!
- Nhét, không phải trét!!!
Thằng Đại cầm bịch phân, định trét lên những gờ tường chung quanh hội trường rộng lớn cho thối, Tuấn ngăn lại.
- Mày, nhét cứt vào trong đầu tụi nó. Thằng nào Ngu nhiều nhất, từ dưới cái cổ trống rỗng cứ nhét cho nhiều.
Thằng Đại bê đống phân vừa ị, nhét cả vào cái đầu trống lỏng của Hồ Chí Minh. Tuấn bê đống phân của anh nhét vào đầu lão Sì-ta-lin và lão Mao.
- He he… Ngày mai là ngày hội chúng ta!

Quan (khách) tề tựu đông đủ.Thanh tra tỉnh từ Nha Trang đi lên dự Hội nghị khai trương năm thứ hai của trường Hoàng Hoa Thám. Hiệu trưởng Tiệu, lăng xăng đón khách. Từ trường ra đến con lộ hơn 50 chục mét; cờ, phướng giăng đỏ cả một con đường. Trước cửa phòng Giám thị, lão Tôn với cái áo đại cán mùa Thu, đứng nghiêm trang, hai tay xoa liên tục, hồi hộp chờ ban Thanh tra tỉnh. Trước văn phòng của lão, cũng cờ phướng đỏ rợp trời.Lão không biết, lão có còn là Giám thị đợt quyết định nhân sự, đợt này nữa không?Lão ra lệnh.
- Mang chân dung những lãnh tụ vĩ đại của thế giới, đón các đồng chí Thanh tra.
Bọn học sinh cờ đỏ bê những bức tượng thạch cao, từ bên hội trường sang văn phòng lão Tôn, trân trọng đặt lên bàn thờ có hình chủ tịch Hồ Chí Minh lồng trong khung kính. Đoàn Thanh tra bước lên bậc thềm, mọi người cúi người nghiêm nghị mắt liếc dọc ngang. Ông trưởng ty Giáo dục cầm lấy cái mi-cro, thổi phù phù, định phát biểu, bỗng úp tay chụp mi-cro.
- Các đồng chí ạ. Dường như có mùi cóc chết đâu đây nhé!
- Chỗ nào, thưa đồng chí Trưởng ty? – Lão Tôn hốt hoảng, ngoắc bọn cờ đỏ tìm kiếm, nhưng không thấy gì!
Tuấn đưa máy lên chụp ngay cái ảnh đầu tiên, khi “đồng chí” Trưởng ty bịt mũi.Anh quỳ xuống, nhấn thêm mấy “pô” nữa, cười thầm trong bụng.
- Tôi cho Ngài… ba “bô” thật đầy!
Phòng Giám thị nhỏ, chỉ chứa khoảng 30 nhân mạng, nhưng nằm gần cột cờ, lão Tôn phải xếp những bức tượng thạch cao trong phòng đủ cho học sinh thấy những lãnh tụ CS. Cái mùi cóc chết càng lúc càng khắm ra khắp phòng. Lão dò quanh tìm, nhưng bất lực. Họ làm việc nhanh chóng, vừa nói trên mi-cro, tay bịt mũi nháo nhát dò tìm cái mùi khắm, cóc chết ấy. Đoàn Thanh tra đành thoái thác ra về sớm, quên cả buổi tiệc đang chờ!
- Có lẽ họ nghĩ, mùi cóc chết này do bọn Ngụy cài lại sau chiến tranh? Tuấn cười trong đầu. – Cũng có thể! Cái toilet, lon Coca-cola, đã chẳng là những thứ bọn Ngụy gài lại sau khi thua trận, bỏ chạy qua Mỹ ăn bơ thừa canh cặn, như CS thường rêu rao!
Lão Tôn tức điên người! Lão cho đập mọi thứ trong văn phòng Giám thị.Nhưng lão còn ngại ngùng không dám đập ba bức tượng lãnh tụ thế giới Đại đồng.
- Mẹ nó. Bọn thù địch nào đây?
Đêm đến, lão ở lại trường loay hoay tìm kiếm, cũng không thấy gì. Lão nhìn trước ngó sau, dù là đêm đã tối lắm, lão run run, nắm cái đầu họ Hồ lên, nhìn bên trong. Lão hãi hùng. Toàn là phân người!
- Mẹ nó. Phản động.Bọn phản động đã đến sân trường. Ông Cai đâu rồi!?

Đầu năm học thứ hai sau ngày CS chiếm đóng, một nhân vật “kiệt xuất” thứ hai xuất hiện, sau giáo Minh. Đó là “thầy” Dụ!
Ông xuất thân từ đâu, không một học sinh nào biết. Ông cao lắm! chưa đầy một thước 50 centimét. Bé loắc choắc như cái kén. Trên cổ lúc nào cũng có cái còi “tu hít” đeo tòn teng, của chính quyền cũ. Đó là một giáo viên năng nổ thích… “văng miểng”, như tụi con trai thường diễu.
Giống như mấy ông bộ đội và cán bộ vào Nam sau chiến thắng: “Cà-rem phơi đầy đường, tủ lạnh chạy khắp nơi trên đất Bắc…” và vo gạo hoặc nhốt cá trong bàn cầu toilet, rồi giựt cần bị trôi đi mọi thứ, đổ thừa bọn Ngụy gài lại!
Một cái tướng lất sất, ngay cả một học sinh trung học cũng không hề có! Kéo cái lưng quần lên, ông thường túm bó gọn… đôi ngọc hành hoặc dương vật lòng thòng nào ai biết!
- Trước chiến tranh, tôi thường chạy đường dài các em ạ, từ năm 14 tuổi đấy nhé. Từ Khánh Vĩnh tôi chạy một ngày là đến nơi, 70 cây số chim bay đường rừng, để giao thư của bộ Chỉ huy quân đoàn. Tôi đoạt danh hiệu chiến sĩ thi đua ba miền từ ngày ấy.Tôi có thể chạy bất kể ngày đêm của một liên lạc viên thạo đường. Hồi ấy, bộ đội, du kích, liên lạc viên chúng tôi, làm gì có… quần nội y. Tôi chạy miết 7 năm như một lực sĩ, nên bây giờ cu dái, nó xệ xuống trông thật chán! Ông vừa nói, với bọn con trai sau giờ nghỉ giải lao, vừa thâu tay tóm nút cài quần hất “thằng nhỏ” lên!
- Thế sao, thầy được dạy về thể thao?
- Đã nói là chiến sĩ thi đua ba miền mà lị! Thật ra hồi đó mình vừa nghèo, vừa thất học, nên lên núi chạy văn thư và liên lạc cho xã, rồi huyện. Khi cách mạng thành công, mấy ông ấy hỏi nguyện vọng của mình là gì. Mình nói: muốn làm thầy giáo. Thế là mình được điều về đây.
- Thì ra thế. Hôm nào, thầy chạy xuất phát cho tụi em xem nhé! – Thằng Đại chêm vào.
- Này. Con bé nhà ai, mà có cặp vú như sừng trâu ấy nhỉ? Hồi mình còn ở trên rừng, con gái Trường Sơn… “núi non” hổng có, vì bị sốt rét rừng. Nhìn chán lắm, nhưng vẫn thấy thèm!
- Vợ thằng Ban bò đấy! Cả hai vợ chồng nó đều có võ, thầy đừng “linh tinh” nhé!
- Thưa thầy, đây là giờ Thể dục, xin thầy vào đề. – Tuấn lạnh nhạt nhắc nhở.

- Chạy đường dài là môn thể dục ít ai biết đến, trong thời chiến tranh leo thang (?). Trước khi chạy, các bạn không nên ăn uống nhiều, sẽ bị sốc. Khi bọn Mỹ đánh miền Nam, tôi ở trên rừng Khánh Vĩnh, kiên quyết, nhất định không chịu ăn, mà chỉ chịu chạy. Vì thế, khi bọn Mỹ trút bom xuống cánh rừng Trường Sơn, tôi chạy theo hình díc-dắc các bạn ạ. Đố chiếc B.52 nào… bắn trúng tôi, vì cái tài chạy! Bọn đế quốc, ỷ lại là một đất nước giàu có, nên nó cứ tha hồ trút bom trên quê hương chúng ta. Nó đang dẫy chết hàng loạt bên Mỹ. Thằng tài phiệt Cooper
Field đang chôn hàng triệu chiếc xe xuống lòng đất vì thặng dư giá trị thị trường, đang bán tháo đổ…

- Thưa thầy, đây là giờ Thể dục, chứ không là giờ chính trị. – Tuấn đứng lên lần nữa, nói.
Thầy Dụ vẫn làm lơ, vẽ trên cái bảng đen to tổ bố với trên 300 học sinh, đang ngồi bên dưới lắng nghe. Ông nói tiếp và vẽ những vòng tròn.
- Đây nhé. Tụi Mỹ trút bom phía bên này, bọn mình đã chạy tọt bên kia nấp, nó đếch làm gì được nhé!
Tuấn đi lên bục giảng. Anh thản nhiên, đưa tay xóa những vòng tròn của phấn, rồi trét hai bàn tay vào mông, đi ra khỏi Hội trường, ngước mặt nhìn lại ông như khiêu khích.
Thầy Dụ mặt tím tái, tay cầm viên phấn trắng, run run.

Một hôm khác, ở sân tập thể dục, với đủ mọi loại dụng cụ thể thao…
- Này nhé. Khi các bạn muốn chạy xuất phát cho lực tăng lên thật nhanh. Nhưng… tại sao mình chạy? Bởi thằng đế quốc Mỹ nó đang rà rà trên bầu trời trong xanh nơi núi rừng kia kìa…
- Thầy chạy làm sao cho tăng lực nhanh, khi B.52 bay bằng ánh sáng thời gian? – Thằng Đại hỏi.
- Thế này nhé! Bạn chọn tìm một khúc cây làm lực nơi hai bàn chân trước khi bậc chạy.Thế này nhé.Mình không có khúc cây nào nơi đây.Phải biết ứng biến bạn nhé. À, bực nhảy này đã được đào sâu hơn hai tấc, vào bãi nhảy cao bằng cát kia. Bạn đưa bàn chân vào bực thềm của bãi cát và bắt đầu tống đôi chân vào nơi ấy, tung người chạy…
Thầy Dụ bật người lên định chạy.Tuấn đưa bàn chân phải vào hai cái “giò heo” như đôi tre Mạnh tông của ông, khóa cứng.Ông giáo Dụ, té cái “ụi” trên bãi cát, mũi rướm máu. Ông đứng dậy, thẳng tay tát vào mặt Tuấn hai cái thật lực.
- Mày đi ra khỏi hàng!
- Ông có biết, ông là một con chó? Gia đình, thân tộc Nội, Ngoại tôi đã và đang là những con chó sừng sỏ nhất ở thị trấn này? Ông dám tát tôi à? Tôi hỏi ông, quyền lực đang ở trong tay ai? Hả… hả.
&
- Tuấn. Em chụp ảnh cho Ty Giáo dục hơn tuần rồi, sao không đưa cho trường?
- Thưa thầy. Em không thể nào đưa những bức ảnh mang tính chất vô văn hóa của trưởng Ty Giáo dục phát biểu trước học sinh, bằng cách bịt mủi mình khi cầm mircrô. Nhìn phản cảm quá!
Thực ra, Tuấn chả có lắp cuộn film nào vào máy.Đó là ý định đầu tiên của anh muốn thế. Một thằng thợ ảnh, có thể nói muôn ngàn lý do khi ảnh bị hư hỏng, nếu không đưa tiền đặt cọc! Đó là lối làm ăn ở VN. Tuy nhiên, ban đầu ý định của anh là muốn “chơi” một vố ngoạn mục của tuổi trẻ háo thắng và bất mãn, nhưng không ngờ sự việc lại nhảy qua một hướng khác, anh phải đáp lời cách khác.
Bọn học sinh và ban Giám thị trường, ai ai cũng nhớ sau năm thứ hai tựu trường, cứ ngày nghỉ cuối tuần, học sinh phải đi lao động kinh tế mới; hoặc đào những con kinh, hay chặt rừng trồng khoai mì cho nhà nước.
Ở lớp, Tuấn cứ đưa cái máy chụp ảnh ra dụ bạn bè khi tới những cánh rừng nguyên sinh trên Khánh Vĩnh, tàn phá nó.
- Các bạn, thích chặt rừng trồng khoai lang cho nhà nước hay thích chụp ảnh? Tôi hứa, cả 50 bạn nếu muốn kiểu ảnh nào của núi rừng Khánh Vĩnh, tôi sẽ trổ tài của một nhiếp ảnh gia, lấy những bức chân dung hoang dại nhất của bạn để đời sau này.
- Không được, bạn Tuấn ạ. Đây là chính sách của nhà nước! – Tiếng Ban bò.
- Bạn là Trưởng đoàn thanh niên CS… hay là tôi?
Ban bò lặng im. Từ khi, Tuấn đạp ông Giám thị Tôn một đạp xém… rụng tim, cộng cái vụ cưa đôi chiếc xe đạp giáo Minh trên cây xoài tượng, với đôi vỏ lốp xe như đôi ruột lòng thòng, Ban bắt đầu biết dè chừng Tuấn. Ban biết, Tuấn bây giờ là một con Ngựa chứng trong sân trường thứ thiệt, chứ không còn là một tiểu thuyết ngoài đời, dựng nên qua Nhà Văn Duyên Anh.
- Làm sao trồng được cả mấy ngàn “hom” mì, trong vài giờ đồng hồ? – Các bạn nhao nhao.
- Này nhé. Tôi hỏi các bạn cùng lớp. Chúng ta đào từng con kinh này, qua chặt những cánh rừng khác là để cho ai? Cho nhân dân à?Còn lâu các bạn nhé.Chúng ta là nhân dân của đất nước này, mà những gì chúng ta làm, rồi đi tới nơi khác ai hưởng?Nhân dân?Còn lâu. Nếu họ nghĩ tới ta là nhân dân họ, thì chúng ta không có cảnh, tự nấu nướng đồ ăn đem theo, tự tìm phương tiện giao thông để đi đến hiện trường lao động vinh quang. Họ phân phát cho những gia đình chúng ta 200 bạc ngoài Bắc làm phương tiện sinh sống, đã chẳng là họ cắt đường đi sinh hoạt mọi thứ đời sống chúng ta? Một lần nữa, chúng ta đã vừa mất tiền, vừa mất thêm một nguồn sống nhỏ mọn dâng cho họ hay sao! Các bạn có nhớ? Tháng trước, chúng ta đã trồng hàng trăm hécta giống cây thơm (dứa), tận Suối Dầu, rồi đi vào Suối Tiên xa xôi trên 60 cây số, tự lo lương thực và giao thông đi, về! Xong rồi, không biết gì cả.Các bạn nghĩ sao?
- Vậy phải làm sao?
- Đào một cái hố, chôn hết những “hom” mì là chí phải! – Tiếng thằng Đại.
Ban bò lỉnh tuốt, không nói.

