Gian nan con đường phục chế một tấm bia thời Lý
Nguyễn Huệ Chi
Vào
khoảng gần giữa những năm 40 thế kỷ trước, khi Trường Bưởi tản cư về
Thanh Hóa để tránh bom phe Đồng Minh dội xuống quân Nhật đóng ở Hà Nội,
GS Hoàng Xuân Hãn – thầy giáo của trường – đã dành cơ hội đi điền dã vào
các ngày Chủ nhật để thám sát nhiều đình chùa cổ trong cả một vùng rộng
lớn và bất ngờ phát hiện ra những tấm bia thời Lý vô cùng quý giá,
trong đó có bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn (núi Hàm Rồng ngày nay) do
Giác Tính Hải Chiếu đại sư Thích Pháp Bảo soạn vào năm 1128, khắc họa
chân dung một Thái úy Lý Thường Kiệt (1019-1105), người “nắm sẵn mưu chước lớn của Triều đình”, khi biết “quân biên giới nhà Tống [có âm mưu] nhòm ngó nước ta” bèn “thống lĩnh quân sĩ, [tiến sang] diệt ba châu bốn trại [của chúng] như bẻ cành gỗ mục”. Rồi “chẳng
bao lâu [quân giặc] lại ồ ạt kéo đến sông Như Nguyệt thề trả thù cho ba
châu. Thái úy lại cầm quân chống giặc. Thái úy lấy tư cách biện sĩ mà
phân tích cho giặc, không vất vả mà bọn đầu sỏ rã rời nhụt chí. Thế là
giữ được an ninh cho xã tắc”:
“Lý công nước Việt,
Noi dấu tiền nhân.
Cầm quân tất thắng,
Trị nước an dân.
Danh lừng Trung hạ,
Tiếng nức xa gần.
Vun trồng phúc đức,
Đạo Phật sùng tin...”
Tấm
bia ra đời vào thời điểm rất gần những sự kiện lịch sử nóng bỏng là
cuộc chiến Lý - Tống, vì thế có thể coi là một trang hồi ký sinh động
của người đương đại viết một câu chuyện thời sự vừa diễn ra chưa bao
lâu, làm nổi lên một nhân cách lịch sử sáng chói của thời đại mình. Cũng
chính GS Hoàng Xuân Hãn còn tìm thấy tấm bia chùa Sùng Nghiêm Diên
Thánh ở hương Duy Tinh, quận Cửu Chân, nay thuộc thôn Duy Tinh, xã Văn
Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, cũng do cùng một tác giả Pháp Bảo
soạn vào năm 1118, trước tấm bia trên đến 10 năm, nhưng lại nói về một
ông Thông phán (chức quan chuyên trách về lương thực, ruộng đất và thủy
lợi) họ Chu là người được vua Lý Nhân Tông sai coi giữ quận Cửu Chân sau
khi Lý Thường Kiệt mất vừa tròn 10 năm (1115), một nhân vật được nắm
giữ việc quan lúc còn rất trẻ nhưng tài học vang lừng và tài trị dân nổi
tiếng: “Chu công là người ôn hòa kính cẩn, khí khái thanh liêm. Lấy
trung tín thờ người trên; lấy khoan nhân tiếp kẻ dưới. Nghe lời nói hay
thì để mãi trong lòng; học đủ ba đông mà không biết mệt mỏi. Tinh thông
kinh sử; uyển lệ văn chương. Tiếng khen lan truyền trong đám nho sinh;
tên tuổi vang lừng nơi trường ốc”. Và khi đến lỵ sở Cửu Chân nhậm chức thì ông “quyết tâm thay cũ đổi mới”, “Không
chùng không thẳng mà khoan mãnh dựa nhau; không mềm nắn rắn buông mà
cương nhu hợp độ. Xếp đặt mọi việc; đều hợp lễ nghi. Khuyên nhân dân
chăm việc nông tang; xét hình ngục cốt điều hòa ái. Cho nên trên dưới
một lòng, bỏ hết kiện tụng; xóm làng vui vẻ, phong hóa thanh cao”.
Tiếng tăm đồn thổi về triều, ông được vua Lý Nhân Tông triệu về kinh đô
cho trông coi việc xây dựng kinh thành Thăng Long và cung diện của nhà
Lý. Sau khi mọi việc hoàn thành, rất đẹp lòng vua, nên ông lại được đặc
cách coi giữ toàn trấn Thanh Hóa, ngang chức với Lý Thường Kiệt trước
khi từ trần:
“Coi dân giữ đất,
Có bậc tài danh.
Việc quan trinh thuận,
Dốc hết lòng thành.
Người gần cung kính,
Người xa cảm tình.
Ban bố chiếu chỉ,
Vỗ yên dân lành.
Xóm làng hòa mục,
Kho đụn đầy nhanh.
Ngục hình không lạm,
Trị nước nổi danh...”
Thu
thập được một cụm những tấm bia như vừa dẫn trên đây, GS Hoàng Xuân Hãn
đã khai thác được nhiều tư liệu sử học và địa lý đặc sắc, soi sáng cho
một công trình nổi tiếng của ông xuất bản vào năm 1949 tại Hà Nội là
cuốn Lý Thường Kiệt, cho đến nay vẫn được các thế hệ học giả đi sau lấy làm mẫu mực.
