Nguyễn Duy Vinh
Bà má dzợ tui (đã qua đời) mỗi khi bàn về những tai hoạ đã xảy đến cho dân tộc Việt Nam, cụ luôn thở dài ngao ngán và hay thốt câu : “…tất cả đều là cơ giời vận nước cả…”.
Và theo lối suy nghĩ này, hình như đã có một luật lệ huyền bí nào đó quy định hết những gì đang xảy ra cho con người, cho xã hội và cho một quốc gia. Nếu thật sự có một ông Xanh nào đó chứng giám và luật nhân quả thật sự có mặt thì con người chỉ còn cách duy nhất là “ăn hiền ở lành” may ra sẽ tránh được nghiệp dữ và cơ giời vận nước từ đó chắc cũng được chuyển hướng và số phận một nước chắc nhờ vậy sẽ tốt lành hơn…
Vận nước của Việt Nam vào cuối thế kỷ 16 đầu thế kỷ 17 (và cho mãi đến ngày nay) không được tốt cho lắm. Đó là thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh. Ngoài Bắc (từ Thanh Hoá trở ra, còn được gọi là đàng ngoài) thì có Chúa Trịnh (Trịnh Tùng, Trịnh Tráng từ năm 1570 cho đến năm 1657). Trong Nam, tức là từ Thanh Hoá trở vào thì có Chúa Nguyễn (từ thời Nguyễn Hoàng thoát chết chạy vào đàng trong năm 1558 cho đến lúc Vua Gia Long lên ngôi năm 1762). Bắc Nam đánh nhau chí tử. Thêm vào đó, các Chúa Nguyễn thi nhau xua quân bành trướng về phía Nam : năm 1611 Nguyễn Hoàng chiếm Chiêm Thành và năm 1759 Việt Nam lấy Chân Lạp và lập thành 6 tỉnh Nam Việt đầu tiên. Thế nhưng chưa hết đâu nha. Ba anh em ông Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ nổi lên năm 1771 và chỉ trong vòng 6 năm lấy được miền Nam (đuổi các Chúa Nguyễn chạy có cờ) và đánh thắng luôn miền Bắc. Phải nói là nhờ vào ba anh em nhà Tây Sơn mà nước ta thống nhất từ Nam ra Bắc, nhưng lại cơ giời vận nước, việc thống nhất này không giữ được lâu. Cái gì đã xảy đến ? Lại giặc giã tiếp tục chứ có gì khác đâu ! Chúa Nguyễn Ánh (tức hoàng đế Gia Long sau này) chạy sang cầu cứu Xiêm La và được vua Xiêm (Thái Lan) giúp đem hàng vạn quân hùng hậu cả thủy lẫn bộ sang đánh quân Tây Sơn. Ai có dzìa (về) Mỹ Tho Rạch Gầm thì chắc không thể không ghé thăm vùng Xoài Mút, nơi mà quân Tây Sơn đã oanh liệt đánh tan toán quân Xiêm hùng hậu năm 1785. Rồi ngoài Bắc cũng không yên. Ông vua Việt Nam Lê Chiêu Thống lúc đó chạy sang lánh nạn bên Tàu bèn cầu cứu nhà Thanh. Triều đình nhà Thanh gọi là thương vua Việt (chứ trong bụng thì lúc nào cũng chỉ đợi dịp thôn tính nước ta) năm 1788 gửi Tôn Sĩ Nghị đem 29 vạn quân sang chiếm Thăng Long (cùng năm với Nguyễn Huệ vừa lên ngôi hoàng đế). Trong vòng một tháng từ khi quân Thanh đang ăn mừng chiến thắng ở Thăng Long, Nguyễn Huệ thân chinh xuất quân chiếm lại Thăng Long và chỉ trong vòng 6 ngày quân Tây Sơn đánh tan 29 vạn quân Thanh. Tướng Sầm Nghi Đống tự vẫn, Tôn Sĩ Nghị và Lê Chiêu Thống (cõng rắn cắn gà nhà) nghe nói phải chạy thoát thân trong những điều kiện vô cùng nhục nhã.
