Phần IV: Tam Nhân
Chương 22: THẾ HỆ KHÁC

Người kế nhiệm
Theo
ông Phan Văn Khải, khi thăm dò ý kiến chuẩn bị nhân sự cho Đại hội X,
các ban ngành đánh giá ông Vũ Khoan cao hơn. Một trong những “ban,
ngành” nhiệt tình ủng hộ ông Vũ Khoan là Ban Nghiên cứu của thủ tướng.
Thời ông Phan Văn Khải, trước khi chính phủ ban hành bất cứ văn bản nào,
thủ tướng cũng đều chuyển cho Ban Nghiên cứu xem trước. Các văn bản hay
bị Ban Nghiên cứu có ý kiến lại thường được đưa lên từ Văn phòng Phó
Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng.
Ông
Khải thừa nhận, thâm tâm ông cảm tình với ông Vũ Khoan hơn, tuy nhiên,
phần vì Vũ Khoan bị coi là thiếu thực tế trong nước, phần vì ông đã lớn
tuổi - Vũ Khoan sinh năm 1937, cùng năm sinh với các ông Trần Đức Lương,
Nguyễn Văn An - nên việc giới thiệu ông là gần như không thể. Nhưng,
chủ yếu, theo ông Khải: “Tương quan lực lượng không cho phép”.
Ngày
28-6-2006, Quốc hội bỏ phiếu bầu ông Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng.
Trước khi rời nhiệm sở, ông Phan Văn Khải tổ chức một buổi gặp mặt toàn
thể Ban Nghiên cứu với sự có mặt của thủ tướng mới được bầu Nguyễn Tấn
Dũng. Tiếp lời ông Phan Văn Khải, trong một diễn văn ngắn, ông Dũng cũng
đã dùng những từ ngữ tốt đẹp để nói về Ban Nghiên cứu và tương lai cộng
tác giữa ông và các thành viên. Cũng trong cuộc gặp này, ý tưởng hình
thành Văn phòng thủ tướng trong Văn phòng Chính phủ đã được cả ông Khải
và ông Dũng cùng ủng hộ.
Trong
đúng một tháng sau đó, công việc của Ban vẫn tiến hành đều đặn. Chiều
27-7-2006, ông Trần Xuân Giá được mời lên phòng thủ tướng. Ông Giá nhớ
lại, đó là một cuộc làm việc vui vẻ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đồng ý để
Giáo sư Đào Xuân Sâm, lúc ấy đã lớn tuổi, nghỉ hưu và ông cũng tỏ ra
không bằng lòng với việc Tiến sỹ Lê Đăng Doanh vẫn hay phát biểu với vai
trò thành viên của Ban Nghiên cứu. Cuộc nói chuyện kéo dài tới 17 giờ
ngày 27, Thủ tướng thân tình đến mức ông Giá tạm thời gạt qua kế hoạch
nghỉ hưu và trở về ngồi vẽ sơ đồ tổ chức văn phòng thủ tướng và chuẩn bị
kế hoạch củng cố Ban Nghiên cứu.
Hôm
sau, ngày 28-7-2006, khi ông Trần Xuân Giá đến cơ quan ở đường Lê Hồng
Phong thì thấy Văn phòng vắng vẻ, nhân viên lúng túng tránh nhìn thẳng
vào mắt ông. Ông Trần Xuân Giá làm tiếp một số việc rồi về nhà. Vào lúc
16 giờ cùng ngày, ông nhận được quyết định nghỉ hưu và quyết định giải
thể Ban Nghiên cứu do văn thư mang tới. Cả hai cùng được chính Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng ký vào ngày 28-7-2006, tức là chỉ ít giờ sau khi ngồi
“hàn huyên” với ông Trần Xuân Giá. Theo ông Giá thì ông là người cuối
cùng trong Ban Nghiên cứu nhận được quyết định này.
Ông
Nguyễn Tấn Dũng sinh tại Cà Mau năm 1949. Mới mười hai tuổi đã theo cha
vào “bưng” làm liên lạc, ông biết chữ chủ yếu nhờ các lớp bổ túc ở
trong rừng do địa phương quân tổ chức. Sau đó, ông Dũng được đưa đi cứu
thương rồi làm y tá cho Tỉnh đội.
Ngày
30-4-1975, Nguyễn Tấn Dũng là trung uý, chính trị viên Đại đội Quân y
thuộc Tỉnh đội Rạch Giá. Đầu thập niên 1980, theo ông Lê Khả Phiêu: “Khi
ấy, tôi là Phó chính uỷ Quân khu IX, trực tiếp gắn quân hàm thiếu tá
cho anh Nguyễn Tấn Dũng. Năm 1981, khi anh Dũng bị thương ở chiến trường
Campuchia, tôi cho anh về nước đi học”. Năm 1983, từ trường Nguyễn Ái
Quốc trở về, ông Dũng ra khỏi quân đội, bạn bè của cha ông, ông Nguyễn
Tấn Thử, đã bố trí ông Dũng giữ chức phó Ban Tổ chức Tỉnh uỷ. Nhưng vị
trí giúp ông có một bước nhảy vọt trong con đường chính trị là chức vụ
mà ông nhận sau đó: bí thư Huyện uỷ Hà Tiên.
