Thứ sáu, ngày 07 tháng mười hai năm 2012
Hà Nội và Sài Gòn đều có lời kêu gọi biểu tình (hoặc mít tinh) phản
đối nhà cầm quyền Trung Quốc vào sáng chủ nhật 9/12/2012. Blog NTT xin
giới thiệu lại bài viết của Giáo sư Hoàng Xuân Phú khẳng định quyền biểu
tình của công dân với mục đích cung cấp cho bạn đọc những kiến thức,
phương pháp lý luận để vững tin rằng việc biểu tình chống Trung Quốc xâm
lược là hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp hiện hành. Là một nhà khoa học
về lĩnh vực tự nhiên, Giáo sư Hoàng Xuân Phú có những bài viết rất sắc
sảo về các vấn đề pháp luật.
Biểu tình là một hoạt động hợp hiến và hết sức thông thường ở xã hội văn
minh. Nhưng đến nay,biểu tình (ngoài sắp đặt của cơ quan Nhà nước) vẫn
còn là một chuyện tương đối xa lạ ở Việt Nam, thậm chí như một điều
"phạm húy". Biểu tình bị ngăn cản, dù có diễn ra thì người ta vẫn quanh
co, không dám gọi đúng tên. Đa số người dân nhìn nhận quyền biểu tình
như một thứ xa xỉ phẩm, không liên quan đến cuộc sống của mình, thậm chí
còn nhìn nó như một miếng mồi nhử nguy hiểm: Ừ thì Hiến pháp cho phép
đấy, nhưng cứ thử động vào mà xem… Vốn dĩ thuộc phạm trù đối nội, quyền
biểu tình được nêu trong Hiến pháp trên thực tế chỉ còn để đối ngoại.
Cản
trở đối với quyền biểu tình của công dân không chỉ xuất phát từ ý muốn
được "yên ổn" của những người cầm quyền, mà còn bị ảnh hưởng nhiều bởi
sự nhầm lẫn về mặt lô-gíc: Cả hai phía đều coi việc chưa có Luật biểu
tình chính là nguyên nhân khiến quyền biểu tình chưa được hay chưa thể
thực thi.
Phía người dân tưởng là khi chưa có Luật biểu tình thì không được biểu
tình, nên đa số những người muốn bày tỏ chính kiến… vẫn im lặng. Ngay cả
những người đã can đảm xuống đường vẫn cảm thấy chưa yên tâm, lo là
hành động của mình có gì đó không ổn về mặt pháp luật, nên mới đề nghị
Quốc hội sớm ban hành Luật biểu tình.
Phía chính quyền thì coi các cuộc biểu tình không do họ hoặc các cơ quan
Nhà nước tổ chức là bất hợp pháp, là cố tình gây rối, thậm chí là do
các thế lực thù địch tổ chức hoặc kích động, nên nếu có biểu tình thì
chính quyền có quyền giải tán, có quyền bắt bớ… Có lẽ cũng do tin rằng
chưa có Luật biểu tình thì không được biểu tình, nên một số người muốn
trì hoãn việc ban hành Luật biểu tình, vì nếu có luật thì dù quy định
ngặt nghèo đến đâu đi nữa, vẫn còn lại những quyền tự do tối thiểu, và
không phải ai cũng muốn chấp nhận những quyền tối thiểu ấy của người
dân.
Câu hỏi đặt ra là: Nên hiểu quyền biểu tình và mối quan hệ của nó với Luật biểu tình như thế nào cho đúng?
Quyền biểu tình trong Hiến pháp hiện hành
Cơ sở pháp lý để đánh giá về tính hợp pháp của hoạt động biểu tình là Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992. Điều 69 của Hiến pháp hiện hành quy định:
"Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông
tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật".
Mệnh đề "theo quy định của pháp luật" khiến người dân lúng túng, do dự
khi thực hiện quyền biểu tình, và bộ máy chính quyền dựa vào đó để phủ
nhận quyền biểu tình của công dân trên thực tế. Thật ra, từ "pháp luật"
xuất hiện 60 lần trong Hiến pháp 1992, nhiều khi chỉ là một phạm trù
chung chung, không ám chỉ một luật cụ thể nào. Phải hiểu "theo quy định
của pháp luật" hay "trong khuôn khổ pháp luật" là tuân theo những quy
định thuộc về pháp luật – nếu đã có. Chưa có luật tương ứng thì có nghĩa
là chưa có hạn chế, bởi không thể dùng cái chưa có để hạn chế thực tại.