Hai
mươi năm sau những tìm tòi của Hoàng Xuân Hãn, khi được Viện Văn học
giao cho phụ trách Nhóm thơ văn Lý - Trần, tôi đã cùng nhiều bạn bè
trong Nhóm, thuộc nhiều thế hệ, vào nhiều khoảng thời gian khác nhau,
như PGS Đỗ Văn Hỷ (đã quá cố), PGS TS Trần Thị Băng Thanh, PGS TS Phạm
Tú Châu, các bạn Hoàng Lê, Lại Văn Hùng, Phạm Ngọc Lan, Đặng Thị Hảo,
Phạm Văn Ánh, Quách Thu Hiền... tổ chức nhiều đợt khảo sát về các di chỉ
Lý - Trần xưa để thu thập, bổ sung tư liệu. Đặc biệt, lần theo bước
chân vị GS họ Hoàng, từ năm 1971 chúng tôi đã trở lại tìm hiểu các tấm
bia thời Lý mà ông từng công bố trong cuốn sách của ông. Điều rất ngậm
ngùi là ở Thanh Hóa, hết thảy các “kỷ vật” văn tự vô giá thuở nào Hoàng
Xuân Hãn từng nâng niu thì nay đều đã hoàn toàn... mất bóng. Thậm chí
không phải chỉ bia thôi mà một số ngôi chùa tiếng tăm như Linh Xứng (núi
Ngưỡng Sơn / Hàm Rồng), Báo Ân (núi An Hoạch / Núi Nhồi), Hương Nghiêm
(núi Càn Ni / thuộc xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa)... cũng trở thành
phế tích hoặc đã ra tro bụi từ lâu. Khi đến chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh,
nhìn quang cảnh ngôi chùa sầm uất xưa kia vẫn đứng uy nghi với các hoa
văn rồng Lý khắc chạm tinh xảo ở các thềm đá bao quanh cao đến nửa mét
còn giữ nguyên được nhiều chỗ, chúng tôi mừng hớn hở, đứng ngắm nghía
thật lâu, tưởng như gặp lại được một người bạn tri âm tri kỷ. Ai dè khi
đến tận nơi tấm bia nổi tiếng có ảnh trong cuốn Lý Thường Kiệt đang
đứng lầm lũi ở mé bên phải sân chùa thì một cảnh tượng khiến ai nấy
sững sờ: một tảng đá “sứt đầu mẻ trán”, với nhiều vết đạn lỗ chỗ sâu
hoáy trên thân mình, cùng những dòng chữ Hán đã gần nhòe hết nét khắc,
có vẻ như sượng sùng cúi mặt không còn muốn chào đón khách tham quan.
Hỏi han người xung quanh thì vào thời kháng chiến chống Pháp, bộ đội về
đóng trong chùa, cần tập bắn, nên có lúc đã... mượn bia làm mục tiêu cho
tiện một công đôi việc (chống thực dân và chống phong kiến, bao gồm cả
tôn giáo trong đó). May mà ngôi chùa quá danh tiếng nên không bị phong
trào “hợp tự” năm 1948 đặt vào tầm ngắm, và nhờ đó bia vẫn chưa bị nung
vôi. Cầm lòng không được, chúng tôi không khảo sát kỹ hơn nữa các di
tích khác ở xung quanh chùa mà bảo nhau leo lên xe đạp về ngay.
Trở
về Hà Nội, đành lần tìm trong Thư viện Viễn Đông Bác cổ của Pháp cũ,
bấy giờ đã trở thành Thư viện Khoa học xã hội Việt Nam. May mắn còn tìm
được bản sao các văn bia do GS Hoàng Xuân Hãn lưu lại, lại tìm thêm được
thác bản của chúng do chính Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp cử người đi
dập, nhờ đó tham bác với nhau để khảo đính các văn bia này và công bố
trong Tập I Thơ văn Lý - Trần năm 1977. Cũng là một chút an ủi để niềm tin khỏi đến mức tiêu tan.
Thác bản bia Sùng Nghiêm Diên Thánh của Viễn Đông Bác cổ Pháp trước 1945
Đến
năm 1992, chúng tôi lại kéo nhau trở lại chùa Sùng Nghiêm. Bấy giờ chùa
đã được trùng tu, khang trang hơn nhiều, nhưng nhiều hiện vật thời Lý
còn giữ được cũng vì thế mà bị người trùng tu loại bỏ, như phần hoa văn
rồng Lý ở các thềm bó vỉa xung quanh nền chùa bị lấy hết đi, gắn vào một
bức tường để làm chứng tích, còn thì thay bằng đá chạm hoa sen mới được
thi công, nét khắc nông và thô hơn rất nhiều.
Các tảng đá chạm hoa văn rồng Lý bó vỉa nền chùa bị bóc đi khi trùng tu
Dù
sao, xem xét khắp từ chùa ngoài, gác chuông, nơi tàng giữ kiệu, các mộc
bản lưu trữ, cho đến hậu cung... thì đây vẫn là ngôi chùa tương đối ít
có những “sáng kiến táo bạo” trong quá trình trùng tu (nghĩa là mạnh tay
xài tiền), do nhà sư nữ trụ trì vốn rất cẩn trọng, nên ít nhiều những
di vật cổ kính vẫn còn giữ được. Phần hoành phi câu đối được thay mới
không đáng kể, chưa đến nỗi làm “cộm mắt” người xem như vô số đình chùa
miền Bắc.
Hoành phi mang dòng chữ “Sùng Nghiêm Diên Thánh tự” và các câu đối nơi chùa chính vẫn không thay đổi
Những cỗ kiệu xưa vẫn còn nguyên vẹn
Các
bệ hoa sen bằng đá kê tượng Phật trong hậu cung cũng được giữ lại, với
những mảng khắc chạm sóng nước có lẽ nếu có muộn cũng không xa lắm với
thời điểm xuất xứ của ngôi chùa.