- Em là một học sinh xuất sắc, từng đại diện trường đi thi cả hai môn Toán và Văn toàn Tỉnh khối 11, ở Khánh Hòa. Sau 1975, em có nhiều thái độ khó hiểu quá?
- Thưa thầy. Thầy khó hiểu về em hay thầy khó hiểu về thầy?
- Em nói vậy là sao?
- Là một Hiệu trưởng trường Trung học Đệ nhất, nhị cấp, thầy bây giờ là ai?
- Em hỗn láo!
- Em không hỗn láo! Bao nhiêu lớp 11, 12… đã từng bị ông giáo Minh chính trị viên, chữi tụi em là những Hạt Ươm Hư thối, do chế độ cũ để lại, thầy đã biết và có thái độ gì. Hay thầy trùm chăn kín mít, nghe chữi, mặc học trò chống chỏi!?
- Ai ăn cắp nồi niêu, xoong chảo và cưa đôi cái xe đạp thầy Minh?
- Thưa thầy. Là em! Là một con người dám nói trước lớp học và cả chính trị viên học đường, tại sao em phải dấu hoặc trốn tránh? Em có thể trốn tránh, dối lừa những con người mình chống đối; nhưng em sẽ không trốn tránh những người cùng trong một hoàn cảnh hoạn nạn chung của cả đất nước và dân tộc.
- Và em đã xúi dục bọn học sinh, chôn hàng đống“hom” mì vào một cái hố?
- Cũng chính là em, thưa thầy!
- Ôi trời. Một thằng học trò mà tôi đãthương yêu, bây giờ nó phản tôi ở cuối đường cùng… mạt tận! Đi ra… đi ra…
- Em xin lỗi thầy, khi nghe thầy nói câu cuối cùng này.

Giáo Dụ, càng lúc càng quá đáng! Ông cho tập hợp hơn ba trăm học sinh vào cái Hội trường to lớn làm những động tác: chạy nhổm, chạy bật sức, chạy đường dài và nhảy cao bằng thực hành trong một cái Hội trường bỏ túi. Bọn nữ sinh thơ ngây, cứ cúi đầu xuống mà thao tác hành động! Giáo Dụ hả hê nhìn. Tuấn vừa bước vào lớp, ông quơ tay.
- Mày bị đuổi học hai tuần, không được vào!
Tuấn đi ra khỏi Hội trường, nhìn bâng quơ.Anh chợt nhớ. Trước 1975, bên kia Hội trường, là Chi khu hành chánh quận, nơi đó có Pháo binh hàng ngày thường bắn đại bác lên núi, nơi CS thường trú ẩn. Anh đã từng chui qua rào kẽm như một thắc mắc và háo hức tuổi trẻ. Tuấn từng nhìn thấy có những lon đồ hộp, hoặc lon bia dùng để báo động giả bọn học sinh: đừng vào đây, để lượm những túi bọc đạn, trong đó có chứa nhiều viên thuốc gây nổ – gọi là thuốc đạn – mà bọn con nít thường vấn vào những bao bạc thuốc lá để đốt nó, bay lên kêu xì xi và tỏa khói khắp nơi. Anh mỉm cười khoái chí.

Đêm đó, kho đạn của chính quyền VNCH cũ còn sót lại nổ vang như pháo tết.
Cả cái quận lỵ Diên Khánh người người hoảng loạn, cứ tưởng bọn “Ngụy” trở lại, như CS từng làm!

Tuấn và thằng Đại lén vào Hội trường, nơi giáo Dụ, thường dụ bọn học sinh vào thực tập, để nhìn cho đã con mắt với bọn nữ sinh ngu muội tình Thầy, Trò bị gạt nham nhở.
Cả hai, đập vỡ trên 50 cái bóng “đèn tiếp” màu trắng một cách hả hê.
… Sắp sửa thi kỳ hai tam cá nguyệt, Tuấn và thằng Đại chẳng biết đang theo học cái gì, chương trình gì… vì cả hai hầu như thất học, lo đàn đúm ca hát nhạc vàng đồi trụy, làm thơ than khóc cho cuộc đời học sinh hơn là học…
Những Hạt Ươm Hư vô tội và có tội, trườn lên ánh mặt trời, một màu đỏ của máu!

nguồn:http://www.danchimviet.info/archives/70043
======================================================================
Hạt Ươm Hư [7]


|
Phần 1, Phần 2, Phần 3, Phần 4, Phần 5, Phần 6, Phần 7,

Phần II
Chương 18
Đoàn xe GMC gần chục chiếc chuyển bánh chầm chậm vượt qua Cửa Đông, đi ngang qua ngã ba phố Thành, xuống cầu Ông Cạn, rồi tới Cây Dầu đôi, ngay ngã ba Cải lộ Tuyến. Đoàn xe tẻ ra. Một chạy về hướng cầu Sông Cái để đi ra quân trường Dục Mỹ của chính quyền VNCH để lại, đó là toán bộ đội đầu tiên bị bắt lính tại miền Nam VN. Hai xe còn lại, thẳng tiến hướng Nha Trang, đó là những thanh niên có gia đình tham gia cách mạng hoặc là những du kích, bỏ học, bỏ đời… lên núi theo CS trước 1975 khi còn rất trẻ.
Nhìn cây Dầu đôi to lớn, già đến mấy trăm năm, lòng Tuấn chợt chùn xuống! Anh từng đi qua đây suốt thời thơ ấu cho đến trưởng thành, nhưng chưa bao giờ, anh có ý nghĩ như ngày hôm nay.Sao lại bỏ quê hương mà ra đi biền biệt, như trong tâm tưởng anh từng nhắn nhủ. Những cánh đồng bạt ngàn, xa ngun ngút đến tận chân núi Trường Sơn, những con sông trong mùa tháng hạ cạn nước, trơ ra bãi cát vàng lồi lõm như những cù lao nhỏ, những mùa lúa trổ ngọn… đã nuôi anh khôn lớn và làm người.
“Ta về, ta tắm ao ta.Dù trong, dù đục ao nhà vẫn hơn”.
Hà cớ gì, Tuấn đành phủ nhận quê hương mình? Sao u uất quá phút chia ly, rời xa nơi chôn nhau cắt rốn! Một đất nước sau chiến tranh, vãn hồi hòa bình, sao lòng người còn ly tán, muốn rời bỏ quê hương để ra đi về một khung trời vô định. Những người như Tuấn, có thân nhân ruột thịt bên phe chiến thắng, còn muốn bỏ nước ra đi, huống hồ những kẻ bại trận, chuốt lấy cảnh gia đình tan nát, bị cướp luôn nhà cửa, cơ ngơi, họ sẽ sống ra sao trong một xã hội thù hằn này?
Bên kia đường, là căn nhà của cha Tuấn, mua lại từ khi từ Bình Định vào lập nghiệp. Tuấn đã được sinh ra trong ngôi nhà ấy, sống nơi đó gần 8 năm, với sự thương yêu của người Cha. Anh vẫn nhớ, mỗi sáng Cha thường chở Tuấn và người chị kề trên chiếc xe đạp đòn dong cũ kỹ. Anh ngồi một bên, trước Cha trên cái đòn dong bằng sắt, bà chị ngồi sau bọc-ba-ga ôm chặt lưng Cha sợ hãi. Hai cha con, o tròn miệng thổi “ù – ù” khi xe lao xuống con dốc không cao lắm. Mà, Cha không cần đạp nữa vẫn tới quán ăn của ông A Ùi! Cha một tách cà-fê đen sữa, hai đứa con “cưa” cái bánh bao, có nhân thịt và trứng gà, làm đôi, nhấm nháp thưởng thức vào buổi sáng tinh khôi ánh mắt trời. Cha chở hai con tới trường. Ông là thông dịch viên cho ông Quận trưởng quận Diên Khánh, khi cần.
Thời ấy, “người ta” đã xuống đường dựng bàn thờ Phật làm “lá chắn” để biểu tình phản đối nền Đệ nhị Cộng hòa, nhưng ở nhiều nơi, cảnh thanh bình vẫn còn. Đến khi, những kẻ khát máu người, tuyên bố: “Dù chẻ dọc Trường Sơn, có chết bao thanh niên miền Bắc, vẫn cứ tiến vào Nam, theo chủ trương lớn của đảng…”, thì cả xã hội miền Nam bắt đầu trả giá cho sự phỉ báng làm Người ấy. Mậu Thân đã để lại nhiều xác chết của lính và dân trong khu vườn nhà Tuấn, sau một đêm 8 Mẹ con trốn dưới hầm. Mẹ Tuấn đã thật sự điên loạn khi nhìn thấy những xác người chết, nằm co quắp đầy rẫy ngoài vườn, sau cái chết của người chồng không lâu vì bạo bệnh!
Sau này, khi lớn khôn thêm chút nữa, Tuấn kể lại trận đánh Mậu Thân ấy, một vài người bạn bảo anh.
“8 – 9 tuổi, mày làm gì có ký ức của tuổi thơ, nhớ dai như vậy!”
Anh đưa bàn chân mình, còn hằn vết sẹo để lại đời, nói:
- Không hẳn 8- 9 tuổi, mà 7 tuổi, tao đã nhớ!
Đó là một ngày, Cha chở Tuấn trên chiếc xe đạp đòn dong, anh đưa cả cái chân trái vào bộ căm xe đạp. Trong một nhật ký lúc 10 tuổi, khi đi ở nhờ nhà người Cậu, lúc tủi phận, Tuấn từng viết mà anh vẫn còn nhớ mang máng.

“Hồi đó, mình 7 tuổi.Mình còn nhớ lắm.Tụi bạn thường gọi mình là thằng Tuấn què. Mình đâu có què! Buổi sáng hôm ấy, Cha gọi mình dậy để đi học. Mình thưa là:
“Hôm nay con bệnh, không muốn đi học.”.
Cha bảo.
“Không được lười, con trai. Dậy đi học!”.Mình ú ớ. Cha tiếp.
“Được rồi.Hôm nay, Cha cho mỗi đứa một cái bánh bao ông A Ùi nhé”.
Được ăn cả một cái bánh bao của ông A Ùi, là điều mình ước mơ từ lâu. Mình bật dậy, mặc áo, xỏ đôi giầy “rọ heo” đã ngã sang màu ngà, vội đeo lên lưng Cha ra xe. Mắt mình ráo hoảnh, cứ nghĩ tới cái bánh bao có trứng hột gà, hoặc vịt với vài miếng lạp xưỡng, cộng viên thịt heo tròn tròn, bị cắt đôi chia cho bà chị… thấy ứ cả lòng.Mình cứ nhễu nước miếng. Mình nhắm mắt mê tơi, tưởng tượng khi cả hàm răng cắn cái bánh bao nóng hổi, tọng vào mồm. Ôi. Sướng “rên mé đìu hiu” (D.A); và tánh háu ăn, làm mình ngủ gật hồi nào không hay! Đến khi chiếc xe lật gọng, trước ngã ba A Ùi, mình mới khóc thét lên khi nhìn thấy một cái chân bị quấn vào vòng căm xe, và rất nhiều người bu lại cố lôi cái chân mình ra, nhưng không được, mình càng cố khóc thét lên thê thảm, trần ai. Trước tiệm ông A Ùi, là tiệm xe đạp của ông Thuận Thanh. Ông sai người ra tháo cái niềng bánh xe, đem cả mình và cái niềng vào tiệm, cắt căm xe lấy cái chân mình ra. Mình đi cà nhắt cả tháng trời; tụi bạn nó kêu mình là Tuấn què.Mình không què đâu nhé, các bạn. Mình chỉ bị tai nạn vì mơ và háu ăn thôi!…”
- Ôi. Miếng ăn chết người!
“Trong cái Nhục, có miếng ăn… vinh quang,
Trong Vinh quang, có Nhục… ăn quáng quàng.
Vinh quang, Nhục nhã chàng ràng…
Làm người cộng sản, cứ tàng tàng ăn!”