Sau khi Hiến pháp có hiệu lực, thì còn thiếu rất nhiều luật, và đến bây
giờ vẫn còn thiếu, nhưng mọi tư duy lành mạnh đều hiểu rằng: Không thể
bắt cuộc sống dừng lại, để đợi đến khi cơ quan lập pháp ban hành đủ
luật.
Hiến pháp 1992 viết công dân có quyền biểu tình "theo quy định của pháp
luật", chứ không đòi hỏi cụ thể là "theo quy định của Luật biểu tình".
Giả sử, nếu Hiến pháp quy định là công dân chỉ có quyền biểu tình theo
quy định của Luật biểu tình, thì công dân có quyền chất vấn và phê phán
Quốc hội: Tại sao mấy chục năm rồi mà vẫn chưa ban hành Luật biểu tình?
Lúc đó nhân dân nhắc nhở và đòi hỏi Quốc hội phải ban hành Luật biểu
tình, chứ không phải chỉ đề nghị, kêu gọi, hay xin xỏ, vì:
"Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân
dân, là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân,
do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân".
(Điều 6, Hiến pháp 1992)
"Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, …"
(Điều 53, Hiến pháp 1992)
Như vậy, khi không (hoặc chưa) có luật nào quy định cụ thể hơn về việc
biểu tình, thì có nghĩa là pháp luật không (hoặc chưa) có hạn chế nào
cả, và công dân hoàn toàn có quyền biểu tình, như Hiến pháp cho phép.
Quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước đối với quyền biểu tình
Nếu Quốc hội muốn định hướng hay hạn chế hoạt động biểu tình của công
dân trong một khuôn khổ nào đó, thì phải ban hành luật tương ứng. Nếu
thấy cần kíp phải có luật để điều tiết hoạt độngbiểu tình, thì chính
Quốc hội và các cơ quan giúp việc phải khẩn trương, chứ dân không phải
sốt ruột xin Quốc hội ban hành. Cơ quan quản lý Nhà nước mới phải vội,
chứ dân không cần vội. Việc một số công dân đề nghị Quốc hội sớm ban
hành Luật biểu tình là một yêu cầu hoàn toàn chính đáng, nhưng điều đó
lại góp phần làm cho người dân tiếp tục hiểu sai về quyền cơ bản của
công dân, và làm cho những người thuộc cơ quan hành chính Nhà nước thêm
ngộ nhận về quyền hạn của họ.
Nếu Chính phủ muốn quản lý hoạt động biểu tình của công dân theo một
hướng nào đó thì Chính phủ phải soạn thảo và trình dự án luật (Điều 87,
Hiến pháp 1992), để Quốc hội xem xét và ban hành luật, chứ Chính phủ
không thể tự tiện đưa ra những quy định hay triển khai những hành động
can thiệp trái với Hiến pháp. Hiến pháp 1992 đã quy định rõ:
"Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp"
(Điều 83, Hiến pháp 1992)
và Chính phủ là "cơ quan chấp hành của Quốc hội" (Điều 109, Hiến pháp 1992). Điều 115 của Hiến pháp 1992 cho phép
"Chính phủ ra nghị quyết, nghị định, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định, chỉ thị"
nhưng phải
"Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị
quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch
nước".
Trong tất cả 11 khoản của Điều 112, quy định về nhiệm vụ và quyền hạn
của Chính chủ, và cả 6 khoản của Điều 114, quy định về nhiệm vụ và quyền
hạn của Thủ tướng Chính chủ, Hiến pháp 1992 không có bất cứ khoản nào
cho phép Chính phủ hay Thủ tướng Chính phủ ban hành văn bản pháp quy để
hạn chế hay can thiệp vào quyền tự do của công dân được Hiến pháp đảm
bảo.