Bệ đá hoa sen và hoa văn sóng nước kê tượng Phật vẫn được giữ lại
Duy tấm bia Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi minh tính tự
tuy cũng cố gắng “vá” lại bằng xi măng và đắp nổi chữ Hán trên trán
bia, có dựng thêm nhà bia và xây một bệ bia hoa sen hẳn hoi, nhưng vì
thế càng phô ra vẻ thảm thương của một “phế nhân” còn đầy vết đạn, và
chữ thì mờ nhòe gần hết, đến mức nói như Cao Bá Quát: “Thế sự hà kham một tự bi” – Việc đời chịu sao cho thấu tình cảnh tấm bia nhòe chữ!
Thế sự hà kham một tự bi!
Khi
chúng tôi vào khu nhà tổ, sư trụ trì đi vắng, chỉ có một bà vãi đưa ra
một cuốn sổ ghi cảm tưởng để xin đoàn viết cho mấy dòng. Đang sẵn mối
mặc cảm về tấm bia, tôi ghi ngay: “Xin nhà chùa hết sức lưu ý tìm mọi
cách phục chế lại tấm bia giống như bia gốc, vì bản dập thuở xưa ở
trung ương vẫn còn giữ được. Nếu không, dù chùa trùng tu tráng lệ đến
đâu cũng không tránh được nỗi phiền muộn cho khách thăm chùa”.
Thế
rồi bẵng đi đến 14 năm. Vào năm 2006, tôi vừa nghỉ hưu được một năm,
một hôm bỗng nghe tiếng điện thoại reo, nhấc lên thì đầu dây bên kia là
một giọng nữ nghe rõ tiếng nói vùng Thanh Hóa. Người ấy xưng tên là
Thích Đàm Tâm và tìm hỏi GS Nguyễn Huệ Chi. Thì ra đây chính là vị sư
trụ trì chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh mà năm xưa, khi chúng tôi đến vãng
cảnh, vì nhà sư có việc đi vắng nên không được gặp. Nhưng lúc sư trở về,
đọc được mấy lời tôi viết trong cuốn sổ cảm tưởng, lạ thay, bà không hề
phật ý, trái lại, rất lấy làm tâm đắc. Đinh ninh lời khuyến cáo của
tôi, sư hội chúng tăng trong chùa lại, nói đó cũng chính là tâm nguyện
bấy lâu của mình, và kêu gọi khách vãng lai cũng như thiện nam tín nữ từ
nay hãy dồn tiền công đức dành cho việc phục chế tấm bia này, nếu không
thì quá xấu hổ. Ai nấy đều đồng lòng với sư. Trải qua 14 năm, số tiền
lặng lẽ tích góp tính ra đã có thể tạm trang trải cho các công đoạn làm
lại tấm bia, sư bèn tìm hỏi bằng được số điện thoại của tôi, xưng danh,
và đặt thẳng vấn đề nhờ tôi đứng ra lo toan việc tái lập văn bản cũng
như xem xét phương án thiết kế một mô hình sao cho thật lý tưởng để có
thể bắt đầu khởi công khắc bia. Tôi nghe sư nói, kinh ngạc, ngỡ ngàng,
đứng lặng giây lâu, và cuối cùng thì vỡ òa thành một niềm vui.
Lập
tức, vài hôm sau tôi liên lạc lại với anh chị em trong Nhóm Lý - Trần
cũ và vạch ra một kế hoạch cụ thể. Việc trước mắt là khảo đính lại thật
chuẩn mặt trước văn bia vốn đã được công bố trong Thơ văn Lý - Trần
Tập I do tôi Chủ biên. Mọi người nhất trí giao cho tôi tiếp tục đảm
nhiệm. Sử dụng thác bản của Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp còn lưu giữ,
soi kính lúp để tham chiếu với văn bản in ảnh trong cuốn Lý Thường Kiệt
của Hoàng Xuân Hãn, tôi liệt kê ra những chữ không còn đọc nổi và đi
tìm lời giải trong khi so sánh với văn bản mà chúng tôi đã khảo đính
trong Thơ văn lý - Trần Tập I (1977), kết hợp với Văn khắc Hán Nôm Việt Nam
Tập I do GS Claudine Salmon và PGS Phan Văn Các xác lập năm 1998, dựa
trên thành quả của chính bộ sách của chúng tôi. Sau 2 tháng, bản khảo
đính chi tiết của tôi xong xuôi, được anh em trao nhau đọc và chấp nhận.
Chúng tôi liền tổ chức một chuyến đi chùa Sùng Nghiêm vào ngày
23-7-2006 để xem xét mặt sau tấm bia xem có khắc chữ Hán nào không, nếu
có thì cũng phải tái lập văn bản. Trách nhiệm việc đọc phó thác cho vợ
tôi, Nguyễn Kim Hưng, bạn Phạm Văn Ánh (Viện Văn học) và Nguyễn Văn
Thanh (Viện Hán Nôm). Hóa ra, đến nơi mới biết, chữ Hán chiếm gần một
nửa mặt bia phía sau, nhưng trước nay chưa ai ghi lại. Ba người đã dán
mắt vào đọc và đoán suốt cả một buổi, rồi cùng nhau hội lại, xác định
được khá chắc chắn 13 hàng chữ (không kể những chữ đã mờ tịt), ghi rõ
việc cúng ruộng hậu điền cho chùa, khắc lên bia vào ngày 26 tháng 10 năm
Kỷ Sửu (dựa trên kiểu chữ thì biết là vào thời hậu Lê nhưng không rõ
đích xác năm nào). Đó là thêm một văn bản thứ hai.