Sau
Đại hội V, ông Lê Duẩn có ý tưởng cơ cấu một số cán bộ trẻ và một số
cán bộ đang là bí thư các ‘pháo đài huyện’ vào Trung ương làm uỷ viên dự
khuyết như một động thái đào tạo cán bộ. Ông Nguyễn Đình Hương(580) nhớ
lại: “Trước Đại hội VI, tôi được ông Lê Đức Thọ phân công trực tiếp về
địa phương gặp các ứng cử viên. Phía Nam có anh Nguyễn Tấn Dũng, bí thư
huyện Hà Tiên, cô Hai Liên, bí thư huyện uỷ Thống Nhất, Đồng Nai, cô
Trương Mỹ Hoa, bí thư quận Tân Bình; phía Bắc có cô Nguyễn Thị Xuân Mỹ,
bí thư Quận uỷ Lê Chân, Hải Phòng”. Sau Đại hội VI, ông Nguyễn Tấn Dũng
rời “pháo đài” Hà Tiên về Rạch Giá làm phó bí thư thường trực rồi Chủ
tịch Uỷ ban Nhân dân Tỉnh.
Trước
Đại hội Đảng lần thứ VII, khi chuẩn bị cho Đại hội Tỉnh Đảng bộ Kiên
Giang, ông Lâm Kiên Trì, một cán bộ lãnh đạo kỳ cựu của tỉnh từ chức, mở
đường cho ông Nguyễn Tấn Dũng lên bí thư. Theo ông Năm Loan, khi ấy là
uỷ viên thường vụ, trưởng Ban Tổ chức Tỉnh uỷ Kiên Giang: “Ông Đỗ Mười
vào T78, triệu tập Thường vụ Tỉnh uỷ lên họp, duyệt phương án nhân sự và
quyết định đưa Nguyễn Tấn Dũng lên làm bí thư”. Năm ấy ông Dũng bốn
mươi hai tuổi.
Trong
một nền chính trị, mà công tác cán bộ được giữ bí mật và phụ thuộc chủ
yếu vào sự lựa chọn của một vài nhà lãnh đạo, các giai thoại lại xuất
hiện để giải thích sự thăng tiến mau lẹ của một số người. Trong khi dư
luận tiếp tục nghi vấn ông Nông Đức Mạnh là “con cháu Bác Hồ”(581), một
“huyền thoại” khác nói rằng, cha của ông Nguyễn Tấn Dũng đã “chết trên
tay ông Lê Đức Anh” và trước khi chết có gửi gắm con trai cho Bí thư Khu
uỷ Võ Văn Kiệt và Tư lệnh Quân khu IX Lê Đức Anh. Trên thực tế, cha ông
Nguyễn Tấn Dũng là ông Nguyễn Tấn Thử, thường gọi là mươi Minh, đã mất
trước khi hai ông Võ Văn Kiệt và Lê Đức Anh đặt chân xuống Quân khu IX.
Ngày
16-4-1969, một trái bom Mỹ đã ném trúng hầm trú ẩn của Tỉnh đội Rạch
Giá làm chết bốn người trong đó có ông Nguyễn Tấn Thử khi ấy là chính
trị viên phó Tỉnh đội. Một trong ba người chết còn lại là ông Chín Quý,
chính trị viên Tỉnh đội. Trong khi, đầu năm 1970, ông Lê Đức Anh mới
được điều về làm tư lệnh Quân khu IX còn ông Kiệt thì mãi tới tháng
10-1970 mới xuống miền Tây. Họ có nghe nói đến vụ ném bom làm chết ông
Chín Quý và ông Mười Minh nhưng theo ông Kiệt thì cả hai ông đều chưa
từng gặp ông Mười Minh Nguyễn Tấn Thử. Mãi tới năm 1991, trong đại hội
đại biểu tỉnh đảng bộ Kiên Giang, ông Võ Văn Kiệt mới thực sự biết rõ về
ông Nguyễn Tấn Dũng và cho tới lúc này ông Kiệt vẫn muốn ông Lâm Kiên
Trì, một người mà ông biết trong chiến tranh, tiếp tục làm bí thư Tỉnh
uỷ Kiên Giang.
Ông
Nguyễn Tấn Dũng được điều ra Hà Nội tháng 1-1995, ông bắt đầu với chức
vụ mà xét về thứ bậc là rất nhỏ: thứ trưởng Bộ Nội vụ. Trước Đại hội
VIII, theo ông Lê Khả Phiêu: “Khi làm nhân sự Bộ Chính trị, anh Nguyễn
Tấn Dũng gặp tôi, nói: ‘Anh em miền Nam yêu cầu tôi phải tham gia Bộ
Chính trị’. Trong khi, thứ trưởng thường trực là anh Lê Minh Hương thì
băn khoăn: ‘Ngành công an không thể có hai anh ở trong Bộ Chính trị’.
Tôi bàn, anh Lê Minh Hương tiếp tục ở trong Bộ Công an, anh Nguyễn Tấn
Dũng chuyển sang Ban Kinh tế”.
Tháng
6-1996, ông Dũng được đưa vào Bộ Chính trị phụ trách vấn đề tài chính
của Đảng. Cho dù, theo ông Lê Khả Phiêu, ông Dũng đắc cử Trung ương với
số phiếu thấp và gần như “đội sổ” khi bầu Bộ Chính trị nhưng vẫn được
đưa vào Thường vụ Bộ Chính trị, một định chế mới lập ra sau Đại hội
VIII, vượt qua những nhân vật có thâm niên và đang giữ các chức vụ chủ
chốt như Nông Đức Mạnh, Phan Văn Khải. Ông Nguyễn Đình Hương giải thích:
“Nguyễn Tấn Dũng được ông Đỗ Mười đưa đột biến vào Thường vụ Bộ Chính
trị chỉ vì ông Đỗ Mười có quan điểm phải nâng đỡ, bồi dưỡng, con em gia
đình cách mạng. Tấn Dũng vừa là một người đã tham gia chiến đấu, vừa là
con liệt sỹ, tướng mạo cũng được, lại vào Trung ương năm mới ba mươi bảy
tuổi”.