Đó là bốn câu thơ của thằng Đại, tặng Tuấn ngày lên đường, ký một tên mới Trần Đại Khoa, thân tặng bạn KH.! Nó bảo rằng: Bộ đội già Hồ vào miền Nam, – vào – vơ – vét – về… để ăn, để vơ vét về, cho những năm thiếu thốn ngoài Bắc sau hơn 20 năm lạc hậu, đảng trị.
&
Trước ngày trình diện làm người lính thú, thằng Khoa (Đại) và Tấn (Khiêm) đãi Tuấn một con gà bé tẻo như một nắm tay, cùng một lít rượu Bầu Đá xuất xứ từ Bình Định, một nhắc nhở thân phận làm người trung trinh như tiền nhân Võ Tánh. Thằng Đại đưa cái “sắc-cốt” đựng mìn claymor, tặng Tuấn.Anh lặng người, tím tái.
- Tụi mày chơi tao?
Đại cười hè hè.
- Của giả thôi, thằng bạn! Mày hãy đeo nó như một CS thứ thiệt.Xã hội bây giờ toàn xài đồ giả cả.Từ động từ, danh từ, cả tính từ… he, he… nhớ nhé. Cái thật đây nè! – Đại vỗ bồm bộp lên thành túi – cái xách mìn claymor.Tuấn nhìn xuống thấy hàng chữ.
- Nothing more preciuos than independence and freedom! (Không có gì quý hơn độc lập và tự do!).
- Tao cũng tặng mày! – Thằng… Tân tác gia “Khiêm” lấy cái “sắc-cốt”, kẽ thêm dấu hỏi (?) thật lớn, sau cái chấm than (!)!
Tuấn nói.
- Đất nước này chưa bao giờ có độc lập và tự do! Độc lập, mà mọi thứ nhu cầu cho đời sống, cho chính trị được bảo hộ từ thằng CS phương Bắc Tàu chệt tóm lấy. Tự do, mà cái ăn, sinh hoạt đời sống phải báo cáo hàng giờ cho mỗi địa phương khi muốn đi và muốn đến, để được tem phiếu cho cái bao tử luôn luôn trống rỗng vì đói kinh niên! Người CS ngu về thuật trị nước, nhưng họ rất khôn về hành vi xử dụng từ ngữ mê hoặc lòng người.
- Này nhé: Đây là chính quyền do dân và vì dân. Vì dân, nhưng lại thích thắt chặt cái bao tử của Dân để dễ bề cai trị! Tụi mày hãy nhìn kìa… những cái loa, trên những cột điện và trên những cây cao nó leo lẻo “ré” hằng ngày vào tai mọi người, đến điếc đặc óc, làm mụ mị con người: những điều tốt đẹp nhất, do đảng và nhà nước chủ trương! Chỉ có những thằng xấu, mới rên (rêu) rao, cái tốt đẹp của nó! “Hữu xạ tự nhiên hương” là ý chí và sự quật cường của dân tộc VN, có từ ngàn đời chưa được dịp phát tác. Cũng như, chúng ta là những thanh niên vào đời bằng một trái tim trong sáng, sau chiến tranh, muốn nhìn một sự đổi thay toàn bích, thì bị chính quyền này, gọi chúng ta là những Hạt Ươm Hư, do chính quyền trước để lại. Mọi thanh niên, lớp kế tiếp chúng ta, đều kỳ vọng để vươn lên, xây dựng lại đất nước sau thời chiến tranh.Chúng ta cũng chấp nhận là những viên gạch lót đường, để tiến thêm bước nữa cho thế hệ kế tiếp.Hãy điểm lại lịch sử, ai đúng ai sai? Thực dân Pháp, đã cai trị trên đất nước chúng ta gần 100 năm. Không một quốc gia nào, người dân nào trên đất nước ấy chịu, bị, cai trị bởi ngoại bang. Kháng chiến chống Pháp là trách nhiệm của mọi công dân yêu nước, như ông Cậu tao, ông Cậu đạo diễn của thằng Đại, – À, không… của thằng Khoa, là điều nên làm. Nhưng khi, cái Búa và cái Lưỡi liềm lê tới VN, do Hồ chí Minh đem về, thì mọi trí thức nên tự hỏi: Búa để đập đầu, Lưỡi liềm để cắt cổ người Dân? Dĩ nhiên, thời đó thông tin bị bưng bít, nhưng cải cách ruộng đất, gần 200 ngàn dân vô tội bị giết oan, dù chỉ có một mảnh đất cắm dùi, chó ỉa ba ngày không hốt, đạp lên, bàn chân trét cứt cả nhà! He… he…
Tuấn tợp thêm vài ngụm rượu Bầu Đá, đầu lơ mơ, tiếp.
- Tao sẽ không là Hạt Ươm Hư; và cũng không là những viên gạch lót đường cho thế hệ nối tiếp… Tao là tao, là thằng KH.!
Cả ba ôm nhau rơi nước mắt, khi nhớ lại cái ngày chú Tám – ba thằng Đại – ôm chúng khóc rống lên khi nghe tin ông Dương Văn Minh thông báo quân đội VNCH, đầu hàng quân Bắc Việt vô điều kiện.
Tuấn lau vội nước mắt, nói tiếp.
- Chúng ta, không dính líu gì tới hai chế độ này. Nhưng chúng ta là “sản phẩm” của họ để lại.Nên “chúng” gọi ta là Hạt Ươm Hư. Nói là “sản phẩm của họ” dường như không đúng.Nhưng lịch sử sẽ phán xét điều này, sau đó. Chúng ta có mắt, có đầu óc để phán xét cuộc chiến tranh tương tàn này, không phải bởi chúng ta đã trưởng thành! Chiến tranh đã làm mụ mị cả dân tộc này của cả hai phía. Mà theo lề truyền thông của báo chí, của một Chính, một Tà; một quốc, một Cộng! Chúng ta – những thanh niên miền Nam – nên mang ơn trân trọng sâu nặng nền báo chí Tự do miền Nam này. Họ cho chúng ta những kiến thức về một thể chế của chính quyền đương đại. Chia ruộng đất cho người nghèo, qua chính sách: luật người cày có ruộng, bảo vệ người biểu tình, hổ trợ những dân tộc thiểu số và nhất là những người Chăm đã bị tiêu diệt cả một dân tộc v…v…
Còn chính quyền bây giờ, chúng ta thấy được gì?Thâu tóm ruộng đất về một mối cho nhà nước CS. Bỏ tù những người khác chính kiến, sau thất trận.Tiêu hủy cả một nền văn hóa nhân văn, nhân bản mà họ cho là đồi trụy. Kềm kẹp cái bao tử của con người để dễ bề cai trị, sai khiến… để sau đó dẫn đến đàn áp; và lập lại những cái sai từ năm 1954: đào tận gốc, trốc tận rễ, cướp lấy nhà cửa người dân miền Nam. Kết quả là, hằng bao nhiêu người vượt biển bằng những con thuyền nhỏ bé, mong manh – mà nhân loại – không hề nghĩ tới, nó sẽ lênh đênh trên biển nhiều ngày, tháng.
Đây là chính quyền vì dân và do dân làm chủ đất nước?
- Nhưng chúng ta đã bảo vệ những thằng “ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng sản”, làm đất nước này chìm trong biển thù hận cùng dòng giống VN da vàng. Mày quên điều này, Tuấn.
- Tao không quên điều này. Bởi vì, tao không muốn nhắc tới, trong đó có ông anh trí thức miền Nam của tao. Trí thức đúng là một cục cứt, như thằng cha Sì-ta-lin và thằng Mao đã lập lại, rồi truyền tới cả đất nước VN khốn khổ này, như một thứ ung thư… lây lan chưa bao giờ có trên trái đất này! Một Nguyễn Hữu Đang, một Trần Đức Thảo, một… là những cục cứt này! Đừng bảo rằng, những ông này không có đầu óc, mà lầm lạc! Cái danh vọng, cái tiền tài, cái dị hợm hơn người đã làm họ biến thái. Cách mạng Nga 1917, họ biết tất, nhưng họ vẫn lao vào như con thiêu thân, vì những thứ bá vơ ấy. Rồi đây, những con thiêu thân trí thức miền Nam cũng sẽ lập lại.
&
11 tuổi, Tuấn biết sự phi lý của cuộc đời qua danh vọng hão huyền. Trước những năm ấy, khi anh đi ở nhờ nhà người Cậu, đậu vào đệ thất trường Công, đứng thứ nhì toàn quận, sau thằng Đại qua một bài Văn tả về một người Mẹ. Hôm lãnh cái giải thưởng của nền Đệ nhị Cộng hòa, khi được xưng tên lên lãnh giải, Tuấn định bước lên Hội trường nhận phần thưởng, thì ông Cậu, bảo anh dừng lại và kêu đứa con trai ông cùng tuổi Tuấn, học cùng lớp, nhận giải. Anh khóc cả ngày hôm ấy! Và Tuấn quyết sau này, không ai có thể nắm vận mệnh cuộc đời anh, khi khôn lớn và hiểu biết.

- Xuống xe, xuống xe các đồng chí!
Tuấn thót giật mình buông trôi suy nghĩ, mà anh nghĩ rằng, đây là lần cuối nhìn thấy cây Dầu đôi trong ký ức.
- Mẹ nó. Tình đồng chí tăng cấp“lũy thừa”! Sao nhanh vậy?
Mới tháng trước, gã công an Thắng lòng vòng quanh Diên Khánh, tìm kiếm để chiêu nạp “hiền sĩ công an”, còn “cậu, tớ”, nay đã là “đồng chí”! Cả cái thế giới Tư bản hay Đại đồng con mẹ gì đó, làm gì có cái tên đồng chí! Mỗi con người được Trời, Phật, Chúa hay Thượng đế sinh ra, mỗi thân phận người, có suy nghĩ khác nhau, như vân tay trong ngón tay mỗi con người. Thì làm sao gọi là đồng chí, cùng một chí hướng suy tư?
Một con lừa bị bịt mắt, khắc hẳn một con lừa chưa từng bị bịt mắt vì chúng được tự do chạy nhảy, ăn cỏ nơi chúng thích. Chúng thích chạy nhảy nơi chúng sinh ra, tìm cỏ lạ ăn.Chúng không thích.
“Nơi đây biên giới là nhà
Bên kia biên giới cũng là quê hương”.(T.H.)
Chỗ chúng đang ăn “ngon lành” bảo qua bên kia biên giới cũng là quê hương, để bị bắn giết lấy thịt à? Ôi tình đồng chí thắm thiết!
- Các đồng chí nhanh nhanh vào hàng nào! – Thắng thổi còi, hối thúc.
Bọn tân binh riu ríu vào hàng.Đã có sẵn trên 150 tân binh từ các quận, xã của tỉnh Khánh Hòa tựu trung, trước đó.
- Báo danh bằng số, theo thứ tự.
- 1, 2, 3… 219. – Bọn tân binh báo danh.
&
Tuấn ngơ ngác nhìn quanh. Anh chợt nhớ trong miên man suy nghĩ, nhận thức rằng, xe đang vào thành phố Nha Trang. Tới ngã ba Mã Vòng xe quẹo vào Phước Hải. Đây là nơi có nhà tù lớn nhất tỉnh Khánh Hòa, gọi là Quân Lao, nay dùng làm quân trường cho ngành Công an vũ trang hay còn còn gọi là Công an biên phòng. Trên cánh cổng to lớn, Tuấn thấy hàng chữ:
“Trường huấn luyện Công an vũ trang, đồn Ba Linh Một!
- Ba Linh Một là cái quái quỷ gì? Sau này, Tuấn mới hiểu: Ba Linh Một là Ba Lẻ Một, hoặc 301. Chữ nghĩa của đỉnh cao trí tuệ loài người thật khó hiểu!
Ông thượng úy, đứng trước hàng quân, ra quân lệnh.
- Tôi báo cáo cho các đồng chí rõ. Sau hơn 20 năm chiến tranh, nay vãn hồi hòa bình, đất nước ta, dân tộc ta, vẫn còn đói nghèo, tôi mong các đồng chí thông cảm, hãy ra ngoài phố, tự cắt tóc cho mình. Tôi cho các đồng 2 tiếng đồng hồ, rồi trở lại quân trường!
- Mẹ kiếp. Thế là mất toi tí tiền còm!
Tuấn than thầm trong bụng. Trước khi ra đi làm người lính thú, bà mợ dâu cho Tuấn 2 đồng bạc cắc tiền Hồ, cho 6 tháng quân trường cam go. Giờ cái nhà nước, do dân và vì dân, cái quân đội hùng mạnh nhất Châu Á đánh thắng hai thằng tư bản đầu sỏ thế giới, lại không có một anh lính quân nhu (hậu cần) “húi” đầu tân binh?
- Sao lạ vậy?
Bọn tân binh túa đi nhiều ngã, ngơ ngác tìm những tiệm hớt tóc. Tuấn chạy đến một tiệm chụp ảnh, anh quen thời trước 75 khi ông Năm còn làm ăn, chụp tấm ảnh kỷ niệm cho một cái đầu sắp bị “húi” sát da.
&
“Công an vũ trang chúng ta vì tổ quốc
Nguyện một lòng với non sông…”

219 cái mồm tân khóa sinh chu ra hát nghêu ngao, bài hát: Công an vũ trang… nhân dân.
Lại nhân dân!
Tuấn nhìn khắp sân bóng chuyền, thấy 219 hình nhân đều giống nhau. Áo quần màu xanh cứt ngựa (được phát hai bộ), một cái mủ vãi công an vũ trang, một cái nón cối, một cái mền, chiếu, ba lô, một cái chén ăn cơm bằng sắt pha men, hai đôi giầy vãi: một cao trên mắt cá chân, một thấp hơn. Mọi thứ đều từ Trung quốc viện trợ. Bộ chỉ huy cấm tuyệt không sửa chữa lại quần áo từ nước anh em láng giềng viện trợ, nên nhìn tân binh nào cũng giống như nhau: cái đáy quần, dài, kéo xuống hai cái đầu gối của tân binh. Tuấn chưa nhìn thấy một quân đội nào lại ăn mặc lượm thượm và khó coi như quân đội VN.
&
Ngày đầu tiên vào quân trường, Tuấn xếp hàng chờ giờ cơm trưa. Anh đeo cái bát đựng cơm sau túi quần, gắn vào đó bằng một cái móc tròn, như cái móc của thứ lựu đạn “mảng cầu” đã được rút chốt, ném vào kẻ thù, và giữ lại. Nó tòng teng, sau túi quần rộng thênh thang.219 tân binh ngóng chờ bửa cơm đầu tiên trong đời lính. Buổi sáng sớm, chả tên nào được ăn, nên mau đói của tuổi mới lớn.
- Đụ mẹ! Đói lắm rồi, quân đội ơi!
- Đừng mất quan điểm lập trường của một chiến sĩ Công an nhân dân, tự nguyện đầu quân!
- Tao mà tự nguyện? Tự nguyện cái con cặc! Mấy ổng biết gia đình tao, có mấy ông chú, bác đi tập kết, đi lên núi, nên phủ dụ. Tao làm dân phụ lơ xe đò, còn sướng hơn. Ăn cơm dọc đường tùy thích, đéo chờ ai, cũng chẳng muốn ai chờ.
- Sao đồng chí nói vậy?
- Ê, thằng kia, mới mấy tiếng đồng hồ là đồng chí sao? Tao đéo là đồng chí của mày nhé! Tao là Lơ xe đò bị gạt, bị bắt vào đây làm công an. Mả mẹ mày, lạng chạng, tao dộng cho đi hết hàm răng… đồng chí của mày!
Đó là Hưng, người bạn liên kết sau này với Tuấn
- Cấm ăn nói “ninh tinh”. Các đồng chí vào hàng. Xếp hàng hai, nhận khẩu phần. Khẩn trương vào hàng!
Tuấn đun vai người bạn lính, chưa biết tên tiến tới. Nắp vung mở ra còn bốc khói!
- Khẩu phần của các đồng chí đây!
Những cái bánh được xếp chồng chất lên nhau, trong những cái nồi nấu ăn của quân đội được mở ra, bốc khói, lan tỏa.
Đó là những vòng tròn của những cái đít chai vỏ bia “con Cọp” chính quyền trước để lại, vất bừa bãi trong kho nhà bếp, sau đói quá phải bán cho nhà ve chai kiếm thêm miếng ăn, được chính quyền mua về, cắt ra bằng lửa đang đun nóng, bằng một dây thép cột vòng ngang dưới đáy chai của…“đỉnh cao trí tuệ”. Đường kính trên ba lóng tay, dày không hơn một đốt ngón tay, như người ta dùng một cái nắp của chai lọ ụp xuống tàn nhẫn rồi chia ra từng phần, không một mãy may: thiếu, thừa để tranh cãi vì miếng ăn!
- Đụ mẹ.Toàn là bột mì.Ăn chỉ ngần này, làm sao đi, đứng, thao tác, mà nói chi tác chiến!
Tuấn bỏ vào mồm cục bột, nhấm nháp ngậm. Dường như, đây là thứ bột mì trong chiến tranh còn để lại, xây xát thành bột, để lực lượng chủ yếu nhất, trong ngành quân đội xử dụng!
Và cái Tuấn để ý nhất, quân đội VNCS không bao giờ chào lá Quốc kỳ và chào nhau bằng quân lệnh khi gặp nhau ngoài đường phố hay trong quân trường. Có một hôm, Tuấn đi ra khỏi A, gặp trung sĩ Thắng. Trong thân tâm anh đã nhìn thấy trên báo chí, hình ảnh… khi những người lính gặp nhau bất cứ nơi đâu – cùng một binh chủng – đưa tay ngang trán chào. Anh đưa tay chào trung sĩ Thắng, nhưng hắn ngó lơ và vẫn tiếp tục đi, như không thấy, không biết! Gần 6 tháng quân trường, Tuấn chưa hề thấy lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên trụ cờ (trong quân trường không có trụ cờ để chào mỗi sáng, như học đường của chính quyền VNCH); chỉ thấy lá cờ đỏ sao vàng, bay phất phới trên một chòi canh cao trước đồn, lưu cửu.
Quốc gia đâu. Dân tộc đâu… qua biểu hiện, của một lá cờ Tổ quốc?