Chuyến
hành hương chùa Sùng Nghiêm ngày 23-7-2006. Từ trái sang, người thứ 3:
Nguyễn Văn Thanh; thứ 4: Phạm Văn Ánh; thứ 5: Đặng Thị Hảo; thứ 6: Thích
Đàm Thành, đệ tử sư bà Thích Đàm Tâm; thứ 7: Nguyễn Kim Hưng.
Về
phần tôi, đây là lần diện kiến chính thức sư bà Thích Đàm Tâm để nghe
nhà sư trải lòng về nỗi niềm canh cánh đối với tấm bia kể từ khi cụ về
chùa đây trụ trì. Và đây cũng là cơ hội để tôi tập hợp lại mớ tài liệu
ghi chép tên họ những người đã cùng với nhà chùa phát tâm trong bấy
nhiêu năm cho mục tiêu làm tấm bia mới.
Lần đầu diện kiến sư bà Thích Đàm Tâm ngày 23-7-2006
Trở
về lại Hà Nội, hội ý với anh chị em, chúng tôi mời nhà thư pháp Lê Quốc
Việt tham gia vào cuộc. Việt vui vẻ nhận lời, cùng chúng tôi bàn thảo
rất kỹ cách thiết kế tấm bia. Dựa trên thác bản của Viễn Đông Bác cổ
Pháp đã có, Việt nhận đảm đương mấy phần việc quan trọng: viết dòng chữ
triện trên trán bia cùng vẽ mô hình rồng Lý hai bên chầu vào; thiết kể
chuỗi hoa văn hoa dây leo xung quanh diềm bia và các mô-típ trang trí
chạy ngang ở dưới trán bia cũng như dưới chân bia. Việt cũng nhận viết
cho phần chữ Hán Hậu điền ở nửa mặt sau bia phỏng theo kiểu chữ
thời Lê mà bàn tay tài hoa của anh thực hiện không mấy khó khăn. Nhưng
phần chữ chính của văn bản mặt trước là chữ khải thời Lý - Trần thì Việt
gợi ý, phải mời cho được nhà thư pháp Phan Bảo có uy tín bậc nhất của
Thanh Hóa. Mặt khác, còn có một đế bia vốn không còn tồn tại, nay phải
tìm cách tạo hình cho nó và phải tìm được một cách trang trí hoa văn
thích hợp. Sau nhiều buổi trao đổi cặn kẽ, chúng tôi thống nhất làm một
bệ bia cao nửa mét và chọn những mô-típ trang trí thời Lý tiêu biểu hiện
còn. Việc này Việt cũng hăng hái nhận giúp cho luôn. Quả nhiên, chỉ
chừng hai tháng, tham khảo hết các ảnh chụp còn lại trong các bảo tàng
và sách vở đây đó, Việt đã thiết kế hoàn chỉnh mô hình một đế bia được
khắc họa tỉ mỉ với kiểu trang trí ở tháp Chương Sơn còn lại. Ai nấy xem
xong đều rất đẹp ý. Riêng tôi, phải tự mình đi vào Thanh Hóa gặp gỡ nhà
thư pháp Phan Bảo. Rất may, cuộc hội ngộ ngộ diễn ra suôn sẻ. Tôi gặp
được một con người lịch lãm, phong độ, ít nói nhưng rất cởi mở. Ông thết
tôi thứ rượu cúc cất riêng cho mình tuyệt ngon, và khảng khái nhận lời
tôi, dù món tiền bồi dưỡng mà tôi đưa đến chẳng tương xứng với tài năng
công sức của ông. Y như rằng ông đã nói là làm. Cùng thời gian Việt làm
xong đế bia thì chúng tôi cũng nhận được một bản chữ Hán từ Thanh Hóa
gửi ra, kiểu chữ khải cổ, so với thác bản cứ ngỡ là hai chị em song
sinh, nhưng một bên đã trải qua phong sương một nghìn năm, một bên còn
nguyên vẻ nõn nà của thời son trẻ. Mừng biết mấy là mừng! Về phần mình,
tôi cũng viết một bài Hậu ký cho nửa sau mặt bia còn lại, kể sơ
lược tình trạng tấm bia qua nhiều thời kỳ lịch sử, quá trình nhà chùa
cùng chúng tôi bắt tay vào “tân tạo”, cuối cùng là ghi tên những ai đã
góp công sức vào công cuộc trùng tu này. Cho đến tháng Mười 2006 thì bản
thiết kế chi tiết xong hoàn toàn. Lê Quốc Việt góp một phần công sức
không nhỏ.
Mặt trước bản thiết kế
Mặt sau bản thiết kế gồm cả Hậu điền và Hậu ký
Việt
còn đưa bản vẽ đến một công ty để in phóng to đúng kích cỡ trên vải
nilon, và cùng chúng tôi kéo nhau vào chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh trình
với sư bà Thích Đàm Tâm và Ban quản lý ngôi chùa một lần cuối cùng. Ấy
là vào tháng Mười năm 2006. Lần này có thêm Quách Thu Hiền, một cô gái
giỏi giang, mới về Ban văn học Cổ cận đại của Viện Văn học qua kỳ thi
tuyển trước khi tôi nghỉ hưu. Chúng tôi ngồi soát xét lại văn bản ngay
giữa sân chùa. Sư bà và người đến chùa chứng giám đều không khỏi trầm
trồ, kinh ngạc.