Ngay
cả khi đã ở trong Thường vụ Bộ Chính trị, ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn là
một con người hết sức nhã nhặn. Ông không chỉ cùng lúc nhận được sự ủng
hộ đặc biệt của các ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt, mà những ai
biết ông Dũng vào giai đoạn này đều tỏ ra rất có cảm tình với ông. Theo
ông Phan Văn Khải: “Nguyễn Tấn Dũng được cả ba ông ủng hộ, đặc biệt là
ông Lê Đức Anh và Đỗ Mười. Tấn Dũng cũng biết cách vận động. Năm 1997,
trước khi lui về làm cố vấn, cả ba ông thậm chí còn muốn đưa Tấn Dũng
lên thủ tướng, tuy nhiên khi thăm dò phiếu ở Ban Chấp hành Trung ương
cho cương vị này, ông chỉ nhận được một lượng phiếu tín nhiệm thấp”.
Kinh tế tập đoàn
Trước
Đại hội Đảng lần thứ X, tháng 4-2006, ông Nguyễn Tấn Dũng được Bộ Chính
trị phân công làm tổ trưởng biên tập “Báo cáo của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khoá IX về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội 5
năm 2006-2010”. Khi chủ trì các buổi thảo luận, ông Nguyễn Tấn Dũng yêu
cầu đưa vào văn kiện chủ trương tổ chức doanh nghiệp nhà nước theo hướng
kinh doanh đa ngành.
Theo
ông Trần Xuân Giá, tổ phó biên tập: “Cho doanh nghiệp nhà nước kinh
doanh đa ngành là ngược lại với chủ trương lâu nay của chính phủ nên
chúng tôi không dự thảo văn kiện theo chỉ đạo của ông Nguyễn Tấn Dũng.
Đến gần đại hội, ông Dũng cáu, ông viết thẳng ra giấy ý kiến của ông rồi
buộc chúng tôi phải đưa nguyên văn vào Báo cáo, phần nói về doanh
nghiệp nhà nước: Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế và
tổng công ty nhà nước mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có
một số ngành chính; có nhiều chủ sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước giữ
vai trò chi phối”.
Lúc
ấy, ông Nguyễn Tấn Dũng đã có đủ phiếu ở Ban Chấp hành Trung ương để
tiến đến chiếc ghế thủ tướng. Ông khát khao tạo dấu ấn và nôn nóng như
những gì được viết trong Báo cáo Kinh tế mà ông chủ trì: “Đẩy nhanh tốc
độ tăng trưởng kinh tế, đạt được bước chuyển biến quan trọng về nâng cao
hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa nước ta ra khỏi
tình trạng kém phát triển”.
Mặc
dù từ năm 1994, Quyết định số 91/TTg của Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói
đến việc “thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh” nhưng cho đến năm
2005, Việt Nam chưa có một tập đoàn nào ra đời. Cuối nhiệm kỳ, Thủ tướng
Phan Văn Khải cho thành lập hai tập đoàn: Tập đoàn Công nghiệp
Than-Khoáng sản Việt Nam ngày 26-12-2005 và Tập đoàn Công nghiệp Tàu
thuỷ Việt Nam Vinashin ngày 15-5-2006.
Hai
tháng sau khi nhận chức, ngày 29-8-2006, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho
ngành dầu khí được nâng lên quy mô tập đoàn, PetroVietnam, ngày
30-10-2006 thành lập Tập đoàn Công nghiệp Cao su, ngày 9-01-2006 thành
lập Tập đoàn Bưu chính Viễn thông. Tốc độ thành lập tập đoàn kinh tế nhà
nước có chững lại sau khi cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt viết một thư ngỏ
đăng trên Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, yêu cầu thận trọng vì theo ông,
trong khi những yếu kém của mô hình tổng công ty 90, 91 chưa được khắc
phục mà lại làm phình to chúng ra bằng các quyết định hành chính là
không hợp lý. Ông Võ Văn Kiệt viết: “Các doanh nghiệp nhà nước của ta có
truyền thống dựa vào bao cấp nhiều mặt, không dễ từ bỏ thói quen cũ,
nếu từ bỏ thói quen cũ cũng không dễ đứng vững trong thế cạnh tranh…
Không có gì đảm bảo khi các tập đoàn được thành lập sẽ hoạt động tốt hơn
các doanh nghiệp hiện nay”(582).
Trong
khoảng thời gian từ khi ông Võ Văn Kiệt mất, tháng 6-2008, cho đến năm
2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã kịp nâng số tập đoàn kinh tế nhà nước
lên con số mười hai. Nhưng chính sách cho tập đoàn kinh tế nhà nước
kinh doanh đa ngành chứ không phải số lượng tập đoàn kinh tế nhà nước
mới là nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng kinh tế.
Theo
ông Phan Văn Khải: “Khi thành lập Tập đoàn Vinashin, tôi nghĩ, đất nước
mình có bờ biển dài hơn 3.000km, phát triển ngành công nghiệp đóng tàu
là cần thiết nhất là khi ngành công nghiệp này đang được chuyển dịch từ
các nước Bắc Âu về Trung Quốc, Hàn Quốc. Chính tôi quyết định đầu tư cho
Vinashin khoản tiền bán trái phiếu chính phủ hơn 700 triệu USD. Nhưng,
sau đó thì không chỉ Vinashin mà nhiều tập đoàn khác cũng phát triển ồ
ạt nhiều loại ngành nghề, ở đâu cũng thấy đất đai của Vinashin và của
các tập đoàn nhà nước”.