nguồn:http://www.danchimviet.info/archives/70041
======================================================================
Hạt Ươm Hư [8]

|

Phần 1, Phần 2, Phần 3, Phần 4, Phần 5, Phần 6, Phần 7, Phần 8, Phần Kết

Chương 21
Ngày 2 tháng tư, là ngày Nha Trang bỏ ngõ để quân đội Bắc Việt tràn vào chiếm lấy.
Tuấn rời khỏi quân trường Nha Trang đúng ngày này, hai năm sau đó. Sự trùng hợp đến lạ lùng!
Khi những chiếc xe nhà binh đun đầu chạy vào cái cổng lớn của quân trường, có từng toán tân binh, giờ đã trở thành công an thực thụ chờ sẳn. Họ bây giờ chính là cánh tay phải của đảng, là quân đội nòng cốt nhất của CSVN. Sáu tháng quân trường, họ được dạy để trở thành một thứ người máy đễ bề sai bảo, trí trá trong não bộ của tình đồng chí thắm thiết, vẻ ngoài là luôn luôn xây dựng cho nhau, bằng những đòn: Phê và tự phê. Rốt cuộc anh nào cũng “Phê” khi biết mình là công an vũ trang, một sắc lính người dân nào cũng sợ sệt, kiêng dè!
Mỗi toán cở 30 người được gọi từng tên trèo lên xe với cái ba lô con cóc sau lưng. Tuấn bước lên chiếc xe đầu tiên, ngồi ngay ngắn ở hàng ghế cuốì. Anh nhìn xuống sân quân trường không một quyến luyến, nơi đó hàng ngày: sáng, trưa, chiều… thao tác những bài học quân sự, học võ thuật cùng đồng đội.
Nơi đây… anh được dạy cách bắt và giết người dân nhanh nhất. Cũng nơi đây, anh được dạy cách hãm hại đồng đội tinh tế nhất bằng những phê và tự phê; và cũng ở nơi đây, anh được dạy làm một con két, nói những điều mà khi phát biểu, anh biết chắc nó hoàn toàn phản cảm và vô cùng tệ hại, nhưng vẫn nói một cách trơn tru giáo điều.
Tuấn chợt nhiên, nhớ bài thơ anh từng được đọc.
“Giết, giết nữa bàn tay không phút nghĩ
Cho ruộng đồng xanh tươi…”

Đó là câu thơ của một (văn nô) Bộ Trưởng Văn Hóa thời VNDCCH ở miền Bắc, sau này được áp dụng vào học đường cho cả nước VN hai miền Nam Bắc. Nó có đúng không, trong một dân tộc lễ nghĩa có thừa, từ bốn ngàn năm văn hiến?
Mà giết ai đây, cho ruộng đồng xanh tươi, khi nông dân chiếm đa số gần 80 % trong một đất nước còn lạc hậu về nông nghiệp, sau thời thực dân Pháp?
- Các đồng chí nên nhớ: Ai chống lại đảng ta, người đó là kẻ thù của… nhân dân ta! – Đồng chí chính trị viên đại đội đã từng giáo huấn… lộn sòng như thế với bọn tân binh miền Nam.
- Cũng đúng! Bởi vì, đảng từ dân mà ra, nên phải vì nhân dân. Mọi thứ đều có từ nhân dân mà ra, ngoài Ngân hàng Nhà nước!
319 tân binh khi trình diện làm người công an, nay còn đúng 299 tên.20 tên đã bị loại bỏ, vài tháng sau khóa học, vì nhiều lý do.Một anh nhớ vợ, con thường khóc hằng đêm, bị đuổi về. Vài anh vô kỷ luật bị chuyển qua quân đội nhân dân, số còn lại bị truy tầm lý lịch có dính líu đến tôn giáo hoặc có bà con xa là Ngụy quyân Sài Gòn. Họ đã khai man, bị đuổi ra khỏi ngành công an, cũng bị chuyễn qua quân đội. Với người CS, họ sẽ truy lùng tận gốc bản kê khai lý lịch ba đời. Cánh tay phải của đảng không bao giờ chứa chấp những thành phần tôn giáo nào cả. Đó là chủ trương lớn của đảng CSVN!
Xe từ từ chuyển bánh.Giã từ Nha Trang.
Tuấn không biết sẽ đi về đâu. Đó là bí mật quân sự!
Xe trực chỉ chạy về hướng Diên Khánh, nơi Tuấn được sinh ra. Tới ngã ba A Ùi, xe rẽ ngoặc trực thẳng hướng con quốc lộ 1 đường vào miền Nam. Thằng sinh viên, hích hông Tuấn nói.
- Có lẽ mình vào Cam Ranh, mày ạ.
- Sao ông biết?
- Cam Ranh là thị xã cuối cùng của tỉnh Phú Khánh.
Tuấn nhìn vu vơ hai bên đường. Anh mang một tâm trạng hoang mang không biết mình sẽ đi về đâu. Đến cây số 9, thuộc thị xã Cam Ranh chiếc xe ngừng lại. Một A trưởng của trường huấn luyện công an bước xuống, đọc quân lệnh gọi tên 6 công an tân binh xuống xe. Họ lầm lũi đi vào một con đường đất ra hướng biển.
Xe tiếp tục chạy.

- Như vậy, họ chia quân ra từng toán trú đóng các đảo, mày ạ.
- Ừm…
- Chắc tao với mày, cùng về một đồn quá!
- Sao biết? – Tuấn nói bâng quơ.
- Mà nè, mày nhớ những gì tụi mình bàn trước kia nhé!
- Ừm…
Xe lại ngừng.A Thắng bước xuống.
Thằng sinh viên được gọi tên đợt này, khi xe ghé Thủy Triều. Nó nhìn Tuấn rơm rớm nước mắt, ôm vai Tuấn thật chặt, nói nho nhỏ.
- Vậy là hỏng! Chúc mày bình yên.
- Ông cũng vậy! Ráng mà thực hành những gì bọn mình ôm ấp.Thôi ông đi.
- Lầy… lầy… đồng chí Tuấn. Xuống cho mình hỏi cái lầy chút nhé.
Tuấn nhảy xuống xe. A Thắng nói.
- Thôi, đồng chí an tâm công tác nhé. Đồng chí sẽ về Bình Ba, Cam Ranh.Trước khi từ giã đồng chí, tớ muốn đồng chí cho tớ một lời khuyên nhé.
- Sao ạ?
- Nhờ đồng chí, xem tướng số cho tớ một quẻ!
Mẹ kiếp. Thằng CS mà cũng tin vào tướng số và trời đất! Vậy thằng cha này, cũng chưa “Hư’ đến nỗi như mấy thằng CS thứ thiệt.Số là, trong quân trường những lúc rãnh rỗi, Tuấn thường mang cuốn Bói tướng ra xem.Bọn tân binh kháo nhau.
- Đồng chí Tuấn nói “in” như phóc!
- Báo cáo đồng chí. Tôi chỉ võ vẽ vài đường!
- Chậc! Đồng chí cứ coi giùm lần cuối, trước khi chia tay nhé.
Tuấn ngần ngừ.
- Vậy… đồng chí… đứng nghiêm cho tôi coi nhé! Nhưng trước khi, tôi coi “quẻ” này, tôi khuyên đồng chí, hãy sống thành thật với đồng đội mình.
- Đồng chí thông cảm! Đó là chủ trương của đảng ta. Đồng chí cũng biết, thanh niên miền Nam, có lý lịch ba đời như cậu, không dây dưa với bọn Ngụy, chúng tôi rất khó tìm…
Tuấn kéo tay A Thắng, khuất sau hông xe, nói.
- Tôi biết. Nào, đồng chí đứng yên tôi nhìn nhé.- Tuấn vờnghiêm nghị nhìn mặt Thắng nói, và tiếp.
- Đồng chí… hình như có một vết “ruồi” khá to và kín nơi vùng hậu môn?
- Giời ôi! Sao đồng chí tinh tướng thế nhỉ?
- Này, đồng thử rờ lại hậu môn, coi có đúng không?
A Thắng lấm lét nhìn quanh, thọc tay vào sau lưng quần, mò, gật gật đầu.
Thật ra, trong quân trường, những thằng lính thường soi mói nhau, khi tắm tập thể nơi bể bơi, nên biết nhau rất rõ…
- Lên xe đồng chí ơi!
Tuấn leo lên xe. A Thắng hỏi với theo.
- Vậy, đời tớ sẽ thế nào?
- Đồng chí còn một “ruồi” kín nữa!
- Ở đâu, sao tớ chả biết!?
- Trong lỗ mũi của đồng chí!
Gã Thắng hoảng hốt, đưa ngón tay vừa rờ hậu môn, thọc vào mũi tìm!
- Tớ không có!
Xe bắt đầu lăn bánh.
- Như vậy, đời đồng chí tiêu tùng rồi!
- Thế nà, thế lào, đồng chí Tuấn?
- Như ngón tay… có mùi của đồng chí!!!
&
Xe bắt đầu vào thị xã Cam Ranh, rẽ ngoặt vào phi trường.
Tuấn thẩn thờ nhìn phi đạo một thời nổi tiếng trước kia, buồn vơ vẫn.
Đây là phi trường quân sự của Mỹ để lại sau 1975. Nay, nó, không còn là cái phi trường đúng nghĩa theo tiếng gọi. Đường phi đạo bị bới tung lên và cháy xém rất nhiều nơi lỗ chổ. Những chiếc xe nhà binh và dân sự bị cháy đen sau cuộc tháo chạy tả tơi, vẫn còn nằm đó trơ gan cùng tuế nguyệt. Hai năm trôi qua, mà những cái nón sắt, áo chống đạn vẫn còn rơi vãi không dọn dẹp – vẫn còn ở đó.Những hố sâu của đạn pháo kích đầy nước bẩn tích tụ. Những vĩ sắt trên phi đạo, lớp bị gỡ mất, lớp nằm chổng chơ còn sót lại, có lẽ do chính quyền không kiểm soát nỗi nạn hôi của của người dân đói nghèo, sau chiến tranh.
Hai năm, sau vãn hồi hòa bình, bộ đội chính qui Bắc Việt chủ trương: vào, vơ, vét, về… và xây nhà tù, trại cải tạo nhanh hơn thu dọn chiến tranh tàn phá để lại! Họ lo thu tóm tài nguyên của miền Nam, mà không nghĩ đến thu dọn một chiến trường, tình máu mủ da vàng chém giết nhau vì ngoại bang sai khiến, như một nỗi nhục nhả gà nhà bôi mặt Mẹ đá nhau.
Kết thúc chiến tranh, sẽ phải là lòng vị tha của kẻ chiến thắng, nhất là cùng một dân tộc có ngàn đời đấu tranh vì ngoại xâm. Kết thúc chiến tranh, bằng: Vào, vơ, vét, về… đó là kết thúc của một lũ cướp, đói nghèo bị ngoại bang sai khiến, đã trở thành một lũ lưu manh, không còn tình tự dân tộc.
Một bọn cướp có môn bài!
&
Quân cảng Cam Ranh thuộc hạng sâu và có tiềm lực địa chính trị nhất thế giới cùng vịnh Subic của Phi Luật Tân.
Trời nắng chói chang như đổ lửa vào tháng tư. Gió vẫn thổi tung tóc và nắng vẫn hốc cả người. 14 tân binh công an được bỏ xuống ngay cầu tàu của quân cảng.
- Các đồng chí, đứng chờ nơi đây. Không lâu sẽ có tàu của ta, từ đảo Bình Ba vào đón. Chúc các đồng chí công tác tốt, học tập tốt! – Gã A trưởng nói, rồi lên xe nhà binh trở về Nha Trang.
- Tôi đói lắm rồi các đồng chí ạ!
Tuấn nhìn quanh. A, thì ra “thằng tham ăn” cũng về đây! Còn lại, những khuôn mặt lạ hoắc, anh chưa nhìn thấy, hoặc có nhìn cũng như bao khuôn mặt của trên 300 tân binh. Có một tên mặt quen quen, nhưng ngù ngờ, làm anh nuôi, nấu ăn nhà bếp cho lính, khác A, Tuấn không nhớ tên.
Cả bọn đứng chờ nôn nóng.Chợt “thằng tham ăn” la lớn.
- Ô. Cái vòi con gì kìa!?
Cách hơn trăm thước, một vật thể tròn tròn từ từ nhô lên khỏi mặt biển. Một vùng rộng lớn chợt sủi lên bọt biển trắng phèo. Một cái cù lao nhỏ giữa biển nhô lên có hình chữ nhật, đen thui với cái cờ búa liềm đỏ thắm. Nhiều cái đầu tóc vàng chóe, áo rằn ri thủy quân lục chiến như thời VNCH, chun ra khỏi cái khung sắt nhìn quanh. Bọn tân binh trố mắt, há mồm nhìn. Chúng quan sát một lúc, rồi chun mình vào thân tàu, đóng nắp. Chiếc tàu ngầm, lẳng lặng chìm xuống.
Tuấn thật tình không tin vào đôi mắt mình! Quân đội Liên Xô đã nằm và ếm trên dãi đất và biển VN này đã bao lâu?Sao họ tự tại và thênh thang như chỗ không người?
Tuấn tê tái cả người.
- Đất nước tôi đó!
Hết Trung cộng, giờ đến Nga cộng ngự trị trên đất nước này (Sau này, vượt thoát khỏi đất nước, Tuấn đọc nhiều bài báo, viết: Liên Sô vào VN đầu thập niên 1980, là hoàn toàn sai!).
- Mẹ cha cái bọn chính quyền CS lưu manh!!!