Nhưng vận nước Việt Nam không được tốt : năm 1792, vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) chết đột ngột thọ 39 tuổi mà không có người giỏi kế nghiệp (có đứa con còn quá trẻ, triều đình lọt vào tay những quan đại thần). Dòng họ Nguyễn Phúc Ánh đến thời kỳ may mắn…
Trong lúc Việt Nam đang lo đánh nhau tranh giành ngôi báu, trên thế giới đang có những chuyển biến lớn. Nào là sự phát minh ra máy chạy bằng hơi nước của ông James Watt (1736-1819), nào là những phát triển kinh tế tư bản và kỹ thuật ở Âu Châu, cộng thêm vào đó một hiểm hoạ ghê gớm của thế lực đế quốc Âu Châu đang thực hiện chính sách chiếm hữu thuộc địa. Quân Âu Châu đi chinh phục thế giới bằng thuyền có súng thần công và quân sĩ tinh nhuệ được võ trang bằng súng mút cà tông. Vua Gia Long (qua Giáo Sĩ Bá Đa Lộc, Pierre Pigneau de Béhaine và hiệp ước Versailles ký bởi vua Louis XVI cam kết giúp Nguyễn Ánh lấy lại ngai vàng năm 1787), với thuyền và súng ống đầy đủ, đã phá tan nhà Tây Sơn năm 1802. Và lúc này mới thấy cái ác của dân Việt mình. Vua Gia Long trả thù nhà Tây Sơn, cho đào mộ Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc giã ra thành bột và đem giam đống tro tàn trong ngục tối, và xử tử một cách thảm thiết cả nhà hai vợ chồng Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân. Vua Gia Long cũng không thọ lâu, ông chết năm 1820 thọ 58 tuổi, làm vua 18 năm, để lại…31 người con ! Hoàng tử Nguyễn Phúc Đản lên làm vua, tức là vua Minh Mạng. Và từ đây mộng thôn tính Việt nam của người Pháp đã bắt đầu thành hình…
Sách vở ghi lại là đời vua Tự Đức là đời mà Pháp lấy được nhiều quyền thống trị Việt Nam nhất. Vua Tự Đức Nguyễn Phúc Hồng Nhậm chết năm 1883 sau 36 năm trị vì và trong thời gian còn sống ông đã ký hiệp ước Nhâm Tuất (1862) và sau đó là hoà ước Quý Mùi (1883). Ngay năm sau Pháp bắt Việt Nam ký hoà ước Patenôtre và Việt Nam trở thành xứ bị chính thức đô hộ cho đến năm 1954. Từ Gia Long, Minh Mạng cho đến Kiến Phúc, lịch sử ghi lại là các vua thì yếu sức khoẻ hoặc chết yểu và các quan đại thần vì tham lam cá nhân đã lộng quyền thay vua và ký kết với Pháp những hiệp ước bán nước. Và cách cai trị của người Pháp trong thời gian này cũng rất dã man. Cách cư xử của những nhà toàn quyền Pháp cũng vô cùng hống hách. Chúng ta hãy cùng đọc lại một đoạn của bức thư ông toàn quyền Pháp Jules Harmand gửi cho triều đình Huế năm 1883 :
“…tôi cho quý ông 48 tiếng đồng hồ để chấp nhận hay bác bỏ toàn diện, không cần thương lượng trao đổi, những điều kiện mà chúng tôi biếu các ông với một tấm lòng cao cả….v.v…Nếu các ông từ chối những điều kiện này, các ông sửa soạn nhận những đau khổ lớn nhất. Hãy tưởng tượng những điều kinh khủng nhất, các ông vẫn sẽ còn ở bên dưới thực trạng. Đế quốc An Nam, triều đại, các hoàng tử và triều đình tự tuyên bố bản án cho mình. Tên nước Việt Nam sẽ không còn tồn tại trong lịch sử nữa…”
Ăn nói dữ tợn và coi thường cả một dân tộc đến thế là cùng. May thay trong các vua, cũng có vài vị anh hùng ra mặt chính thức chống đối Pháp. Người đầu tiên là vua Hàm Nghi. Tiếp đến có các vua Thành Thái và Duy Tân nhất định không cộng tác với Pháp. Và Pháp đã bắt giam và áp giải các vị vua này.