Theo
ông Trần Xuân Giá: “Ông Nguyễn Tấn Dũng coi doanh nghiệp nhà nước như
một động lực phát triển, nhưng phát triển doanh nghiệp nhà nước theo
cách của ông Dũng không hẳn chỉ để làm vừa lòng ông Đỗ Mười”. Cho phép
các tập đoàn kinh tế nhà nước kinh doanh đa ngành cũng như tháo khoán
các kênh đầu tư mà nguồn vốn cho khu vực này lại thường bắt đầu từ ngân
sách. Ông Phan Văn Khải giải thích: “Nguyễn Tấn Dũng muốn tạo ra một
thành tích nổi bật ngay trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình. Tấn Dũng muốn
hoàn thành kế hoạch 5 năm chỉ sau bốn năm. Ngay trong năm 2007, ông đầu
tư ồ ạt. Tiền đổ ra từ ngân sách, từ ngân hàng. Thậm chí, để có vốn lớn,
dự trữ quốc gia, dự trữ ngoại tệ cũng được đưa ra. Bội chi ngân sách
lớn, bất ổn vĩ mô bắt đầu”.
Theo
ông Trần Xuân Giá: “Thời Thủ tướng Phan Văn Khải, mỗi khi tổng đầu tư
lên tới trên 30% GDP là lập tức thủ tướng được báo động. Trước năm 2006,
năm có tổng đầu tư lớn nhất cũng chỉ đạt 36%. Trong khi, Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng, ngay sau khi nhận chức đã đưa tổng mức đầu tư lên 42%
và đạt tới 44% GDP trong năm 2007”. Cho tới lúc đó những ý kiến can gián
thủ tướng cũng chủ yếu xuất phát từ các thành viên cũ của Ban Nghiên
cứu như Trần Xuân Giá, Lê Đăng Doanh, Phạm Chi Lan. Nhưng tiếng nói của
họ không còn sức mạnh của một định chế sau khi Ban Nghiên cứu đã bị giải
tán. Cả ba sau đó còn nhận được các khuyến cáo một cách trực tiếp và
nhiều cơ quan báo chí trong nhiều tháng không phỏng vấn hoặc đăng bài
của những chuyên gia này.
Năm
2006, tăng trưởng tín dụng ở mức 21,4% nhưng con số này lên tới 51%
trong năm 2007(583). Kết quả là lạm phát cả năm ở mức 12,6%. Các doanh
nghiệp, các ngân hàng bắt đầu nhận ra những rủi ro, từng bước kiểm soát
vốn đầu tư vào chứng khoán và địa ốc. Nhưng đầu năm 2008, Chính phủ của
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dường như hoảng sợ khi lạm phát lên tới gần 3%
mỗi tháng và những “liệu pháp” được đưa ra sau đó đã khiến cho nền kinh
tế dồn dập chịu nhiều cú sốc.
Cuối
tháng 1-2008, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng thương mại phải
tăng dự trữ bắt buộc từ 10 lên 11%. Để có ngay một lượng tiền mặt lên
tới khoảng 20.000 tỷ đồng nhằm đáp ứng nhu cầu dự trữ, các ngân hàng
thương mại cổ phần buộc lòng phải tăng lãi suất huy động. Lãi suất qua
đêm thị trường liên ngân hàng mấy ngày cuối tháng 1-2008 tăng vọt lên
tới 27%, trong khi đầu tháng, con số này chỉ là 6,52%. Ngày 13-2-2008,
Ngân hàng Nhà nước lại ra quyết định, buộc các ngân hàng thương mại phải
mua một lượng tín phiếu trị giá 20.300 tỷ đồng. Áp lực tiền bạc đã làm
náo loạn các tổ chức tín dụng.
Thoạt
đầu, các tổng công ty nhà nước rút các khoản tiền đang cho vay lãi suất
thấp ở các ngân hàng quốc doanh, gửi sang ngân hàng cổ phần. Chỉ trong
ngày 18-2-2008, các tổng công ty nhà nước đã rút ra hơn 4.000 tỷ đồng.
Các ngân hàng quốc doanh, vốn vẫn dùng những nguồn tiền lãi suất thấp từ
Nhà nước đem cho các ngân hàng nhỏ vay lại, nay thiếu tiền đột ngột,
vội vàng ép các ngân hàng này. “Cơn khát” tiền toàn hệ thống đã đẩy lãi
suất thị trường liên ngân hàng có khi lên tới trên 40%.
Lãi
suất huy động tăng, đã khiến cho các ngân hàng phải tăng lãi suất cho
vay. Nhiều ngân hàng buộc khách hàng chấp nhận lãi suất lên tới 24 -
25%, cao hơn nhiều mức mà Luật Dân sự cho phép. Các doanh nghiệp cũng
“khát” tiền mặt, tình trạng bán hàng dưới giá, hoặc vay với lãi suất cao
đang khiến cho chi phí sản xuất tăng đột biến. Không có gì ngạc nhiên
khi lạm phát ba tháng đầu năm 2008 lên tới 9,19%. Các biện pháp của Ngân
hàng Nhà nước nói là chống lạm phát, nhưng đã trực tiếp làm “mất giá”
đồng tiền khi đặt các ngân hàng trong tình thế phải nâng lãi suất.