Tiếng máy tàu nổ… ình ình từ xa vọng lại, do gió đưa từ biển thổi ngược vào, mỗi lúc một lớn hơn. Một chấm đen, rồi một nắm tay và dần dần hình thành một con tàu có vũ trang tác chiến bằng cây đại liên cắm trước mũi tàu.
Con tàu lượn một vòng tròn, như biểu diễn thân vóc to lớn để kiềm hãm sức lao và tạo sóng khi cập sát cầu tàu. Nó từ từ cặp bến an toàn.
Gã công an vũ trang, chức danh trung sĩ bước lên be tàu nhảy xuống cầu tàu quân cảng nhìn nhanh trên tờ giấy.
- 14 đồng chí à. Thiếu một đồng chí, lẽ ra phải 15!
- Báo cáo đồng chí, chỉ 14 thôi ạ!
Cả bọn nhốn nháo nhìn quanh, rà soát.Mẹ kiếp. Rõ ràng, ban nãy 14 thằng mà!
- Như vậy, có một đồng chí đào ngũ. Các đồng chí xuống tàu, nhận nhiệm vụ mới!
Ai đã đào ngũ?
&
Bọn tân binh nhảy xuống tàu, reo hò inh ỏi. Chúng quăng ba lô rãi rác, hăm hở nhìn sóng biển chập chùng, bao la trời nước.Tuấn vào ca-bin ngồi im lìm, vai vẫn đeo cái ba lô con cóc. Con tàu rú mạnh lao về phía trước, chẻ ngọn sóng bạc đầu, cất cao mũi lao tới.
Biển trùng khơi một màu xanh xậm rùng rợn của độ sâu nước biển. Tuấn ngồi im, nhìn đám lính vơ tay chộp những con cá chuồn chuồn, bay ngược sóng nước vượt qua mũi tàu, rớt vung vãi trên nền tàu.
Cộc… cộc…
Mấy tiếng gõ vào cửa kính làm Tuấn giật mình. Anh quay người lại, thấy gã trung sĩ đưa tay ngoắc anh ra, miệng cười mỉm như thử lòng. Tuấn mở cửa ca-bin bước ra sau quầy lái.
- Chào cậu tân binh! Lính mới, từ học sinh vào quân trường, phải không? – Tuấn nhìn anh, gật đầu.
- Vâng. Đang học dỡ chừng cuối năm trung học. Chào đồng chí trung sĩ ạ!
- Đừng có gọi tôi là… đồng chí, đồng rận gì cả. Tôi ghét nhất cái danh từ bịp bợm này! Cứ gọi tôi là Thăng, hay anh Thăng, dù gì tôi cũng hơn cậu vài tuổi, cho thân mật nhé.
- Vâng. Chào anh Thăng. Tôi là Tuấn. Binh nhất Vũ Tuấn!
- Nhìn cậu, tôi nhớ tới thằng em kế, cũng đang học năm cuối trung học, không biết giờ ra sao. Hai năm rồi, chưa trở về quê ở Lương Sơn, mãi bận đời lính.Mà nè. Tôi ghét nhất là thằng nào gọi tôi là đồng chí, là trung sĩ! Tuấn nhớ nghe.
- Sao vậy anh Thăng?
- Cậu vào lính sáu tháng, mà chưa học được tình đồng chí thắm thiết của quân đội công an vũ trang của ta à?
Tuấn đứng im, nhìn bâng quơ, suy nghĩ… dò tìm phản ứng trên khuôn mặt Thăng. Với khuôn mặt đều đặn hơi tròn, không góc cạnh khắc khổ, cộng mái tóc xoăn quắn tự nhiên, Tuấn thấy an lòng người đối diện. Những người có mái tóc xoăn quắn, họ thường khôn và trí trá.Nhưng ở Thăng, Tuấn không đọc thấy sự trí trá, nhất là ở đôi đồng tử hiền từ này. Anh bắt đầu thân thiện, xiết chặt tay Thăng.
- Cám ơn anh Thăng!
- Cám ơn gì vậy Tuấn?
- Sự cảnh tỉnh của tình đồng chí công an vũ trang của chúng ta!
- Ha… ha…
Cả hai ôm nhau cười vang, giữa sóng nước cuộc đời, tìm nhau.
&
Khi chiếc tàu hai “lốc đại” cập bến, cũng vừa lúc tiếng kẻng đánh vang lên. Lính từ trong đồn tuôn ra, xếp hành hai trình diện.
Từ dưới tàu nhìn lên, Tuấn nhìn thấy ba tòa nhà cao lớn, hai tầng có ban công nơi hàng hiên trên cao. Mỗi căn cách nhau khoảng trăm mét. Đây là những căn lầu của Hải quân VNCH, do Pháp xây để lại, nay quân đội CSVN chiếm đóng. Căn lầu đầu tiên ngoài mé biển nhìn ra đại dương xanh đen, đã bị phá sập gần như hoàn toàn, chỉ còn trơ lại vài phòng cuối dẫy. Sau này, Tuấn được biết, khi Hải quân VNCH di tản đã cố tình phá đi trước khi rời một căn cứ quan trọng, không muốn quân bắc Việt chiếm đóng. Nhưng có lẽ vì quá vội vàng, họ chưa phá toàn bộ hai căn còn lại. Căn chính giữa, công an vũ trang chiếm đóng, gần 60 chục mạng. Căn kế tiếp, quân đội nhân dân VN, với một quân số rất đông. Điều đặc biệt, dù đóng trên một ốc đảo gọi là Bình Ba, nhưng dưới bến cảng họ không bao giờ có một chiếc tàu nào để viện trợ, tiếp tế. Mọi giao thông đi lại trên biển đều do công an vũ trang thu xếp.
Chế độ CS là một chế độ kỳ dị và khó hiểu nhất trên thế giới này.Họ chia ra để trị một cách láu lĩnh và tàn ác. Công an vũ trang và công an áo vàng, nếu gặp nhau trên đường phố, thế nào cũng choảng, đánh nhau. Quân đội nhân dân thì ghét công an vũ trang ra mặt, vì họ từ tầng lớp nhân dân bị bắt lính đi bộ đội. Họ ghét công an vũ trang và công an áo vàng, vì bọn này được nhiều ân sủng từ chính quyền vì có thân nhân theo Cộng và có một lý lịch trong sạch. Đã có hàng bao nhiêu vụ, Tuấn đã chứng kiến họ đánh nhau khi còn học trong quân trường Nha Trang.Họ kéo từng tiểu đội, trung đội tới tận bản doanh khiêu chiến nhau.
Tuấn bám vào từng vách tàu, rón rén trèo ra vất vả.Anh chưa từng bao giờ đi tàu nên còn bỡ ngỡ, khi nhảy xuống cầu tàu, xém té. Tuấn lúp xúp chạy từ dưới con dốc nhỏ lai lãi đầy sạn, chạy vào hàng điểm danh. Trên con đường anh đang chạy, là những vốc gạo trắng nuốt đổ tung, trãi khắp cùng các thứ đồ ăn khô.
- Cái gì đã xảy ra? – Tuấn tự hỏi.
- Báo cáo đồng chí thủ trưởng. Chỉ có 14 tân binh, thiếu một đồng chí ạ. – Thăng đứng im báo cáo, không giơ tay chào ngang trán trước khi trình báo.
- Mẹ. Quân đội gì mà kỳ vậy!? Trình báo gì mà không chào theo quân cách của một quân nhân? – Tuấn nghĩ thế.
Ông Thiếu tá, vẫy tay, khệnh khạng, giọng trọ trẹ Hà Tĩnh.
- Báo cáo…
- Điểm tên từng đồng chí cho tôi mà nì!
Ông lom khom nhìn từng thằng lính mới ra trường, như đe dọa.Tới bên Tuấn, thấy anh có cái túi mìn claymor là lạ, ông dừng lại.
- Cái gì đấy nhỉ?
- Thưa, thủ trưởng…
- Phải là… Báo cáo… mà nì nhé! Tên đồng chí?
- Báo cáo thủ trưởng, tôi tên Vũ Tuấn. Đây chỉ là một cái túi cá nhân thôi ạ.
Ông chụp lấy săm soi hàng chữ “Không có gì quý hơn độc lập và tự do”, do thằng Đại viết khi tặng Tuấn, hỏi.
- Ố, ồ… Thứ chữ gì đây?
- Báo cáo… thủ trưởng… – Tuấn chợt ngưng ngang. Một thiếu tá trưởng đồn công an, có đáng để anh trả lời cho một kẻ ngu dốt, không hiểu tiếng Anh và tiếng Mỹ, là thứ tiếng gì trên thế giới, và lại nghên ngang hỏi anh, một cách ngu xuẩn… của kẻ gọi là lãnh đạo trên 50 mạng người!
- Tôi đang hỏi… mà nì!
- Báo cáo đồng chí thiếu tá thủ trưởng. Đồng chí Tuấn biết viết tiếng Anh đấy ạ! – “Thằng tham ăn”, hả hê chỏ miệng vào.
- Tiếng Anh là tiếng gì nào?Ông nhìn “thằng tham ăn”, gật gật đầu.
- Báo cáo đồng chí thiếu tá… trưởng đồn. Tiếng Anh là tiếng của bọn đế quốc Mỹ đấy ạ. – “Thằng tham ăn” đế thêm vào
- Ôi, chu choa. Hỉ… hỉ.Đồng chí “ấy” biết nói và viết cả tiếng Anh của bọn đế quốc Mỹ nữa à? – Ông thiếu tá dí sát mặt nhìn vào hàng chữ, một mắt nheo nheo (ông có đôi mắt không đều). Ông nhìn “thằng tham ăn”, hỏi.
- Vậy đồng chí “ấy” viết gì rứa?
- Báo cáo đồng chí thủ trưởng. Tôi nghe phong phanh, tân binh nói rằng, đồng chí Vũ Tuấn viết: “Không có gì quý hơn đối lập và do dự” ạ!
Tuấn muốn chồm lên bóp cái miệng và cái cổ “thằng tham ăn” cho đến chết mới hả dạ.Nhưng nhìn cặp mắt, sắt như dao của một trùm thiếu tá công an, lại là lé đôi, anh ẩn nhẩn nhịn.
- Tao đã tới đây rồi. Tới cái đồn công an này như mong muốn. Đã bỏ cả tuổi thanh xuân, mạng sống, gia đình, người thân… thì vào đây, tao phải biết tao là ai? – Tuấn nuốt nước bọt, kềm giọng.
- Báo cáo thủ trưởng. Đồng chí Tòng nói sai rồi ạ. Đây là câu nói lịch sử của bác Hồ: “Không có gì quí hơn độc lập và tự do”, ạ.
- Không có cãi mà nì! Trung sĩ Quang mô nì?
- Báo cáo thủ trưởng có mặt! – Một gã cao to như con báo rừng, khệnh khạng bước ra khỏi hàng, trình diện.
- Bên hậu cần (anh nuôi), còn có chỗ nào trống cho đồng chí Vũ Tuấn của chúng ta không nhẻ?
- Báo cáo thủ trưởng không ạ. Nhưng thưa đồng chí thủ trưởng: bốn con bò ở ban hậu cần, chưa có người thường trực chăm sóc ạ.
- Vậy đồng chí Quang, hãy điều đồng chí Vũ Tuấn chăm sóc bốn con bò ấy nhẻ.
- Báo cáo thủ trưởng. Khi còn ở quân trường, tôi ở bên truyền tin ạ. – Tuấn nói, như than van.
- Ôi dào. Sao đồng chí tân binh không báo trước.Được rồi.Đồng chí kiêm cả hai nhiệm vụ nhẻ. Tan hàng!
- Rõ…
Đó là ngày đầu tiên nhận nhiệm sở mới của một công an vũ trang, Vũ Tuấn!
&
Có những buổi chiều, trời ráng đỏ ánh nắng cuối cùng trên cao và tím tái nơi chân trời đang thành hình, sự buồn bả sắp chụp xuống nơi ốc đảo với trên dưới ngàn dân sống trong làng Bình Ba, quanh năm bằng nghề đánh cá, câu tôm, mực… làm Tuấn thoái lòng, tê tái cả tâm can. Anh chưa hề nghĩ rằng: cuộc đời này, sẽ có một ngày, anh ngồi trên lưng những con bò, trên một ốc đảo, nghêu nghao giữa sóng biếc trùng khơi, đầy bọt biển, – chất – thi – vị – của- cuộc – đời – cay đắng này, như nước mắt của đại dương xanh đen bị vây hãm, bởi đất đai chỉ chiếm 1/3 của quả địa cầu nhỏ hẹp!
Tuấn nhìn ra khơi, nơi sóng gió trùng trùng trong một dãi đất nhỏ hẹp, nhớ lại tất cả…

nguồn:http://www.danchimviet.info/archives/70062
======================================================================