Những người đang kiểm tra lại bia, từ trái sang: Phạm Văn Ánh, Quách Thu Hiền, Lê Quốc Việt, Nguyễn Huệ Chi
Những
tưởng mọi việc thế là hoàn tất. Nào có ai học đến chữ ngờ. Khó khăn nảy
ra bắt đầu ở việc tìm đá khắc bia. Chúng tôi chủ động thay mặt nhà chùa
đi lùng đá có đến dăm bảy phen, chẳng nơi nào có đá mà mình ưng ý. Khác
với việc khai thác đá thời xưa, làm bằng phương pháp thủ công, chậm
nhưng đá đục ra nguyên phiến, nay các công ty đều dùng mìn lấy đá, nên
ít còn kiếm được đá đúng khuôn khổ. Thảng hoặc có được tảng đá to thì
thế nào nhìn kỹ cũng ẩn những đường nứt dọc ngang. Thậm chí có lần cả
mấy anh chị em đã vào tận núi Nhồi, chịu đựng cái nóng hầm hập và bầu
không khí bụi cát mù mịt, dò từng tảng đá nằm ngan ngác tại các công ty
đá ở đây, cuối cùng vẫn phải ngao ngán lắc đầu. Thứ nữa là thợ khắc.
Không ít người nói sẵn sàng khắc chữ đúng theo bản mẫu. Song khi đến
nhìn họ làm thì chỉ là khoét chữ lên đá, chữ hiện hình đấy song không
tài nào gọi được là khắc chữ Hán đúng kiểu của người thợ khắc thời cổ
(cắt đá lõm xuống theo hình chữ V). Tìm cùng khắp mà rốt cuộc cũng chưa
chấm được người nào. Thêm vào đấy, số tiền tích góp của nhà chùa cũng
chẳng phải rủng rỉnh gì, tiêu việc này việc khác dần dần đã hầu cạn. Ước
hẹn khởi công vào cuối năm 2006 thế rồi lại đành thất hẹn.
Lại
7 năm nữa trôi qua. Mùa xuân năm 2013, khoảng đầu tháng Tư, tôi lại
nghe tiếng điện thoại reo. Lại là sư bà Thích Đàm Tâm, giọng nói giờ đây
nghe đã mệt nhọc hơn nhiều nhưng niềm lạc quan không giấu được. “Lần
này đã có đá tốt, cũng đã có thợ giỏi, những ba người. Tiền lạc quyên
cũng đã đủ. Xin GS bắt đầu cho, kẻo tôi già mất rồi, sợ không sống được
mấy nỗi nữa”. Tôi cảm động, hẹn với sư tuần sau cho thợ ra tôi thử
tay nghề. Và ngay trong tuần đó, tôi điều chỉnh ngày tháng, bổ sung thêm
tên người vào bài Hậu ký ở mặt sau tấm bia, cũng theo yêu cầu
của tốp thợ, chữa lại một số chữ ở mặt trước, mà khi nhìn kỹ thấy ngòi
bút lông của ông Phan Bảo vì sơ ý làm cho nét này hơi nhằng vào nét
khác. Công việc chỉnh sửa, tập huấn cho thợ... làm ngày làm đêm, đúng là
dứt điểm chỉ trong vòng một tuần.
Ba tháng
tròn, thợ làm luôn tay không nghỉ, chạy ra chạy vào để gặp gỡ tôi hai
phen. Đến đầu tháng Tám thì sư bà báo cái tin làm tôi nức lòng: “Việc khắc chữ coi như là xong, đang cho xây nhà bia, xin GS cho đoàn vào nghiệm thu sớm”. Còn gì sung sướng hơn!
Ngày
17-8-2013, một đoàn nghiệm thu kiêm tham quan, bao gồm những anh chị em
đã bắt tay vào việc từ ngày còn trứng nước: Nguyễn Huệ Chi, Phạm Văn
Ánh, Đặng Thị Hảo, Nguyễn Kim Hưng, Quách Thu Hiền; những nhà khoa học
tự nhiên và xã hội: Chu Hảo, Lê Minh Hằng, Nguyễn Phạm Hùng, Nguyễn Xuân
Diện, Khương Việt Hà, Đào Tiến Thi, Nguyễn Trí Sơn; và cả những nhà văn
vốn yêu thích lịch sử thời Lý - Trần: Hoàng Quốc Hải, Vũ Ngọc Tiến; lại
có thêm cả một cháu bé con Thạc sĩ Phạm Văn Ánh đi cùng với bố; từ sáng
sớm đã cùng nhau lên một chiếc xe Ford tại đường Kim Mã Thượng, Hà Nội,
trực chỉ chùa Sùng Nghiêm ở ga Nghĩa Trang, Thanh Hóa, rẽ về hướng Đông
4 km, mà hành tiến. Xe chạy bon bon, chuyện trò rôm rả, và đến hơn 11
giờ đã áp tận cổng chùa.
Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh treo cờ để đón đoàn
Anh
chị em xuống xe, tiến vào cổng giữa những người đang đón đợi. Không có
tiếng reo mừng nào. 5 tiếng đồng hồ là quá lâu đối với họ. Có người chờ
không được tưởng đoàn đã bỏ cuộc nên ra về trước, như nhà thư pháp Phan
Bảo. Nhưng thôi, đến được đã là may.