Ngày
25-3-2008, Ngân hàng Nhà nước lại khiến cho tình trạng khan hiếm tiền
mặt thêm nghiêm trọng khi yêu cầu thu về 52.000 tỷ đồng của ngân sách
đang được đem cho các ngân hàng quốc doanh vay với lãi suất 3%/năm, thấp
hơn nhiều so với lãi suất trên thị trường tín dụng. Khoản tiền này theo
nguyên tắc phải được chuyển vào Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, từ mười
năm trước, theo “sáng kiến” của Bộ Tài chính, nó đã được đem cho các
ngân hàng quốc doanh vay. Một mặt, nó tạo ra sự bất bình đẳng trong môi
trường kinh doanh, một mặt làm cho nền kinh tế lập tức rơi vào khủng
hoảng do tín dụng bị cắt đột ngột và những khoản vay còn lại thì phải
chịu lãi suất cao.
Thị
trường chứng khoán nhanh chóng hiển thị “sức khỏe” của nền kinh tế. Từ
mức trên 1000, ngày 6-3-2008, chỉ số VN-index xuống còn 611. Cho dù Phó
Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cố dùng uy tín chính trị của mình để cứu vãn
bằng cách tuyên bố rằng đầu tư vào chứng khoán bây giờ là thắng vì đã
xuống đến đáy nhưng chỉ hai mươi ngày sau, 25-3- 2008, chỉ số VN-index
chỉ còn 492 điểm. Ngày 5-12-2008, VN-index chỉ còn 299 điểm. Xuất khẩu
quý 1-2008 vẫn tăng 23,7%; nhập khẩu tăng 60,7%. Tại Sài Gòn, kinh tế
vẫn tăng trưởng khá, ngân sách quý I vẫn thu tăng 72,6%. Nhưng các biện
pháp chống lạm phát đã làm cho Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng
tài chánh hơn nửa năm trước khi khủng hoảng kinh tế thế giới bắt đầu.
Từ
cuối năm 2008, khuynh hướng quay trở lại nền kinh tế chỉ huy càng tăng
lên cho dù điều này là vô vọng vì ở giai đoạn này, đóng góp của khu vực
tư nhân cho nền kinh tế đã vượt qua con số 50% GDP của Việt Nam. Dù vậy,
Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng vẫn liên tục ban hành các mệnh lệnh hành
chánh hòng kiểm soát trần lãi xuất, kiểm soát thị trường ngoại tệ, thị
trường vàng(584).
Khi
ông Đỗ Mười nhận chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, để có ngoại tệ,
Chính phủ phải cho một nhà đầu tư của Nhật thuê khu nhà khách ven hồ
Thiền Quang. Khi ông Nguyễn Tấn Dũng nhận chức thủ tướng, Việt Nam có
một khoản dự trữ ngoại tệ lên tới 23 tỷ đôla. Nhưng, di sản lớn hơn mà
Thủ tướng Phan Văn Khải trao lại cho ông Dũng là một Việt Nam đã hoàn
thành thủ tục để gia nhập WTO. Trong khoảng thời gian 1996-2000, cho dù
chịu mấy năm khủng hoảng kinh tế thế giới, Việt Nam vẫn đạt mức tăng
trưởng 7,5% trong khi lạm phát chỉ là 3,5%. Trong khoảng thời gian
2001-2005, lạm phát có cao hơn, 5,1%, nhưng tăng trưởng vẫn dương: 7%.
Chỉ
sau mấy tháng nhận chức, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đưa GDP tăng
trưởng tới mức kỷ lục: 8,5% vào tháng 12-2007; đồng thời cũng đã đưa lạm
phát vào tháng 8-2008 lên tới 28,2%. Tháng 3-2009, tăng trưởng GDP rơi
xuống đáy: 3,1%. Trong sáu năm ông Nguyễn Tấn Dũng giữ chứ Thủ tướng,
mức tăng trưởng kinh tế luôn thấp hơn rất nhiều so với mức lạm phát. Năm
2007 GDP tăng trưởng ở mức 8,48% trong khi lạm phát lên tới 12,63%. Năm
2008 mức tăng trưởng giảm xuống 6,18% trong khi lạm phát là 19,89%. Năm
2009 GDP chỉ tăng 5,32% lạm phát xuống còn 6,52% do các nguồn đầu tư bị
cắt đột ngột. Năm 2010 GDP tăng đạt mức 6,78% nhưng lạm phát tăng lên
11,75%. Năm 2011 tăng trưởng GDP giảm còn 5,89% trong khi lạm phát lên
tới 18,13%. Năm 2012, nền kinh tế gần như ngưng trệ, lạm phát ở mức
6,81% nhưng GDP cũng xuống tới 5,03% thấp kỷ lục kể từ năm 1999(585).
Nền kinh tế rơi vào tình trạng gần như không lối thoát.
Nông Đức Mạnh
Ông
Nguyễn Tấn Dũng giữ chức thủ tướng sau Đại hội Đảng lần thứ X, một đại
hội mà ông Nông Đức Mạnh cảm nhận được áp lực thông qua vụ án PMU 18.
PMU 18 là một cơ quan quản lý các dự án giao thông sử dụng các nguồn vốn
ODA lên tới gần hai tỷ USD. Thoạt đầu, gần như tình cờ, cảnh sát bắt
được một vụ đánh bạc từ đó thu giữ một máy tính có chứa các dữ liệu cho
thấy, Bùi Tiến Dũng, tổng giám đốc PMU 18 đã từng đánh bạc, cá độ với số
tiền lên tới 1,8 triệu USD.