Hạt ươm hư [Kết]


|

Phần 1, Phần 2, Phần 3, Phần 4, Phần 5, Phần 6, Phần 7, Phần 8, Phần Kết,

Chương 24
Buổi sáng, sau khi gặm mấy cái đầu cá luộc chấm với muối mặn chát, Tuấn dắt năm con bò vào sâu trong những lùm cây trên đảo đá có cỏ mọc lưa thưa nơi đầu làng Bình Ba, cho chúng kiếm cỏ ăn.
Khi xưa, không biết người Pháp đến Bình Ba trước dân làng chài hay sau, mà chọn nơi trú đóng cho quân đội Hải quân đầu dãy đảo chỉ toàn là đá.Những người lính Hải quân VNCH kế tiếp trú đóng, đã đào những tảng đá lên, gieo trồng một vài thứ hoa và cây cối nay đã trở thành những cây cổ thụ.Những loại cây không tên và không trái tỏa mát cả khoảng trời gần cái cảng sâu hun hút; nơi ấy, hàng đêm những con cú có bộ lông xù và đôi mắt to, trú ngụ kêu rúc đến ai oán.
Những bụi bông giấy đỏ vàng, những cánh hoa trúc đào đỏ biếc cũng làm không gian trên ốc đảo bớt khô khan.Cuộc sống của những người lính nơi biên đảo xa xôi, cách xa phố thị cũng vơi đi phần nào nổi cô đơn trống vắng, khi nhìn những đóa hoa nở rực vào những tháng hè. Còn những mùa đông u ám trôi qua như thế nào, Tuấn chưa hình dung nổi khi anh chưa kinh qua trên cái đảo vắng vẻ và quạnh hiu này.
Dân làng chài Bình Ba cũng sinh hoạt về đêm như những công an biên phòng. Đêm đêm, những chiếc xuồng con con, những cái thúng chai tròn tròn trôi dật dề trên sóng nước câu mực và đánh bắt những loại hải sản nhỏ trong lòng vịnh Cam Ranh. Những chiếc tàu lớn đi ra biển xa ngoài trùng khơi dậy sóng, bị kiểm soát gắt gao khi ra khơi, bằng những công an biên phòng được gửi kèm đi theo kiểm soát…
Tuấn thả những con bò cho chúng tự tìm cỏ ăn như thường lệ. Nhìn những chú bò ốm đói trơ mảnh xương sườn, anh cảm khái cho kiếp súc vật. Giữa con người và con vật, trong một chế độ đang tự hủy hoại, bằng một chính sách tự cô lập để sinh tồn, chung quanh một thế giới đang mở dần lớn ra theo nhịp độ ánh sáng văn minh. Họ đang giương cao ngọn cờ cách mạng bách chiến bách thắng vẫn còn âm vang của thời đánh Pháp và Mỹ, sao thật thảm thương!
Cái ăn cho con người và con vật, sau chiến tranh là một bài toán nan giải cho một chính sách không cởi mở và ép dân đến đường cùng. Hay đó là một chính sách đang được thực thi theo chủ trương của người CS?
Nhiều người đã cho rằng như vậy.
Con người khi đói, thì sự phản kháng sẽ kém phần mãnh liệt, vì chỉ nghĩ đến cái ăn, sao cho no bụng, từng ngày nối tiếp nhau. Khi sự chịu đựng không còn nữa, người người chỉ nghĩ đến con đường vượt thoát ra khỏi một đất nước đã sinh ra mình. Đến cái cột đèn vô tri, vô giác còn muốn ra đi, huống chi con người! Người ta đồn thế.
Trăm, ngàn năm sau, miệng bia để lại vẫn là sự não nề thê lương cho một dân tộc có bốn ngàn năm văn hiến…

Ngoài xa kia đường ranh lãnh hải của biển, có là: “bên kia biên giới… là nhà”, mà sao nó hấp dẫn đến đổi, mọi con dân Việt Nam sẵn sàng đem cái mạng của họ ra thử thách với trùng khơi? Người ta vẫn đi, ùn ùn đi… dù hằng trăm, hàng ngàn, hàng trăm ngàn những xác chết trôi dạt trở lại nơi chôn nhau cắt rốn của họ, mà Tuấn đã từng chứng kiến và ghê tởm nơi lòng vịnh Cam Ranh sâu ghê gớm này.
Những thây người mặt mũi, tay chân loang lỗ, vữa ra vì bị cá rỉa, không cho anh cơ hội nhìn, để xác định đâu là thằng Chổng, hoặc giữa đàn ông và đàn bà khi chết đuối, như anh từng biết khi còn ở Diên Khánh thời chiến tranh.
Phóng tầm nhìn ra đại dương xa tít, mù thẳm một màu xanh đen của sóng nước, Tuấn cảm nhận, giá trị của con người sao nhỏ nhoi đến thảm hại với đất trời và đại dương bao la. Tại sao, con người lạnh lùng và tàn bạo đến hợm hỉnh chừng ấy, khi đã nhìn thấy Trời, Biển đã ngàn năm kinh qua bao cuộc thăng trầm của lịch sử hưng vong, qua nhiều triều đại thịnh suy, để lấy đó làm bài học trị quốc.
Tuấn đi lên một mỏm đá khô và nóng. Anh dựng súng trên vách đá, ngồi xuống nhìn ra đại dương xanh đen, mù khơi và vĩ đại không có dấu chấm của điểm chân trời. Nơi đó là đâu.Bốn phương tám hướng như trong kinh nhà Phật dạy?
Biển sâu lắm. Nó rộng lớn vô cùng tận. Nhưng lòng dạ (nhỏ bé) của con người cũng sâu không kém gì biển. – Nó mênh mông, vô thủy, vô biên… không thể đo, đếm, dù nhỏ hơn biển.
Tuấn ngồi xuống trên mỏm đá xù xì. Anh khoan thai xếp hai chân bắt chéo nhau kiểu kiết bán già, hai tay đặt lên hai bắp vế chân. Anh nhìn về phía chân trời của biển, nơi đó, ánh hồng quang đã bắt đầu lên từ từ, rừng rực đỏ, như một cái thúng nhỏ, rồi dần dần lớn. Một vòng tròn lan dần, lan dần màu đỏ óng ánh trôi lênh đênh trên sóng nước dập dềnh.
Tuấn hít thật sâu không khí thấm đẫm tươi mát của biển, vừa bừng mở của một buổi sáng nơi ốc đảo xa xôi, vào buồng phổi, đưa xuống tích tụ nơi đơn điền. Tuấn hít, thở… bằng những động tác đối nghịch thường hằng của con người.

Bụng anh phình to ra khi hít không khí vào. Anh giữ không khí thanh thoát, tươi mát của buổi sáng ấy, nơi đơn điền trong vài giây, như thưởng thức một món ăn ngon thú vị…
Và, Tuấn từ từ thở ra. Bụng anh thóp vô thật sâu, đẫy trượt điển lên, qua hai lỗ mũi, đưa thanh điển tung lên não bộ, và giữ lại nơi đó. Anh đưa hai ngón tay cái, bịt chặt hai lỗ tai, hai ngón tay trỏ bấm vào hai sợi gân trên hai màng tang và thở ra hít vào thật sâu. Cứ thế, Tuấn ngồi sâu cả giờ, như đã… một mình trên ốc đảo, mỗi sáng sớm, khi dẫn năm con bò cho chúng kiếm cỏ ăn, từ khi về trú đóng làm kiếp lính thú nơi cái đồn hoang vắng này.
Ôi, một lắng dịu tinh thần! Anh làm một vài động tác của thiền mà khi còn trẻ anh chẳng bao giờ tin, vì lý trí chưa đủ khôn để hiểu về đời và đạo. Cũng có thể, khi chưa cùng mạt tận, nó chưa hẳn là niềm tin!
Mọi thứ đều tịnh lắng đến trong sáng.
Cỏi ta bà ngũ trượt trong anh, dần dần biến mất, ở đó là sự thanh thản của tâm hồn, không còn những ý niệm tranh chấp và hận thù.
Có thật không, khi dòng sống với những tranh chấp cuồn cuộn trôi như thác đổ, cuốn lấp mọi thứ, như rác rưởi cuộc đời, một nơi mà quyền con người bị đánh mất bởi một chủ nghĩa ngoại lai?
Tuấn nhớ lại tất cả…
&
Buổi trưa hôm sau – ngày, Hưng bị bắt về đồn, sau hai tuần phép vô kỷ luật, như ông thiếu tá trưởng đồn thông báo. Tuấn đang lom khom dắt đàn bò xuống những ghềnh đá cao giữa đảo, thì nghe một loạt súng chát chúa vang lên. Tuấn bỏ đàn bò, ôm súng chạy nhanh về đồn.
Dưới sân cement to lớn của căn lầu, tân binh Hưng ôm cây trung liên RPD, bắn liên tục mấy phát nữa. Hắn gào to:
- Đồng chí thiếu tá trưởng đồn đâu, hả hả, ra… trình diện! Không, tôi bắn chết mẹ đồng chí và cả cái đồn chết tiệt này. Ra, ra đây…
Bọn lính đứng im thin thít sau cánh cửa, dõi mắt nhìn phòng ông thiếu tá đóng chặt, chờ đợi.
- Thằng Hưng điên thật rồi! – Tuấn nghĩ thế. Anh biết, tánh khí Hưng từ khi còn ở quân trường.
- Đ.m… Tôi đếm đến ba tiếng, mà không mở cửa, tôi vào đấy nhé, thiếu tá!
- Một… hai…
Cánh cửa đôi bung ra. Gã Quang, đi ra trước với cây P.38 đeo bên hông.
- Mày bỏ súng xuống. Không, tao bắn! – Hưng ghì cây RPD vào bụng ra lệnh.
Gã Quang riu ríu bỏ cây P.38 xuống bực thềm. Sau gã, là ông thiếu tá trưởng đồn, bước ra mặt tái mét.
Giọng lão run run.
- Từ từ, đồng chí nì. Có gì chúng ta bàn thảo lại, đâu lại hoàn đó.
- Từ từ… cái con buồi! Ông là lính, tôi cũng là lính.Ông là người, tôi cũng là người.Là người, ông cũng biết thấm khi đói no. Tôi cũng vậy! Tôi và ông cùng có tiêu chuẩn mức độ ăn uống, do nhà nước cấp phát khi thi hành phận sự người lính. Tại sao, ông bỏ đói tôi?
- Ôi giời! Cậu đang bị án phạt, mà lại đòi hưởng quy chế nhà nước à?
- Điều lệ đâu, cho tôi coi! Mẹ, ông nên biết, tôi đã từng thấy nhiều tân binh bị giam vì kỷ luật khi còn ở quân trường, họ vẫn có tiêu chuẩn ăn. Tôi nói cho ông biết: thằng lính miền Nam, nó khác thằng lính ở miền Bắc đấy nhá. Nó dám làm và dám chịu, khi chính bản thân nó tự thấy mình không sai. Không như, những thằng lính Bắc, chỉ hùa theo đám đông, vì bị nhồi sọ quá lâu. Hơn nữa, tôi cũng nói cho ông biết: những thằng lính bị đì ra cái ốc đảo này, coi như đời đi đoong như ông thôi. Phải không?Đây là đảo kỷ luật đám lính bất tuân sự lệnh của quân đội mới bị đì ra đây.Ở đây, thằng nào… lỳ, thằng đó làm cha, làm chúa đảo.Tôi biết, ông hiện là chúa đảo. Ông thu tóm mọi nguồn khai thác thủy sản để thủ lợi riêng cho phe cánh. Bọn miền Bắc các ông, coi bọn lính miền Nam chúng tôi, như một thứ tôi tớ để phục vụ các ông. Ông cho bọn lính trên đảo này, ăn những gì… ông nghĩ tôi không biết, vì mới về à?
- Đồng chí bớt nóng mà nì!
- Nóng, nóng… cái đầu buồi! Lương lính bốn đồng một tháng, chưa đủ ê chề hay sao, mà ông còn ăn trên xương máu chúng tôi. Ông trả một ngày ăn cho tôi không, hả hả… – Hưng dí cây trung liên vào ngực lão trưởng đồn. Gã Quang định che người bảo vệ ông thiếu tá, Hưng thúc cái đầu ruồi của súng vào bụng gã.
- Mày có tin tao bắn mày không, Quang? Tao đã nhịn mày trên đoạn đường hơn trăm cây số về đây rồi nhé. Lui ra, thằng chó!
Chưa bao giờ, Tuấn thấy Hưng liều mạng đến mức độ này.Anh, Hưng và thằng sinh viên từng bị kỷ luật nhiều lần, nhưng chưa bao giờ Tuấn thấy Hưng giận dữ đến liều lĩnh như thế. Đây là thế một mất một còn với Hưng.
Làm sao Hưng biết rõ mọi sinh hoạt trên đảo đá khi về đây mới hơn một ngày? Và ai, đã mở cái cọng dây kẽm cứng cáp bên ngoài “container”, để Hưng thoát ra?
- Ai???
Đó là một dấu hỏi cho cả Tuấn, lão thiếu tá và đám lính bị kỷ luật bị đì ra đảo! Mọi người nhìn nhau đặt dấu hỏi.Bọn lính miền Nam, nhìn nhau hả hê.Lão thiếu tá bảo nhỏ.
- Thôi, đồng chí vào đây. Tôi xin kiểm điểm sai sót. Chúng ta bàn lại chuyện nhẻ!
Hưng lưỡng lự giây lát, rồi bước vào phòng bộ chỉ huy. Nữa giờ sau, hắn đi ra bình thản như chưa hề xẩy ra chuyện gì!
Sau đó, Hưng được phân công về đội tàu tuần duyên, chuyên kiểm soát trên biển để bắt những đám người vượt biên. Một công tác, chẳng một anh công an miền Nam nào được vinh dự đi cùng thủ trưởng!
&
Buổi sáng chúa nhật được nghỉ, Tuấn thả vội những con bò cho chúng đi ăn cỏ. Anh trở vội về đồn đi loanh quanh dọc bờ cầu cảng.Đã ba tuần trôi qua, khi anh đặt chân đến ốc đảo này. Điều Tuấn chú ý nhất, là hai con tàu khá lớn của đồn công an đậu nơi bến cảng. Nhiệm vụ của Tuấn trực thuộc bộ hậu cần, nên anh chưa có cơ hội bước xuống con tàu từ khi về đồn.Tuấn ao ước được bước lên chiếc tàu lần nữa, (sau từ lần đầu tiên được chở về đây). Anh mong ước, khát khao đến nóng chảy cả tâm can sẽ được cầm bánh lái của con tàu, cho một ngày nào đó, trên một hải trình xa xôi. Tuấn bước xuống bến tàu, nhìn những người đàn bà và đám con nít đang ngồi câu mực vào buổi sáng sớm. Anh chăm chú nhìn và thấy là lạ. Lần đầu trong đời, anh thấy một lối câu ngược ngạo! Móc câu không mồi, bốn cái ngạnh sắt cạnh cong cong, được nhử nhử sau đuôi con mực. Những thằng bé, lấy cái dầm bơi đập phía trước những cái vòi đang tua tủa của mực, chúng bơi ngược về sau bằng bộ vi mềm mại. Những con mực phun ra một thứ nước màu mực đen như hăm dọa “đối phương”. Thế là chúng mắc bẫy, bị móc dính vào lưỡi câu nhiều ngạnh. Thì ra loài mực bơi ngược, không như những loài sinh sống dưới biển cả!
Tuấn đang ngạc nhiên, thích thú thì nghe tiếng gọi.
- Tuấn ơi! Lên đây mình nhờ chút. – Thăng đứng sau tay lái của chiếc tàu hai “lốc” đại, đang nổ máy vẫy tay gọi.
Tuấn lần bước, lập cập níu thành tàu leo lên. Thăng nói.
- Hôm nay, chúa nhật nghỉ. Mày đi với tao về Nha Trang chơi?
- Tôi có được quyền đi à?
- Dĩ nhiên. Chúa nhật được nghỉ mà. Nhưng tao, đang đi công tác đây, có bồi dưỡng. Nếu cu cậu thích, về nhốt mấy con bò rồi ta đi.
&
Lần đầu tiên trong đời, Tuấn được cầm bánh lái con tàu, vượt trùng khơi dậy sóng, sau mươi phút Thăng dạy anh cách điều khiển con tàu. Và cũng là lần đầu tiên, Tuấn biết thế nào là bán đảo Cam Ranh, nó to lớn và quan trọng đến dường nào trong thời chiến tranh leo thang Nam Bắc, qua người Mỹ trú đóng. Vị thế của vịnh Cam Ranh quan trọng không những rất sâu, mà nó chỉ có một con đường độc nhất vào lòng vịnh, với hai bên là những những ốc đảo rãi rác chăng kín lối vào, tạo thành một cái Cổng để tàu bè đi vào. Như một cái cổng (hoặc cửa) dĩ nhiên, hai bên là hai cây cột khổng lồ. Đó là hai Cửa Lớn và Cửa Nhỏ. Cửa Lớn nằm phía bên kia Ba Ngòi kéo dài ra, nay Hải quân CSVN trú đóng. Cửa Nhỏ nằm ngay làng Bình Ba, nay do Công an biên phòng cùng quân đội Nhân dân canh gác.
Việt Nam nằm dọc bờ Thái Bình Dương, vì thế, tỉnh thành nào cũng kề cận biển và vô cùng đẹp nhờ thiên nhiên ưu đãi.Vịnh Cam Ranh cũng thế. Nó như một cái lòng chảo được vây tròn, kín kẽ bao bọc ngoài đường biên, từ Thái Bình dương đi vào cái cổng vĩ đại có hai Cửa Lớn và Cửa nhỏ. Dường như, sự ưu đãi của thiên nhiên, cũng có cái giá phải trả của nó: Cam Ranh là con bài mà mọi quốc gia trên thế giới đều chú ý đến, trên thương trường lẫn chính trị, nếu muốn thâm nhập vào lãnh thổ của các nước Á châu Thái Bình Dương.