Trong Luật Tổ chức Chính phủ
do Quốc hội khóa X thông qua ngày 25 tháng 12 năm 2001, Điều 8, quy
định về nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ, được viết lại gần như
nguyên văn Điều 112 của Hiến pháp 1992. Điều 20, quy định về nhiệm vụ và
quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ, là cụ thể hóa Điều 114 của Hiến pháp
1992. Quyền tự do của công dân được nhắc 3 lần trong Luật Tổ chức Chính
phủ, trong đó chỉ khẳng định trách nhiệm của Chính phủ trong việc bảo
vệ quyền của công dân và tạo điều kiện cho công dân sử dụng quyền của
mình, cụ thể là:
"Thi hành những biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,
tạo điều kiện cho công dân sử dụng quyền và làm tròn nghĩa vụ của
mình…"
(Điều 8, Khoản 5)
"Quyết định những biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, tạo điều kiện cho công dân sử dụng quyền và làm tròn nghĩa vụ
của mình…"
(Điều 18, Khoản 3)
"Thực hiện chính sách tôn giáo, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào của công dân…"
(Điều 13, Khoản 4)
Nghĩa là: Luật Tổ chức Chính phủ cũng không cho phép Chính phủ ban hành
văn bản pháp quy để hạn chế quyền tự do của công dân được Hiến pháp đảm
bảo. Tất nhiên là phải như vậy, vì Luật Tổ chức Chính phủ không thể có
những quy định trái với Hiến pháp.
Nghị định của Chính phủ số 38/2005/NĐ-CP,
do nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải ký ngày 18/3/2005, quy định một số
biện pháp đảm bảo trật tự công cộng, không đề cập đến khái niệm „biểu
tình“ được nêu trong Hiến pháp 1992. Ngược lại, khái niệm „tập trung
đông người“ được đề cập (21 lần) trong Nghị định số 38/2005/NĐ-CP không
xuất hiện trong Hiến pháp 1992. Nghị định số 38/2005/NĐ-CP cũng không
đưa ra định nghĩa hay giải thích về thuật ngữ „tập trung đông người“,
không hề quy ước là „biểu tình“ thuộc phạm trù „tập trung đông người“.
Tất nhiên, không thể tùy ý dùng thuật ngữ „tập trung đông người“ để chỉ
hoạt động „biểu tình“ (cũng giống như không thể dùng thuật ngữ „tập
trung 500 người“ để chỉ phiên họp Quốc hội), vì nếu như thế thì vừa
thiếu tôn trọng công dân (hay thiếu tôn trọng Quốc hội), vừa thiếu tôn
trọng Hiến pháp, bởi không được tùy tiện thay đổi thuật ngữ pháp lý cơ
bản được sử dụng trong Hiến pháp và được dùng phổ biến trong thông lệ
pháp lý trên toàn thế giới. Vì vậy, nếu hợp hiến, thì Nghị định số
38/2005/NĐ-CP cũng không chi phối quyền biểu tình của công dân được Hiến
pháp đảm bảo.
Điều 50 của Hiến pháp 1992 khẳng định:
"Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính
trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các
quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật".
Khi thực hiện các quyền con người (trong đó có quyền biểu tình), công
dân chỉ phải tuân theo các quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện
hành. Khi chưa có luật tương ứng thì công dân không phải chấp hành văn
bản pháp quy nào khác ngoài Hiến pháp, bởi công dân chỉ phải "sống và
làm việc theo Hiến pháp và pháp luật" (Điều 31, Hiến pháp 1992). Quyền
biểu tình của công dân không phải chịu chi phối bởi các quy định nào đó,
cho dù chúng có thể được đưa vào luật trong tương lai, lại càng không
thể bị cản trở bởi các quy định tùy tiện của các cấp chính quyền, của bộ
máy công an, của tổ dân phố, hay của một cấp trên chung chung nào đó.
Cho dù là ai, to nhỏ ra sao, nhân danh tổ chức nào, thì họ cũng đều là
công dân Việt Nam và cũng không nằm ngoài phạm vi chi phối của nguyên
tắc:
"Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật".