Nếu
như vụ án “Năm Cam” hồi năm 2003 ảnh hưởng tới chính trị bởi cách triển
khai mang tính anh hùng cá nhân thì vụ PMU 18 đã mang một màu sắc mới.
Lực lượng công an biết sử dụng công cụ “làm án” của họ và các nhà chính
trị cũng không còn để bị động. Kịch tính của vụ án PMU 18 được đẩy lên
cao khi cơ quan điều tra cố tình rò rỉ các thông tin về sự dính líu của
Thứ trưởng Bộ Giao thông Nguyễn Việt Tiến và những tin nhắn tình nghi
chạy án liên quan đến Thiếu tướng Cao Ngọc Oánh, tổng cục phó Tổng cục
Cảnh sát.
Cả
ông Tiến và ông Oánh đều là những người được Hội nghị Trung ương 13 đưa
vào danh sách đề cử bầu Ban Chấp hành Trung ương. Đặc biệt, ông Nguyễn
Việt Tiến đích thân được Tổng bí thư Nông Đức Mạnh giới thiệu. Cái gọi
là “đường dây chạy án” được đồn đãi lúc đó còn nhắc tới Đặng Hoàng Hải,
con rể Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đang làm chánh văn phòng cho Bùi Tiến
Dũng. Ngày 14-4-2006, tức là chỉ chưa đầy hai tuần trước khi khai mạc
Đại hội Đảng lần thứ X, ông Nguyễn Việt Tiến bị bắt.
Ngoài
hai ứng cử viên bị lỡ cơ hội vào Trung ương, Đại hội vẫn diễn ra như dự
kiến, ông Nông Đức Mạnh vẫn được giữ ngồi lại ghế Tổng bí thư nhưng vụ
PMU 18 đã ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần của ông. Nhiều tháng sau Đại
hội, ông Mạnh gần như không ra khỏi khu Nguyễn Cảnh Chân. Các cáo buộc
về ông Nguyễn Việt Tiến và ông Cao Ngọc Oánh hoá ra là bịa đặt. Các
phóng viên trong một cuộc cạnh tranh khốc liệt đã đăng bất cứ thông tin
gì được mớm từ cơ quan điều tra bắt đầu phải đối diện với một cuộc điều
tra mới dưới sự chỉ đạo của tướng An ninh Nguyễn Văn Hưởng.
Quyền
bính bắt đầu vận hành theo một sắc thái mới. Lần đầu tiên trong nền
chính trị Hà Nội, mối quan hệ giữa Thủ tướng và công an thực sự có ảnh
hưởng qua lại. Ngoài Bộ trưởng Lê Hồng Anh xuất thân từ Kiên Giang, bên
cạnh Thủ tướng luôn là tướng An ninh Nguyễn Văn Hưởng.
Trong
suốt gần hai năm sau đại hội, hơn hai mươi lăm phóng viên của gần như
đủ các tờ báo quan trọng nhất bị điều tra. Ngày 12-5-2008, Nguyễn Văn
Hải, phóng viên báo Tuổi Trẻ và Nguyễn Việt Chiến, phóng báo
Thanh Niên, bị bắt. Cùng với một cộng sự khác, tướng Nguyễn Xuân Quắc,
cục trưởng Cục Cảnh sát Hình sự, người ra lệnh bắt ông Nguyễn Việt Tiến
đã bị chính ông Nguyễn Tấn Dũng, ngay sau khi nhận chức Thủ tướng, ký
quyết định cho nghỉ hưu khi vẫn còn dở dang công việc của một trưởng ban
chuyên án. Ông Quắc sau đó còn bị khởi tố.
Sau
khi hai nhà báo phải lãnh án tù giam, theo yêu cầu của công an, Bộ
Thông tin rút thẻ bốn nhà báo chủ chốt của hai tờ Thanh Niên, Tuổi Trẻ. Tổng Biên tập Tuổi Trẻ,
ông Lê Hoàng, và Tổng Biên tập Thanh Niên, ông Nguyễn Công Khế, bị mất
chức. Báo chí trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông Nguyễn Tấn Dũng gần như
không còn nhuệ khí để phản biện các chính sách và đề cập đến các thông
tin liên quan đến tham nhũng. Trong khi đó, người đứng đầu bên Đảng là
Nông Đức Mạnh lại thể hiện rất giới hạn quyền lực Tổng bí thư.
Về
sau, ông Phan Văn Khải cũng đã nuối tiếc khi ủng hộ ông Nông Đức Mạnh
làm Tổng bí thư. Ông Khải nói: “Ông Mạnh trình độ yếu lại thiếu bản lĩnh
nên gần như không có tác dụng gì. Khi ông Lê Khả Phiêu làm Tổng bí thư,
nếu điều gì đã thống nhất với tôi thì cho dù ra Bộ Chính trị có ý kiến
khác ông vẫn bảo vệ nhưng ông Mạnh thì không. Gật gù với nhau nhưng khi
thảo luận thấy có vài ý kiến hơi khác là ông im lặng”. Theo ông Lê Khả
Phiêu: “Sau Đại hội VIII khi anh Đỗ Mười giao cho tôi chuẩn bị nhân sự
Bộ Chính trị và Thường vụ để bàn trước với các anh Lê Đức Anh và Võ Văn
Kiệt. Nông Đức Mạnh gặp tôi nói: em biết thân phận em rồi, người dân tộc
chỉ có thể làm đến thế”(586).