Việc đầu
tiên mà ai cũng nóng lòng là ào tới phía bên phải ngôi chùa, băng qua
giàn giáo, vôi vữa, để ngắm nhìn tấm bia mới. Ôi, thật hả lòng! Hệt như
một tấm bia 10 thế kỷ trước, nhưng lại là bia vừa mới... khai sinh. Mới
toanh! Cả mặt trước, mặt sau đều rõ từng nét chữ.
Mặt trước bia
Mặt sau bia
Chỉ
có một điều khiến cả người chủ trì lẫn anh em bỏ công phục chế đều băn
khoăn, lạ lẫm: đế bia đã thay đổi hoàn toàn mẫu mã so với thiết kế ban
đầu. Vì sao? Không ai hiểu nổi. Về sau hỏi ra thì chỉ là bởi khắc theo
mô hình của người thiết kế sẽ quá đắt, thời gian hoàn tất cũng sẽ quá
lâu, do thế đám thợ khắc và người hưng công đã xúi sư bà “gật” cho họ
được tự động thay đi, dùng hoa sen thế vào rồng Lý. Chỉ có vậy thôi! Còn
làm sao nữa bây giờ! Mới biết, cái cố tật không tuân thủ nguyên tắc của
người Việt, ở đâu, trong bất cứ việc nào cũng thật là khó sửa. Dù kỹ
tính đến thế, vậy mà sự đời vẫn không chiều theo ý mình trăm phần trăm
được. Âu cũng là định mệnh.
Tất nhiên là phải
chụp ảnh. Những tấm ảnh quý giá sẽ lưu lại lâu dài một kỷ niệm đẹp,
không bao giờ quên, cho con cháu. Chụp ở cả bia mới và bia cũ.
Trước tấm bia mới
Và trước tấm bia cũ
Các bạn nữ cũng tranh thủ chụp một tấm với nhau cho bõ công đến tận đây... “xem Trạng”
Rồi
thì người nào vào nhiệm vụ ấy. Ai đọc soát lại bia hãy rướn mắt lên
nhìn từng nét khắc xem đúng hay sai. Kết quả, còn tìm ra khá nhiều chữ
khắc thiếu nét; lại có những chữ thợ khắc đang phải bỏ trống... Không hề
gì. Đây mới là nghiệm thu chứ đâu đã xong. Cứ thu thập lại tất cả,
thống kê đầy đủ, rồi sửa luôn một lần, thợ khắc hứa như vậy và Ban quản
lý chùa Sùng Nghiêm cũng hứa như vậy.
Còn
ai không phải đọc, soát, thì vào chùa đàm đạo với sư bà Thích Đàm Tâm.
Thay mặt giới khoa học ở Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật đang có
một dự án về việc dịch các câu đối hoành phi ở các đền chùa, GS Chu Hảo
nói lên nguyện vọng của mình muốn nhà chùa tiếp tục cho khắc bản dịch
lên một tấm bia y như tấm bia đã khắc. Sư bà và Ban quản lý ngồi nghe,
xem chừng có vẻ chưa mặn mà cho lắm. Có lẽ họ đã thấm mệt.
GS Chu Hảo đang thuyết phục sư bà và Ban quản lý về việc khắc nốt bản dịch tấm bia
Dầu
sao thì cho đến tận lúc ra về, cả đoàn khách và cả nhà chùa cũng vẫn
chưa hết hào hứng với những gì đã đạt được. Một hành trình gian nan sánh
bằng trèo lên quả núi cao ngất. Trèo suốt trong 21 năm (1992-2013)!
Nhưng trèo lên đến đỉnh rồi thì quả thật nhìn lại mới thấy “đã”, thấy bõ
cái công, phục chế ra phục chế. Mà điều đáng nói còn là: không tốn lấy
một xu tiền công quỹ. Theo ông Phó ban Quản lý dự án trùng tu chùa Sùng
Nghiêm Diên Thánh tên Hải cho biết, thì trong 13 tỷ rưỡi tiền dành cho
các hạng mục, không có hạng mục nào gọi là “phục sinh lại tấm bia”, và
số tiền hiện còn giữ trong ngân hàng là 5 tỷ rưỡi. Ai nấy nghe đều tươi
nét mặt khi bắt tay giã từ.
Vâng,
đúng thế thật. Nhưng giá mà việc nào cũng làm được như thế. Khắp trong
nước không một việc nào có cơ hội giúp cho những chiếc túi riêng căng
phồng lên cả nhỉ?! Rồi, trầm ngâm, ngẫm ngợi thêm, thì..., ờ mà sao lạ
thế chứ? Đây chẳng phải là một việc trọng đại có giá trị hàng đầu trong
việc trùng tu các đền chùa cổ hay sao! Sao lại không chi tiền? Nếu cứ
bắt anh trí thức dấn thân tự nguyện làm lấy hết mọi việc mà không nhận
đồng nào, hoặc có nhận cũng chẳng bõ bèn, thì chẳng hóa ra... sống bằng
“bùi tai” là đủ, “được tiếng khen ho hen chẳng còn” ư? Vậy ra, thân phận
người trí thức bao giờ cũng là... “mặc cho thiên hạ đục, một mình ta
trong” cơ đấy!
Hà Nội, 2-9-2013
N.H.C.
Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 06:57
nguồn:http://boxitvn.blogspot.com/2013/09/gian-nan-con-uong-phuc-che-mot-tam-bia.html
=======================================================================
Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 08:41
Thư phản hồi
GHI NHẬN VÀ TRI ÂN
Kính gửi Giáo sư Nguyễn Huệ Chi
Tôi đã đọc bài GIAN NAN CON ĐƯỜNG PHỤC CHẾ MỘT TẤM BIA THỜI LÝ của Giáo sư trên Bauxite Việt Nam (http://www.boxitvn.net/bai/19052 / http://boxitvn.blogspot.com/2013/09/gian-nan-con-uong-phuc-che-mot-tam-bia.html), blog Nguyễn Xuân Diện (http://xuandienhannom.blogspot.com/2013/09/nguyen-hue-chi-gian-nan-con-uong-phuc.html) và một số trang khác (http://www.diendan.org/viet-nam/gian-nan-con-duong-phuc-che-mot-tam-bia-thoi-ly). Tôi liền thông báo cho các cụ và mọi người trong làng về nội dung bài này. Các cụ giao trách nhiệm cho tôi viết thư cám ơn Giáo sư.
Nhân dân làng Duy Tinh chúng tôi rất vui mừng phấn khởi, xin được ghi nhận và tri ân công lao của Giáo sư cùng các cộng sự, có một việc làm cao đẹp vô cùng ý nghĩa cho làng Duy Tinh, nơi có tấm bia "Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi minh" ngàn năm tuổi vừa được phục chế.
Từ nay, nhân dân làng Duy Tinh cũng như khách vãng cảnh chùa, được nhìn tận mắt: bên cạnh tấm bia cổ ngàn năm tuổi, phong sương vỡ sứt mất chữ, là tấm bia mới phục chế rõ ràng nét chữ, thấm đẫm hồn thiêng của tiền nhân.
Làng Duy Tinh lỵ sở của trấn Thanh Hoa (tỉnh Thanh Hóa ngày nay) suốt 2 triều đại Lý - Trần, nơi anh hùng Lý Thường Kiệt đã ở, làm tổng trấn Thanh Hoa suốt 19 năm từ 1082 đến 1101. Hiện tại, là nơi duy nhất của tỉnh Thanh Hóa còn giữ lại được một trong bốn tấm bia từ thời nhà Lý. Hai tấm bia "An Hoạch Sơn Báo Ân tự bi minh” của chùa Báo Ân, Đông Sơn và "Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh" của chùa Linh Xứng, Hà Trung hiện đều để ở Viện Bảo tàng Lịch sử quốc gia, vì hai chùa này không còn nữa. Còn tấm bia Chùa Hương Nghiêm thời Lý Nhân Tông tại núi Càn Ni, xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa đã bị đập nung vôi năm 1963!
Xin được tri ân Giáo sư Hoàng Xuân Hãn – nhà văn hóa lớn – năm 1943 Giáo sư đã về Thanh Hóa làm được một việc vô cùng ý nghĩa cho nền văn hóa nước nhà; Giáo sư đã gian nan vất vả trèo núi lội đồng, để khảo cứu và chụp lại các văn bia. Nhờ vậy, mà ngày nay ta mới được đọc các văn bia, dưới ánh mắt nhìn ấm áp của các vị tiên hiền.
Thưa Giáo sư,
Quá trình phục chế tấm bia, quả là một con đường gian nan vất vả; từ một di bút của Giáo sư năm 1992 khi về thăm chùa, đến nay – năm 2013 – mới thành sự thực, đã 21 năm! Một quãng thời gian dài đằng đẵng cho một đời người!
Làng Duy Tinh còn một tấm bia "Trùng tu Phượng Hoàng thị kiều bi" [Bia nói về việc trùng tu cầu chợ Phượng Hoàng – BVN] dựng năm 1628 thời Lê trung hưng, ghi lại công tích bà Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Minh Thụy. Những năm 60 của thế kỷ trước, cửa hàng Bách hóa huyện đã hạ làm bàn giặt hơn một thập kỷ! Nhưng rồi dân làng đã đòi lại được, hiện dựng tại chùa, nhưng chữ mờ hết cả. Xin GS có điều kiện về lại làng Duy Tinh để khảo cứu. Xin cám ơn!
Dân làng Duy Tinh biết, phật tử và thiện nam tín nữ thập phương đều biết:
- Tấm lòng và công sức của Giáo sư cùng các cộng sự, đã có công lớn trong việc phục chế bia "Sùng Nghiêm Diên Thánh tự". Không những làm cho làng Duy Tinh mà, hơn hết là làm cho nền Văn Hóa nước nhà được bảo tồn.
- Tấm lòng phật lượng quảng đại của sư cụ Thích Đàm Tâm, người đã trải những bước thăng trầm, cùng với chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh và làng cổ Duy Tinh gần 60 năm. Các phật tử và nhân dân đều tin vào tấm lòng của cụ; nên đã hằng tâm, hằng sản công đức tiền của cho việc trùng tu chùa và phục chế bia.
Nghe tin Giáo sư Huệ Chi thôi chủ trang Bauxite Việt Nam, chúng tôi rất bùi ngùi và cảm nhớ. Trong suốt hơn 4 năm qua GS cùng trang Bauxite Việt Nam đã khơi dậy phong trào dân chủ và tiếng nói phản biện cần có, của những người trí thức của nhân dân và thực sự vì nhân dân.
Kính chúc Giáo sư Huệ Chi và các cộng sự luôn mạnh khỏe, có nhiều niềm vui, cống hiến nhiều hơn nữa cho nền Văn Hóa nước nhà.
Chúc trang Bauxite Việt Nam dưới sự điều hành của Giáo sư Phạm Xuân Yêm phát triển mạnh, đáp ứng sự kỳ vọng của nhân dân, hướng tới một nền dân chủ thực sự.