Vua Hàm Nghi bị đi đày ở Alger đầu năm 1889 và bị quản thúc tại biệt thự Villa des Pins thuộc làng El Biar cách Alger 12 cây số (lúc đó vua Hàm Nghi mới được 18 tuổi). Vua mất năm 1944 tại El Biar thọ 73 tuổi và hài cốt được cải táng về nghĩa địa Thonac năm 1965. Thonac là một làng nhỏ nằm bên sông Vézère phía Trung Nam nước Pháp (vùng Dordogne). Nhiều sách ghi sai là Sarlat (cách Thonac chắc cũng khoảng 30 cây số). Trong hầm vua có bốn người khác được chôn bên cạnh. Đó là các mộ của bà Marcelle Laloë (chính phi của vua Hàm Nghi), công chúa Như Mây (có sách ghi là Như Mai hoặc Nhữ Mây), hoàng tử Minh Đức và bà Marie Jeanne Delorme (hình như là người làm của gia đình vua). Vua Hàm Nghi có 3 người con. Công chúa Như Mây (sinh năm 1905), công chúa Như Lý (sinh năm 1908) và hoàng tử Minh Đức (sinh năm 1910). Công chúa Như Mây tốt nghiệp thủ khoa Kỹ Sư Nông Nghiệp khi vừa 21 tuổi (trường Nông Nghiệp Quốc Gia Pháp tại Versailles). Công chúa Như Mây sống độc thân, thọ 94 tuổi, không có hậu duệ. Công chúa Như Lý kết duyên cùng bá tước François de la Besse, qua đời năm 2005, thọ 97 tuổi, được an táng tại thị trấn Vigeois. Công chúa Như Lý có 3 người con (hai trai một gái).
Hai vua Thành Thái và Duy Tân bị áp giải đi đày trên đảo La Réunion năm 1916. Hiện nay trên đảo này có chiếc cầu lớn (xem hình) nối liền thành phố St Denis và quốc lộ chính chạy quanh đảo được mang tên Vĩnh San (người Pháp viết không bỏ dấu “Vinh San”) tức là hoàng tử Nguyễn Phúc Vĩnh San (tên vua Duy Tân). Vua Duy Tân qua đời ngày 26 tháng 12 năm 1945 tử nạn máy bay rơi tại làng Bassako bên cạnh M’Banki thuộc Cộng Hoà Trung Phi, thọ 47 tuổi. Chiếc máy bay Lockheed Lodestar C-60 của hãng hàng không Pháp cất cánh từ Paris bay về Bangui là trạm ngừng kế tiếp (sau Fort Lamy). Phi hành đoàn gồm 9 người không ai sống sót. Sau khi xảy ra tai nạn, di hài vua Duy Tân được chính phủ Pháp và con cháu vua chôn cất ngày 26 tháng 12 năm 1945 tại nghĩa địa hiệp hội công giáo M’Banki. Người con trai lớn của vua Duy Tân là hoàng tử Guy Georges Vĩnh San (bây giờ vẫn còn sống, 75 tuổi), với sự trợ giúp của chính phủ Pháp (thủ tướng Jacques Chirac lúc bấy giờ), đã sang bốc mộ vua đưa về Paris làm lễ truy điệu ở Vincennes trước khi chuyển hài cốt về Việt Nam ngày 28 tháng 03 năm 1987. Một buổi lễ quốc táng được tổ chức trọng thể tại điện Cần Thành và sau đó vua Duy Tân được an nghỉ vĩnh viễn tại An Lăng, nơi có mộ phần của bố là Thành Thái và ông nội là Dục Đức.
Từ khi vua Duy Tân rời Huế (1916) cho đến lúc chỉ còn là nắm xương cốt tro tàn trở lại Huế (1987), đúng 71 năm đã trôi qua.
Nguyễn Duy Vinh (cựu học sinh Nguyễn Trãi Sài Gòn 1958-64)
Phỏng theo “Dấu Xưa…Tản Mạn Lịch Sử Nhà Nguyễn” bởi tác giả Mathilde Tuyết Trần (Edition Mathilde Tuyet Tran, France 2010)
nguồn:http://www.diendantheky.net/2013/05/nguyen-duy-vinh-co-gioi-troi-van-nuoc.html
=======================================================================
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
Sẽ xóa những comment nói tục
Thinhoi001

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Chú ý: Điền vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
Sẽ xóa những comment không phù hợp
Thinhoi001