Từ
một người vô danh trên chính trường bỗng chốc được đặt vào ghế chủ tịch
Quốc hội, ngay từ khi đó, Nông Đức Mạnh đã trở thành tâm điểm của những
lời đồn đoán. Cha ông là Nông Văn Lại, mẹ ông là Hoàng Thị Nhị. Nhưng
họ Nông của ông khiến nhiều người liên tưởng tới một người phụ nữ từng
gặp gỡ Hồ Chí Minh, bà Nông Thị Trưng. Nhiều người còn cho rằng tuổi
thật của ông là sinh năm 1942, một năm sau khi Hồ Chí Minh trở về hang
Pac Bó, chứ không phải năm 1940, như ghi trong hồ sơ. Lại còn có giai
thoại, năm 1965, khi ông đang là công nhân lâm trường, đích thân Đại
tướng Võ Nguyễn Giáp lên gọi về đưa sang Liên Xô học(587).
Tại
kỳ họp thứ tư của Quốc hội khoá IX, tháng 7-1994, trong giờ giải lao,
phóng viên Huỳnh Ngọc Chênh của báo Thanh Niên phỏng vấn: “Thưa, Chủ
tịch có phải con của Bác Hồ?”. Ông Nông Đức Mạnh lúng túng mấy giây rồi
trả lời: “Người Việt Nam ta ai cũng là con cháu Bác Hồ cả”. Cho dù sau
đó, ông Mạnh rất tức giận(588) nhưng đấy là câu trả thông minh nhất
trong suốt cuộc đời làm chính trị của ông. Từ đó cho đến khi làm Tổng bí
thư, ông Mạnh trở thành một người lúc nào cũng “mày râu nhẵn nhụi, áo
quần bảnh bao” nhưng ăn nói nhạt nhẽo và có rất ít quyền lực. Ông xuất
hiện trên truyền hình ở nhiều địa phương khác nhau với gần như chỉ có
một câu nói: “Các đồng chí phải tìm ra thế mạnh của địa phương là nên
trồng cây gì và nuôi con gì”.
Người
lập hồ sơ để đưa ông Mạnh vào Trung ương, ông Nguyễn Đình Hương, nhận
xét: “Tôi cảm thấy rất xấu hổ vì Đảng ta có một Tổng bí thư như vậy,
Nông Đức Mạnh chỉ có trình độ ở tầm cán bộ cấp huyện”. Theo ông Phan Văn
Khải: “Nhiều lần, đặc biệt là trước Đại hội Đảng lần thứ X, mấy ông cựu
cố vấn đề nghị ông nghỉ nhưng ông Mạnh không chịu. Nhân sự thay thế
cũng chưa rõ ràng nên các ông ấy cũng không kiên quyết”.
“Phương án” Nguyễn Văn An
Cố
vấn Võ Văn Kiệt biết, cách làm nhân sự truyền thống sẽ không thể nào
đưa một lãnh đạo trì trệ như Nông Đức Mạnh ra khỏi vị trí của mình. Ngày
11-1-2005, ông Kiệt viết thư đề nghị để: “Đại hội đại biểu toàn quốc
bầu trực tiếp chức danh Tổng bí thư… Áp dụng triệt để nguyên tắc tự do
ứng cử, tự do đề cử… Người được bầu phải là người có năng lực và phẩm
chất, không phân biệt tuổi tác, không theo cơ cấu vùng miền, không theo
danh sách đã quy hoạch, không phân biệt giữa người ứng cử và người được
để cử”. Ông cũng đề nghị: “Đại hội X nên bầu ra đoàn chủ tịch gồm những
đại biểu ưu tú thực sự có năng lực điều hành công việc của đại hội”,
thay vì theo truyền thống, đại hội vẫn do Bộ Chính trị cũ điều hành.
Tổng
bí thư Nông Đức Mạnh đã không cho lưu hành bức thư này trong Trung
ương. Ông Kiệt, lúc ấy đang ở biệt thự Hồ Tây, cho Thư ký Nguyễn Văn
Trịnh “xé rào”, phát hành tận tay nhiều uỷ viên Trung ương. Trong thư đề
ngày 21-1-2005 gửi Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, ông Kiệt giải thích: “Tôi
thấy không còn cách nào khác, vạn bất đắc dĩ tôi phải tự gửi trực tiếp
thư của mình đến các đồng chí Trung ương uỷ viên và một số đồng chí bí
thư tỉnh uỷ dự Hội nghị Trung ương 11”. Bộ Chính trị yêu cầu ai đã nhận
bức thư của ông Võ Văn Kiệt thì gửi lại Văn phòng. Uỷ viên Thường trực
Bộ Chính trị Phan Diễn nói trước Hội nghị Trung ương 11 rằng đó là những
tài liệu “không phát hành theo con đường của Đảng” và giải thích với
ông Kiệt, sở dĩ cho “thu hồi” bức thư ấy là vì: “Nhận thấy một số nội
dung trong thư góp ý của anh nếu để lọt ra ngoài thì sẽ không có lợi, dễ
bị lợi dụng, xuyên tạc”(589).
Trung
tuần tháng 4-2006, khi các đại biểu dự Đại hội X bắt đầu được triệu tập
về Thủ đô, ông Võ Văn Kiệt lại bay ra Hà Nội. Từ khu biệt thự Hồ Tây,
ông Võ Văn Kiệt nhờ Giáo sư Tương Lai đến gặp Chủ tịch Quốc hội Nguyễn
Văn An, chuyển lời: “Nếu như trong đại hội có người đề nghị giữ anh lại,
có người đề cử anh làm Tổng bí thư thì anh đừng từ chối”. Tiếp đó, Giáo
sư Tương Lai lại được cử đi “ăn tối” với ông Nguyễn Thiện Nhân, phó chủ
tịch Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Cuối bữa cơm, Giáo sư Tương
Lai nói riêng với ông Nhân: “Anh Sáu Dân nhờ tôi nói với anh, làm sao
để Đoàn Thành phố đề xuất anh Nguyễn Văn An ở lại”. Ông Nguyễn Thiện
Nhân nhận lời.