Nguyễn Quý Phong
Dâng hương trước bia mới khánh thành
Phúc đáp ông Nguyễn Quý Phong
Thưa ông,
Nhận được lá thư phản hồi của ông nhân đọc bài viết của tôi thuật lại quá trình phục dựng bia Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi minh tính tự đăng trên các trang mạng, tôi rất cảm động. Việc ông chuyển bài viết đó cho bà con ở làng Duy Tinh – nơi trực tiếp trông nom giữ gìn chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh với nhiều di vật vô giá trong đó có tấm bia, trong ngót một nghìn năm qua – để bà con cùng đọc, làm tôi càng mừng vui bội phần. Tâm nguyện của người viết bài là mong được nhiều người biết đến ngôi chùa thiêng và tấm bia quý có lịch sử dài hơn 8/10 thời gian xây dựng nền độc lập tự chủ của nhà nước Đại Việt – Việt Nam chúng ta mà may mắn đến nay vẫn không lâm kiếp tro bụi, để bà con người Việt cũng như người nước ngoài khắp bốn phương ghé vào thăm viếng mỗi khi có dịp hành hương qua xứ Thanh.
Nhưng người viết cũng muốn gián tiếp nêu lên một bài học kinh nghiệm về việc giữ gìn tôn tạo di tích của địa phương Duy Tinh, cốt sao kinh nghiệm ấy được nhân lên ở nhiều nơi khác, hy vọng rồi đây không chỉ một bia chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh mà nhiều bia cổ khác ở nhiều vùng miền khác đã bị hủy hoại theo thời gian, chẳng hạn Càn Ni sơn Hương Nghiêm tự bi minh... cũng sẽ được phục dựng lại. Bởi lẽ người xưa gửi gắm tiếng nói vào đá bằng văn tự là mong mỏi con cháu các đời sau sẽ đọc để hiểu được tư tưởng, tâm huyết và nhiều điều mình từng trải nghiệm. Về phía hậu sinh chúng ta, nhờ đó cũng có thêm một phương tiện hữu hiệu giúp nhìn sâu vào quá khứ lịch sử, hình dung ra diện mạo, cốt cách, tâm hồn con người Việt Nam ở những thời kỳ xa xưa. Bên cạnh kiến trúc, hoa văn, tượng đá tượng đồng, các hình thức văn tự biểu đạt tiếng nói của cha ông rất cần được lưu lại, trân trọng giữ gìn, chính là vì vậy. Được bà con trong làng đọc, truyền bá rộng rãi cho nhau một việc làm đáng ghi nhớ của chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh mà đứng đầu là sư bà Thích Đàm Tâm, nhằm cùng nhau bảo vệ di tích từ nay về sau tốt hơn nữa, điều đó còn gì quý bằng.
Tối hôm qua tôi đã nhận được hai bản dập hai mặt tấm bia mới do Ban quản lý chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh vừa gửi ra nhờ xem lại những chỗ thợ khắc còn khắc sai hoặc thiếu, nhằm tiếp tục bổ sung, hoàn thiện. Tôi và các cộng sự sẽ dành thì giờ làm trọn việc này.
Về phần ông, tôi cũng mong ông cùng bà con dân làng hãy lên tiếng đề xuất với Ban quản lý và sư bà Thích Đàm Tâm tiến hành một số việc đáng được ưu tiên tiếp tục, chẳng hạn cân nhắc việc khắc bản dịch ra tiếng Việt văn bản tấm bia (đã được dịch trong bộ Thơ văn Lý – Trần Tập I, công bố năm 1977) trên một phiến đá lớn tương xứng với tấm bia gốc vừa phục chế (như GS Chu Hảo trong đoàn đi nghiệm thu hôm 17-8 có đề nghị), hoặc nếu tính toán số tiền trùng tu hiện vẫn còn khá, thì lên kế hoạch cho khắc lại các phiến đá bó vỉa nền chùa bằng hoa văn rồng Lý đang có mẫu lưu lại, thay cho những phiến đá chạm khắc hoa sen mới trùng tu vài chục năm trước không đúng với nền của ngôi chùa cổ, hẳn sẽ còn góp phần làm cho giá trị ngôi chùa được nâng lên xứng tầm hơn.
Cảm ơn ông đã chia sẻ về việc tôi thôi đảm nhiệm việc điều hành trang BVN một thời gian. Xin báo với ông, người thay tôi là GS Phạm Xuân Yêm, chuyên gia uy tín về ngành vật lý, hiện cư ngụ tại Pháp, rất biết cách bảo vệ trang mạng, và từ lâu đã nổi tiếng về tấm lòng ưu ái đối với đất nước. Việc trang Bauxite Việt Nam mở rộng quan hệ trong ngoài để cùng chung sức nhau tạo nên một tiếng nói truyền thông bao quát hơn, cập nhật hơn và cũng hiệu quả hơn, trong điều kiện thế giới đã trở thành phẳng như hiện nay, và trong tình hình phong trào dân sự trong nước đang dâng lên như hiện nay, là điều hợp tình hợp lý.
Kính chúc ông dồi dào sức khỏe và qua ông xin cho tôi và anh chị em cộng sự phục chế tấm bia Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi minh tính tự được gửi đến đồng bào trong làng Duy Tinh và rộng hơn trong toàn xã Văn Lộc, những tình cảm quý mến chân thành.
Hà Nội ngày 6-9-2013
Nguyễn Huệ Chi
Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 08:41
nguồn:http://boxitvn.blogspot.com/2013/09/thu-phan-hoi.html
======================================================================
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Chú ý: Điền vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
Sẽ xóa những comment không phù hợp
Thinhoi001