(Điều 52, Hiến pháp 1992)
Không phải bất cứ một quy định phi lý nào được đưa vào luật cũng là
thiêng liêng, bất di – bất dịch. Nếu có Luật biểu tình thì nó không thể
chứa đựng những quy định trái với Hiến pháp. Nhân dân có quyền kiến nghị
và Quốc hội có trách nhiệm hủy bỏ bất cứ quy định pháp luật nào trái
với Hiến pháp, vì
"Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất.
Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp".
(Điều 146, Hiến pháp 1992)
Biểu tình – Quyền hiến định có hiệu lực cùng Hiến pháp hiện hành
Đã đến lúc dân ta (cả dân thường và cả những người đang thuộc bộ máy
quản lý Nhà nước) phải chia tay với lối tư duy sai lầm là „trên“ cho làm
gì thì „dưới“ mới được làm cái ấy, vì đấy là kiểu quan hệ giữa chủ nô
và nô lệ, hoàn toàn trái với bản năng sống chủ động của mọi loài động
vật tự do, trong đó có con người. Dù có muốn, dù có cố, thì cũng không
bao giờ quy định được hết mọi chuyện trên đời. Hơn nữa, càng có nhiều
quy định thì càng có nhiều điều bất hợp lý và càng nảy sinh nhiều mâu
thuẫn giữa các quy định. Chính vì vậy, người dân có quyền làm bất cứ
điều gì mà pháp luật không cấm và không vi phạm những chuẩn mực đạo đức
thông thường đã được xã hội thừa nhận. Nhà nước có thể thông qua việc
ban hành luật để hạn chế những mặt tiêu cực, nhưng sẽ không bao giờ
khống chế được hoàn toàn. Không thể tiếp tục luận tội theo kiểu „lợi
dụng sơ hở của pháp luật…“ Lập luận ấy không chỉ sai với thông lệ quốc
tế, mà còn hài hước ở chỗ: Sao không trách phạt những người ăn lương của
dân rồi làm ra luật… sơ hở, mà lại chỉ kết tội người dân áp dụng đúng
luật sơ hở?
Căn cứ vào Hiến pháp và các văn bản pháp lý liên quan, với tư duy
lô-gíc, chỉ có thể rút ra kết luận rằng: Quyền biểu tình của công dân
được Hiến pháp hiện hành đảm bảo và có hiệu lực cùng lúc với Hiến pháp.
Cho đến nay, chưa có luật hay văn bản pháp lý hợp hiến nào hạn chế
quyền biểu tình của công dân. Vì vậy, công dân hoàn toàn có quyền tự do
biểu tình, theo đúng tinh thần của Hiến pháp, không phải đợi đến lúc có
Luật biểu tình hay một văn bản tương tự.
Biểu tình là biện pháp hữu hiệu để nhân dân bảo vệ quyền lợi chính đáng
của mình và giải tỏa ức chế. Biểu tình cũng là một hình thức hợp lý để
công dân bày tỏ chính kiến, góp phần xây dựng Nhà nước và thúc đẩy sự
tiến bộ của xã hội.
Trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước là phải tôn trọng và bảo vệ công
dân thực hiện quyền biểu tình, phải triệt để tuân theo Điều 12 của Hiến
pháp 1992:
"Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang
nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp
luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp
và pháp luật.
Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể vàcủa công dân đều bị xử lý theo pháp luật"
Cách ứng xử với quyền biểu tình của công dân phản ánh mức độ tôn trọng
nhân dân, tôn trọng Hiến pháp và trình độ hiểu biết pháp luật. Nó cũng
thể hiện bản lĩnh lãnh đạo, mức tự tin vào sự trong sạch và chính nghĩa
của bản thân. Một chính quyền vì dân, chỉ làm chuyện đúng, chắc chắn sẽ
được đa số nhân dân tin yêu và bảo vệ, không việc gì phải sợ biểu tình.
Nếu đi ngược lại lợi ích của nhân dân và dân tộc, làm những chuyện sai
trái, thì không bạo lực nào có thể che chở vĩnh viễn.
Nếu thực sự cầu thị và muốn làm tròn bổn phận, lãnh đạo phải biết tận
dụng hoạt động biểu tìnhnhư một chiếc cầu nối với nhân dân, làm nguồn
cung cấp thông tin thực tế từ cơ sở, vốn dĩ hay bị bưng bít bởi bộ máy
quản lý cấp dưới. Biểu tình là một phương tiện đắc lực để khắc phục tệ
quan liêu – căn bệnh cố hữu của bộ máy chính quyền.