Đây là sự may mắn hay đại họa cho một dân tộc nhược tiểu ở Đông Nam Á, như VN?
Tuấn rú ga xăng, lượn một vòng tròn lớn từ Cửa Nhỏ qua Cửa Lớn, để nhìn cho rõ hơn vùng biển đảo của Tổ Quốc, trên đầu những ngọn sóng bập bềnh bao la.
- Về thôi Tuấn ơi! – Thăng gọi.
Tuấn giảm ga xăng, trực chỉ Bình Ba.
Trong ca-bin tàu cơ man nào là: đồ ăn, quân dụng và cả đôi lợn do Tỉnh đội cung cấp, để mừng ngày chiến thắng 30 tháng 4 sắp tới.
Nhìn những thức ăn khô và đôi lợn khao thưởng cho ngày 30/04, Tuấn chợt cảm khái vô vàn. Bao nhiêu người vui và bao nhiêu người đau khổ cùng tận, trong ngày lịch sử này?Dân tộc VN, hình thành từ thời sơ khai, cổ đại đã là nổi buồn day dứt. Vừa mới thành hình từ trứng, năm mươi đứa con lên núi và năm mươi đứa con xuống biển, chia lìa Cha, Mẹ đã là điềm báo không lành cho thế hệ nối tiếp!
- Anh Thăng này.Anh nghĩ gì về ngày 30 tháng Tư?
- Cậu hỏi gì. 30 tháng Tư ư?
- Ừ. 30 tháng Tư!
- Lúc đó, mình vui. Đất nước hòa bình, chấm dứt chiến tranh.Ông già mình làm Xã trưởng, bảo mình đi vào quân đội bảo vệ Tổ quốc, mình đồng ý ngay. Nhưng khi tham gia vào một guồng máy, mang nhiều bí mật tính quốc gia, mình dần thấy, những cái xấu xa lộ dần…
- Ví dụ… anh Thăng?
- Lẽ ra, đây là một cơ hội lớn cho dân tộc này hòa giải, sau hòa bình với những mâu thuẫn chiến tranh và ý thức hệ. Nhưng, họ đã làm ngược lại…
- Tôi cũng nghĩ như anh. Nhưng, bây giờ, tất cả, đã muộn… khi họ đã giam nhốt, hàng trăm ngàn quân, cán, chính… VNCH, trong đó có những người thân của chúng ta.
- Ừ…
- Anh có bao giờ nghĩ, người CS… chúng ta, sau này, sẽ nghĩ lại điều này, để hòa hợp, hòa giải dân tộc?
- Không bao giờ Tuấn ơi!
- Vì sao?
- Ở tuổi cậu, chắc cũng còn nhớ? Hiệp định Paris người CS cũng đã đưa ra ra Hòa hợp, Hòa giải dân tộc… rồi cũng chính họ, phỉ báng những gì họ cam kết sau đó không lâu, thì làm sao tin!
- Tôi cũng biết điều đó hồi còn rất trẻ, nhờ, đọc báo cho ông Cậu nghe mỗi buổi trưa khi sửa ảnh.
Tuấn kể lại thời thơ ấu của anh cho Thăng nghe.Anh kể luôn về câu chuyện của một ông Cậu khác khi đi tập kết đất Bắc về, vỡ mộng.Thăng đứng, im lìm nghe.Anh chợt nói.
- Mày dám vượt biên, Tuấn?
Tuấn nghe lạnh toàn thân.Anh ú ớ.
- Anh nói gì kỳ vậy, Thăng?
- CÓ DÁM VƯỢT BIÊN KHÔNG!?
Có lẽ, lúc này, mặt Tuấn tái mét. Anh nhìn Thăng đăm đăm, dò dẫm.
- Ông định gài tôi à, ông Thăng? Ông nên nhớ rằng: những thằng lính, như tôi với ông; nói thật, đéo mẹ… là những thằng từng bị kỷ luật trong quân trường hoặc ở đại đội là hết thuốc chữa, mới bị đưa về cái đồn hẻo lánh này. Trời nước mênh mông này, chỉ hai thằng mình, ai sống, ai chết… chưa biết chắc là ai nhá!
- Tao nói thật mà! – Thăng đưa tay trái đặt lên vai Tuấn. Anh hất tay Thăng, nói.
- Đừng đùa nữa!
- Tao nói thật mà, Tuấn. Tao coi mày như một thằng em trai! – Thăng nghiêm nghị nói.
- Nếu anh nói vậy, bây giờ, chúng ta đi ngay. Này nhé, trên con tàu này… xăng, nhớt, đồ ăn, thức uống, ngay cả lợn heo… đầy ắp trong khoang, không thiếu thứ gì cho một cuộc hải trình nhiều ngày.Anh nghĩ sao?
- Chưa đúng thời điểm, Tuấn à. Nói thật với cậu, tớ đang bắt đường dây với một người có địa vị trong làng chài Bình Ba, để đi.
- Dân làm sao mà tin công an, để cùng đi vượt biên. Anh lừa tôi chắc?
- Mày nên nhớ: tao đã trú đóng ở cái làng Bình Ba này gần hai năm. Mọi người đều hiểu tao; và, mọi thứ trong cái làng này, tao đều thấu đáo tất cả.

- Ai?
- Mày muốn biết?
- Điều đó dĩ nhiên!
- Bà Năm Chùa là đầu mối của sự việc.Mày hãy tin tao đi. Bà ấy coi tao như con cháu trong nhà, như mày đã từng thấy, tao dẫn mày lần trước gặp bà ấy. Tao có ý định muốn thử mày đấy.
- Bà ấy tu hành, vượt biên làm gì?
- Bà Năm Chùa không đi, nhưng giới thiệu tao qua một người khác.
- Ai?
- Gia đình bà Bảy Hòa! Bà ấy hứa sẽ cho tao một số tiền khi ra ngoại quốc để sinh sống trong những ngày đầu ở trại tị nạn, trước khi đi định cư ở quốc gia thứ ba.Tao đã đồng ý canh bạc cuộc đời này.
Tuấn choáng ngộp với thông tin trên.Anh cũng từng đến thăm gia đình bà Bảy Hòa.Đó là một gia đình giàu có nhất ở làng Bình Ba này, như lời nói của ông thiếu tá trưởng đồn từng cảnh báo lính. Bà có hai người con trai cỡ tuổi Tuấn, và bốn cô con gái nhỏ tuổi hơn. Anh con trai lớn tên Thanh, là một cầu thủ bóng đá trong làng, thường viết thư mời đám lính: quân đội nhân dân và công an biên phòng tranh tài cao thấp hàng tuần.
- Tôi đi cùng anh! – Tuấn gật đầu chắc nịch. Cả hai bắt chặt tay nhau.
&
Chiều nay, đội bóng thanh niên Bình Ba đá thật tệ, không như thường hằng, rất xông xáo và thường hạ đám quân nhân rất sớm ở hiệp đầu. Tỉ số 4-1 do công an biên phòng dẫn đâu là điều lạ!
Khi trái bóng, từ góc phạt trái vừa tung lên cao, bắn vào khung thành, mọi cái đầu đều ngước cao chờ một cú đánh đầu tuyệt diệu… thì một tràng kẻng từ đầu đảo nơi công an biên phòng trú đóng, nổi lên liên tục, báo động giục giã.
Lệnh hành quân!
Đám công an, vơ vội áo quần, giầy dép, khoát vào người có thể khoát. Vừa chạy về đồn, vừa cò cò, nhảy nhảy như những con khỉ làm xiếc, mặc vội áo quần vào. Trên con đường lởm chởm đá, Tuấn lò cò một chân, xỏ đôi giầy, khoát một cái quần, lò cò tiếp, chập choạng chạy về đồn.
Lão thiếu tá trưởng đồn, mặt đỏ gay, giận dữ nói.
- Tôi đã cảnh báo các đồng chí rồi mà nì! Con mụ Bảy Hòa là thứ phản động, phản quốc từ lâu. Không trước, sau, con mụ ấy cũng vượt biên mà nì!
Lão nhìn Tuấn chòng chọc, đôi mắt tóe lửa.
- Đồng chí Tuấn. Con mụ Bảy Hòa đã vượt biên rồi, đồng chí biết chưa nhỉ? Bây giờ đồng chí, có còn cải lời đồng chí thiếu úy không nhỉ?
- Báo cáo đồng chí…
- Báo cáo cái gì nữa mà nì! Tụi hắn đi rùii…
- Báo cáo đồng chí! Làm sao “tụi hắn” đi được, khi hai đứa con trai của bà Bảy Hòa còn đá bóng với chúng tôi?
- Cậu nói thật à. Vậy chúng đâu?
- Báo cáo. Ngoài sân bóng đá!
- Hai thằng ấy vẫn còn ngoài sân bóng, đồng chí thủ trưởng ạ! – Huy, thiếu úy bên bộ hậu cần minh xác.
Lão thiếu tá hằn học nhìn xói vào Tuấn.