Chẳng có lý do chính đáng nào có thể biện hộ cho việc xâm phạm quyền
biểu tình của công dân. Không thể cấm dân lên tiếng nhằm che dấu sự yếu
kém. Không thể mượn cớ ổn định mà cản trở sự phát triển. Không được nhân
danh bảo vệ chế độ để bảo vệ tham nhũng.
Xương máu của hàng triệu người Việt đã đổ xuống vì độc lập và tự do. Độc
lập dân tộc chỉ có ý nghĩa khi gắn liền với tự do của nhân dân. Nếu dân
không có tự do thì chính quyền mang quốc tịch nào cũng vậy. Do đó, muốn
bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ chế độ, thì phải tôn trọng các quyền tự
do của nhân dân, trong đó có quyền biểu tình. Không thể khác!
Phụ lục
(Dành riêng cho những người kiên định…)
Nếu quý vị nào vẫn cảm thấy chưa đủ thuyết phục và vẫn kiên định lập
trường cho rằng công dân phải đợi đến khi có Luật biểu tình mới được
biểu tình, thì xin dành riêng đoạn tiếp theo để quý vị suy ngẫm.
Hiến pháp 1992 có năm lần nhắc đến từ "Đảng", trong đó có ba lần ở "Lời
nói đầu", hai lần đầu đề cập đến lịch sử và công lao của Đảng CSVN, lần
thứ ba trong câu:
"Hiến pháp này… thể chế hoá mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý".
Hai lần còn lại là ở Điều 4, nguyên văn như sau:
"Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam,
đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao
động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật".
Như vậy, mặc dù Hiến pháp 1992 khẳng định "Mọi tổ chức của Đảng hoạt
động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật", nhưng trong toàn bộ văn
bản Hiến pháp không có quy định cụ thể nào về khuôn khổ mà Đảng CSVN
được phép hoạt động, và cho đến nay vẫn chưa có "Luật về Đảng" (hay
tương tự) để quy định về quyền hạn, trách nhiệm, phạm vi và hình thức
hoạt động của Đảng, cũng như hình thức xử lý khi tổ chức Đảng vi phạm
Hiến pháp và pháp luật. Rõ ràng, xét về lô-gíc, tính hợp pháp của việc
"Công dân… biểu tình theo quy định của pháp luật" khi chưa có Luật biểu
tình không hề yếu hơn so với tính hợp pháp của việc „Mọi tổ chức của
Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật“ khi chưa có "Luật
về Đảng". Vậy thì quý vị có cho là Đảng CSVN phải… đợi đến khi có "Luật
về Đảng" hay không?
Nếu ý vừa rồi vẫn chưa đủ, thì xin quý vị lưu ý thêm: Hiến pháp 1992
không đề cập đến chuyện ăn, chuyện ngủ… Việt Nam cũng không có luật về
ăn, ngủ… Vậy mà hàng ngày 90 triệu người Việt vẫn ăn, vẫn ngủ…, dù biết
là phải "sống… theo Hiến pháp và pháp luật" (Điều 31, Hiến pháp 1992).
Phải chăng, quý vị cũng coi đấy là hành vi cố tình vi phạm kỷ cương, coi
thường phép nước? Vấn đề này có vẻ còn nghiêm trọng hơn cả chuyện biểu
tình, vì quyền biểu tình của công dân còn được Hiến pháp ghi nhận đích
danh. Vậy thì quý vị có định đòi hỏi mọi người cũng phải nhịn ăn, nhịn
ngủ… cho đến khi có luật và được luật cho phép, giống như phải nhịn biểu
tình hay không?
H.X.P.
9/8/2011
——
* GS. TSKH – Viện sĩ Hoàng Xuân Phú, hiện làm việc tại Viện Toán học,
Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện sỹ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa
học Heidelberg, Viện sỹ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Bavaria . Ông
từng tham gia biểu tình tại Hà Nội phản đối Trung Quốc gây hấn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Chú ý: Điền vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
Sẽ xóa những comment không phù hợp
Thinhoi001