Tuấn nhìn Huy. Anh nhớ, mới cách đây mấy hôm, khi Huy phân công Tuấn đi vào làng “thị sát” dân vào những đêm về sáng. Anh mệt mỏi đến chán chường. Trước kia, sống trong một xã hội tự do, mạnh ai nấy sống, ngoại trừ đừng tham gia chính trị, mọi công dân của VNCH, muốn đi đâu, muốn làm gì, chính quyền hiện tại không theo dõi sát sao như bây giờ.
Khi thiếu úy Huy, cắt gác Tuấn vào làng Bình Ba hằng đêm. Ban đầu anh tuân lệnh, nhưng sau đó, anh thấy mình thật vô lý, khi kiểm soát từng hành động, sự sinh hoạt của người dân hằng đêm.Cách đây hai hôm, anh chống đối lệnh bằng cách ra cầu tàu ngồi ngắm sao, rồi ngủ quên luôn. Đến khi, Huy đá vào mông Tuấn, gằn giọng ra quân lệnh.
- Tại sao đồng chí không vào làng kiểm soát sinh hoạt dân tình, mà ra cầu tàu ngồi ngủ? Đồng chí đứng lên!
Bị đá vào mông một phát khá đau, Tuấn nổi cộc.
- Báo cáo đồng chí. Người dân, có cuộc sống riêng của họ, tại sao ta phải theo dõi hằng đêm. Tôi cảm thấy mệt mỏi quá lắm rồi.
- Bọn chúng là một lũ phản động, lúc nào cũng muốn vượt biên!
- Tôi không thấy chúng vượt biên; mà hằng đêm, tôi thấy chúng làm tình dữ tợn hơn, vì cái đảo này cúp điện liên miên! Tôi thủ dâm bằng tay quá nhiều rồi, đồng chí ạ.
- Đồng chí phải tranh thủ sinh hoạt cùng họ, dân vận với họ. Đó là trách nhiệm mà đảng đã giao phó cho chúng ta!
- Báo cáo đồng chí. Từ bây giờ, tôi không muốn thủ dâm… bằng miệng, khi đi vào làng dân vận dân chúng.Chắc đồng chí cũng từng thủ dâm nhiều lần, hằng đêm khi đi tuần, nhìn thấy họ làm tình ở mỗi hộ dân???
- Đồng chí giễu cợt cấp trên à?
- Tôi không giễu cợt đồng chí, mà là sự thật! Đồng chí đã từng thủ dâm khi đi trinh sát hằng đêm. Có không?
- Vô kỷ luật. Đồng chí thật vô kỷ luật! – Gã thiếu úy định sấn tới, nắm cổ áo Tuấn. Anh nói.
- Đ.m. Ông bước tới một bước nữa, tôi bắn thật đấy! – Tuấn chĩa cây A.K về phía Huy.
Gã Huy khựng người, đội cái mũ poncho lên đầu cun cút đi về đồn.
Tuấn bị viết 10 tờ kiểm điểm.Lão thiếu tá bắt đầu gờm đám lính miền Nam. Những bữa cơm có thoải mái hơn đôi chút, nhất là từ khi hằng mấy chục ký cá phơi khô của lão, bị ai đó ném xuống biển, trước đồn công an…
- Đồng chí Huy dẫn mươi đồng chí vào làng Bình Ba phong tỏa hết mọi ngõ ngách cho tôi. Nghe rõ!? Hãy canh gác nhà mụ Bảy Hòa thật chặt chẽ. Đồng chí Thăng, Tuấn cùng năm đồng chí khác hãy đi tuần tra các dãy đảo nhỏ trong lòng vịnh Cam Ranh, tìm cho ra mụ Bảy Hòa đang núp đâu đó trong các hốc đảo, chờ hai thằng con trai của mụ lấy thuyền bơi ra rồi cùng đi. Năm đồng chí này (lão chỉ điểm từng tên) canh cho kỷ cầu cảng, không cho một ai nổ máy rời tàu. Các đồng chí còn lại, theo tôi qua hướng Cửa Lớn. Rõ!!!
Thăng xuống tàu nổ máy. Con tàu lao vút về phía sau vịnh Cam Ranh, nơi đó có hàng trăm mỏm đảo to, nhỏ nằm chen chúc nhau trong lòng vịnh, để tàu thuyền có thể núp vào đó tránh bão. Tuấn lần xuống ca-bin hỏi Thăng.
- Anh định tìm bà bảy Hòa thật à?
- Cậu đừng lo. Tôi chỉ loanh quanh quanh lòng vịnh.Bà ấy đã không tin mình, đành chịu.Cứ để bà ấy đi.Tôi chỉ không hiểu, tại sao bà ấy bỏ lại hai đứa con trai không thương sót.
Quả thật, Tuấn cũng không hiểu nỗi!
Thăng cho tàu chạy nhiều vòng, đến khi trời xuống thấp dần, anh lái tàu về bến cảng báo cáo.
Qua hôm sau, công an biên phòng phát giác, cả hai đứa con trai của bà Bảy Hòa cũng biến mất tiêu! Sau đó, họ phát hiện trên một bãi biển vắng, ở hiện trường, còn vứt lại hai bình hơi dùng để lặn của dân chài, hai đôi giầy bơi và kính chống nước còn mới tinh nguyên được chôn vùi sơ sài dưới cát.
Lão thiếu tá trưởng đồn điên lên thật sự.
- Thì ra, trong cái đồn công an biên phòng này, bọn phản động tay trong phản đảng, vẫn còn tồn tại! Chúng là ai?
Lão càng sợ đám lính miền Nam!
&
Gần mười công an biên phòng đổ bộ lên một hòn đảo nhỏ – Tuấn không biết tên – nằm trong lòng vịnh Cam Ranh như nhiều đảo nhỏ khác, không tên, cùng ông trung tá trưởng đồn và hai chiếc tàu. Tháng tư trời nóng đổ lửa, cát hừng hực, tỏa hơi nóng thấy từ xa.Hai chiếc tàu, chạy sát vào bờ bãi, bọn lính cởi giầy nhảy vội xuống, lội vào bờ. Hai chiếc tàu cũng vội lùi ra, cách bờ khoảng năm mươi mét, để tránh bị sóng đập vỡ mạng tàu.
Bàn chân trần đầu tiên của Tuấn vừa đặt trên bãi cát vàng óng, anh vội rụt lại ngay.Sức nóng của cát thật vô cùng khủng khiếp.Anh nhìn đồng đội xung quanh, cũng thấy họ vội rút chân lại khi vừa đặt xuống.Lão trưởng đồn hét to.
- Chạy. Chạy thật nhanh mà nì!
Cả bọn cắm đầu chạy băng băng, theo lão thiếu tá, đến một khu vườn trồng toàn cây khoai mì. Cát bỏng rát dưới chân.Tuấn hình dung, như đang chạy trên một cái chảo nóng to lớn giữa đất trời. Anh nhìn hai bàn chân đỏ rần; và ngạc nhiên nhìn những hàng mì thẳng lối đang vươn cao sức sống, đang đến thời kỳ thu hoạch. Hưng nói.
- Mẹ nó! Tao cũng dân vùng biển, mà chưa thấy nơi nào cát nóng như ở đây!
Bọn lính suýt xoa những bàn chân đã chai cứng thao trường, luôn miệng chửi tục.Một mụ nạ dòng bước ra, ỏng ẹo.
- Thiếu tá mới tới. Em chờ mấy hổm rày! Đấy, thiếu tá cứ nhổ nữa mảnh vườn khoai, cho em chục ký cá khô là em vui rồi.
Thì ra là mụ nhân tình của lão thiếu tá.Giữa mụ và lão thiếu tá thường có những trao đổi buôn bán những hàng quân tiếp vụ.Bọn lính biết được, nhưng không dám hó hé.Thi thoảng, mụ ghé đồn công an; và lão thiếu cũng thường ghé qua đảo và ngủ qua đêm. Bọn lính đồn rằng, mụ là nhân tình của lão thiếu tá có vợ còn ở ngoài miền Bắc.
Lính bẻ những lá khoai mì, lót chân đứng cho đỡ nóng, mang giày vào.Cả bọn ùa vào vườn, nhổ từng góc khoai.Khoai mì trồng trong cát, củ dài nhưng cũng dễ dàng nhổ cả bụi lên.
Hai tên lính từ ngoài nơi tàu đậu, chèo hai cái thúng chai tấp vào bờ.Họ chất hàng đống khoai mì vào đấy. Tuấn và Hưng bám vào cái thúng chai vừa bơi vừa đẫy cái thúng về hướng nơi tàu đậu. Sóng từ ngoài xa, đánh vào từng nhịp hung bạo. Khó khăn lắm, họ mới ra giữa dòng nơi tàu đậu. Tuấn vừa bơi, vừa đẫy cái thúng chai, bề ngang hai thước, nói nhỏ vào tai Hưng.
- Kỳ này, tụi mình ăn khoai mì mút chỉ rồi ông ơi!
- Điệu này chắc tao đào ngũ quá Tuấn ơi! Lính gì mà khổ như chó.Ăncòn thua chó nữa!
- Mấy hôm trước, lão thiếu tá gọi ông vào văn phòng, chả nói cái gì vậy?
- Thì đại khái chả sợ tao nổ bậy. Chả hứa, sẽ dễ dãi với tao hơn và trả trước cho tao một tháng lương 4 đồng bạc! Mẹ nó! Lương lính 4 đồng mua chỉ được mấy gói thuốc lá Vàm cỏ.Chán mớ đời.Mày thấy đó, bây giờ hết đầu cá, có lẽ là đến gặm khoai mì thôi.
Tuấn đập vào tay Hưng nói.
- Nè, ông tính đào ngũ thiệt hả?
- Chắc vậy quá Tuấn ơi. Mày cũng thấy đó, tụi mình đi đến đâu ai ai cũng ghét, cũng khinh ra mặt. Họ còn gọi bọn mình là thứ Bò xanh, tụi công an nhân dân là thứ Bò vàng. Có nhục không? Ban đêm thì đi rình mò, moi móc từng hộ gia đình, ban ngày gặp họ thì má má, chị chị… tao thấy sao nhục cho cái đảng thổ phỉ này quá. Nhiệm vụ của chúng ta là giữ biển đảo, bảo vệ tổ quốc, chứ đâu có thể làm mấy cái trò bại hoại thế này, của một thằng lính đóng nơi đầu tổ quốc.Chúng bảo mình phải trung với đảng. Mình có là đảng viên đâu mà trung với hiếu với chúng! Cái chế độ này nó mị quân, cán, chính và cả dân… để duy trì sự độc tôn cai trị lâu dài.
Đây không phải là lần đầu Hưng tâm sự cùng Tuấn. Cả hai thường nói về chủ đề này từ khi còn ở quân trường, khi gác những ca về sáng. Người dân miền Nam, đã từng có cuộc sống tự do về mọi mặt, nên khi chính quyền CS vào, họ liền biết ngay, họ đã mất những gì đã có trước kia, nên sự phản kháng phải có, không như người dân miền Bắc, vì vị thế của lịch sử sau gần 100 năm bị đô hộ bởi người Pháp và Nhật không lâu. Tuấn suy nghĩ đắn đo, rồi nói.
- Hưng nè. Nhân danh tình bạn từ thuở còn ở quân trường như bóng với hình, tôi nói điều này, chỉ xin ông giữ kín, nếu ông không muốn…
- Chuyện gì quan trọng vậy, Tuấn?
- Tôi sẽ vượt biên!
- Hả!? – Hưng trợn tròng đôi đồng tử trắng dã.
- Mày nói thật chứ?
Tuấn nhè nhẹ gật đầu.Đoạn anh kể vắn tắt câu chuyện giữa anh và Thăng đã bàn.Hưng bơi bằng hai chân, nắm đôi vai Tuấn thật chặt, nói.
- Tao cám ơn mày Tuấn ơi! Cho tao đi với. Tao không muốn ăn khoai mì và thủ dâm hàng đêm…
Cả hai cùng cười.Tuấn nói.
- Ừ. Nhìn đống khoai mì, tôi ớn đến cuống họng luôn. Nè Hưng, ông không muốn ăn khoai mì dài dài, phải không? Tôi có cách!
- Cách gì cha nội?
- Tụi mìn lợi dụng lúc mấy con sóng tràn vào bờ, úp luôn thúng khoai xuống lòng biển là xong chớ gì. Cùng lắm là kiểm điểm, ông ạ.
- Ừ, mày nói chí lí!
Thế là hai đứa, chờ con sóng từ ngoài xa tràn vào bờ. Nương theo lợn sóng, Tuấn ghì chặt cái thúng chai xuống, đầu bên kia Hưng hất tung lên. Thế là chìm lỉm.Cả hai vờ la toáng lên.
-Thúng bị sóng đánh nhồi, chìm rồi, các đồng chí ơi. Tới giúp chúng tớ với!
Làm sao mà giúp, khi mà cái vịnh Cam Ranh sâu hun hút này.Lão thiếu tá từ bờ nhìn ra, đạp chân than trời.
Cả hai cười thích chí.
&
Việt Nam, Cam Ranh, cuối tháng Tư, năm 1977.
Anh Quỳnh kính;
Đã lâu lắm, dường như, gần đúng hai năm, anh em chúng ta chưa hề liên lạc nhau bằng thư từ như trước kia, 1975. Tại sao có chuyện kỳ lạ như vậy, vì đó là thói quen của anh em chúng ta?Và vì sao, lại là sau thời điểm 1975, tháng tư?Chắc anh bận công tác và em cũng bận cho những suy nghĩ của em, sau một cuộc đổi đời.Mỗi suy nghĩ có giá trị riêng tư của nó, khi chúng ta đứng ở một góc độ nào đó để nhìn.Dĩ nhiên, kẻ chiến thắng, sẽ có cái nhìn phiến diện hơn những kẻ mất mát, để hoàn thiện những gì kẻ chiến thắng đang với tới.Anh bận là phải. Em không là kẻ thất trận, hơn nữa em là kẻ được mọi ân sủng cuộc đời do anh và các chú, bác, cô, cậu… đem lại, nếu em thức thời.
Anh là một Luật gia – nghĩa là một trí thức. Không hiểu, anh nhìn cuộc thế xoay vần ra sao, mà vẫn tự tại với chức quyền, khi đã nhìn thấy hằng triệu người bị bỏ tù và đầy đi kinh tế mới trong vòng lao lý? Không như những lá thư, anh từng gửi cho em trước 75, bao điều anh mơ ước cho một xã hội công bằng và tự do.
Tự do gì, khi một công dân rời khỏi nhà mình phải báo cáo tổ, phường, xã? Tự do gì, khi họp mặt ba người trở lên sẽ bị bắt và tù tội? Tự do gì, khi mà tư tưởng con người, bị xới lên bằng những phê và tự phê? Và cái quan trọng nhất: Đó là Tổ Quốc! Tự do gì, khi mà bọn Trung Quốc – kẻ thù muôn đời của dân tộc VN – bảo gì phải làm theo họ!? Và; công bằng gì, khi anh là đoàn, đảng viên thì nhu yếu phẩm lại rất khác nhau với người dân?Công bằng gì, khi nhà người dân đang ở, bị đuổi ra khỏi nhà đưa lên núi rừng sinh sống với loài súc vật hạ đẳng?

Còn nhiều thứ lắm lắm!
Sáu tháng quân trường được huấn luyện thành một công an vũ trang, em biết thân phận bọt bèo của mình, chỉ là những hình nhân bị lợi dụng. Nếu không muốn tiến than, bằng những hình thức không phản lại dân tộc, em sẽ chỉ là một thằng lính quèn muôn đời.
Bởi chỉ vì, em đã nhìn ra cả dân tộc này thật bất hạnh, khi chủ nghĩa CS ngoại lai nhập vào VN.

Nếu muốn là một cán bộ xuất sắc như anh, hoặc nếu muốn là một quân nhân xuất sắc như em, chúng ta chỉ cần tiêm một liều thuốc vào cơ thể mình, thì sẽ thành công ngay.
Đó là liều Máu Lạnh!!!

Tạo hóa sinh ra con người trong một quần thể, gọi là gia đình. Đó là tình máu mủ ruột thịt, anh em yêu thương nhau cho đến chết.Nhưng tạo hóa cũng sinh ra, một cái gọi là Tổ Quốc. Người An Nam chúng ta, theo Ông, Bà; Tổ tiên trên hết. Vì trong Tổ tiên chúng ta gộp lại, còn có nhân dân (còn gọi là quần chúng). Em không thể, chích những liều thuốc phản bội vào cơ thể mình, những lời Tổ tiên đã răn dạy!
Vì thế, em phải ra đi.

Anh đừng nghĩ rằng, đi khỏi cái đất nước đã sinh ra mình, để trốn thoát đói nghèo sau chiến tranh, là một hạnh phúc!
Anh đã lầm!
Một công dân, lìa bỏ cội nguồn, đó là một nỗi nhục nhã nhất của một con người còn biết tự trọng về Tổ quốc mình.
Lẽ ra, lá thư này, em viết thật dài cho anh, trước khi từ biệt quê Cha, đất Tổ. Nhưng em biết… một giọt nước đang nhễu xuống nhiều, rất nhiều, những cánh lá môn.
Thật buồn, cho anh, cho em, và cho cả dân tộc này…
Nhưng điều em vui nhất, là trước khi rời khỏi đất nước này, em không nhìn thấy ngày: 30 tháng tư vào năm thứ ba, người ta tổ chức rầm rộ, tung hô, ăn mừng… khi gần mười triệu con dân Việt Nam đã nằm xuống mọi miền đất nước từ năm 1930!
Chúc anh…
Lịch sử sẽ trả lời tất cả! Như đã trả lời:
Có một Nguyễn Ánh. Cõng rắn cắn gà nhà!
nguồn:http://www.danchimviet.info/archives/70065
======================================================================
Chú ý:  Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
           Sẽ xóa những comment nói tục
           Thinhoi001

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Chú ý: Điền vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
Sẽ xóa những comment không phù hợp
Thinhoi001