Ông
Nguyễn Văn An đã từng là trưởng Ban Tổ chức Trung ương từ khoá VIII,
biết rõ mọi việc đã được hội nghị trung ương an bài. Ông An nói với Giáo
sư Tương Lai: “Anh về nói với anh Sáu Dân, tôi hết sức cám ơn anh ấy đã
tin tôi. Nhưng, đây là quyết định của tổ chức, tôi không làm trái
được”. Ông Nguyễn Văn An thừa nhận: “Lúc ấy tôi cũng suy nghĩ, cũng có
khá đông anh em muốn tôi ở lại, nhưng số đông ấy chưa đủ đông”.
Năm
1954, khi Chính phủ Hồ Chí Minh tiếp quản Thủ đô, ông Nguyễn Văn An
đang là công nhân nhà máy Điện Hà Nội. Năm 1961, ông được đưa đi học văn
hoá hai năm rồi sang Liên Xô, học điện ở trường Đại học Bách khoa
Donetsk. Ông An thừa nhận, người đồng hương Trần Xuân Bách đã đóng một
vai trò quan trọng trong sự nghiệp chính trị của mình: Năm 1972, tỉnh uỷ
viên dự khuyết, phó giám đốc công ty kỹ thuật Điện Nam Hà; năm 1980,
chủ tịch tỉnh mới Hà Nam Ninh(590); năm 1982, uỷ viên dự khuyết Trung
ương Đảng.
Năm
1996, ông An năm mươi chín tuổi nói với lãnh đạo Ban Tổ chức là ông xin
nghỉ. Theo ông An: “Lãnh đạo Ban biểu quyết nhất trí 100% nhưng Ban
Chấp hành Trung ương vẫn giữ tôi ở lại”. Ở Đại hội VIII, ông được bầu
vào Bộ Chính trị, trong khi người dự kiến làm trưởng ban là ông Lê Huy
Ngọ thì không, ông An trở thành trưởng Ban Tổ chức. Cuối năm 1997, trước
khi rời khỏi chức vụ Tổng bí thư, ông Đỗ Mười đưa một danh sách bốn
người ra thăm dò nhân sự thay thế mình, ông Lê Khả Phiêu được cao phiếu
nhất, Nông Đức Mạnh chỉ được một phiếu, người về nhì là ông Nguyễn Văn
An, dù ông An không nằm trong bốn người được ông Đỗ Mười đề cử. Sự xuất
hiện quá sớm đã khiến cho ông An thêm thận trọng.
Ông
Nguyễn Văn An thường tìm cớ vắng mặt trong các phiên họp mà Bộ Chính
trị bàn nhân sự có liên quan đến mình: trước Đại hội IX thì lấy cớ về
nuôi mẹ bệnh(591); trước Đại hội X, ông công du các nước châu Mỹ Latin.
Có mặt trong những phiên họp như vậy, nếu được giới thiệu mà từ chối thì
không thật lòng, không từ chối thì dễ trở thành mục tiêu của các đợt
tấn công chính trị. Ông An biết, sau một nhiệm kỳ trên cương vị trưởng
Ban Tổ chức Trung ương, ơn huệ cũng lắm mà oán thán cũng nhiều(592).
Ông
Nguyễn Văn An cho rằng: “Ông Kiệt quan tâm đến vấn đề cán bộ và nhận
thức về tôi cũng chậm. Ông Kiệt là một người rất khéo dùng người cho
những công trình lớn nhưng ông thường quan tâm đến chính sách, đường lối
chứ ít quan tâm đến công tác cán bộ. Ông Kiệt không nâng đỡ những người
thân quen, không co cụm trong lợi ích riêng. Có lúc tôi phải nói: anh
phải lo nhân sự, chứ chỉ chăm lo đường lối thì lấy ai làm”. Theo ông
Nguyễn Văn An: “Công tác nhân sự rất phức tạp, chuẩn bị sai thì hỏng,
chuẩn bị đúng mà không đúng lúc cũng không thành. Đảng ta sai lầm về cán
bộ rất nhiều. Ngay từ Đại hội VI, chọn ông Nguyễn Văn Linh đã không
đúng. Ông ấy không phải là người đổi mới. Ông Linh chọn ông Đỗ Mười cũng
không đúng. Ông Mười chọn Lê Khả Phiêu cũng không đúng. Đến khi chọn
Nông Đức Mạnh thì sai”.
Về
sau, ông Nguyễn Văn An nhận ra vấn đề của Đảng Cộng sản Việt Nam là
“lỗi hệ thống”. Nếu như năm 2001, ông không tán thành tranh cử trong
Đảng(593) thì năm 2010, ông công khai đề nghị trên báo Vietnamnet: “Công
nhận sở hữu tư nhân, bãi bỏ chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; bãi bỏ
chế độ ‘đảng chủ’, áp dụng tam quyền phân lập; thực hiện dân chủ theo
nguyên tắc phải có tranh cử, phải công khai minh bạch”. Nhưng, hệ thống
chính trị mà ông đã cả đời phục vụ nhanh chóng dập tắt sự lan toả của đề
nghị này(594). Đại hội XI vẫn diễn ra theo đúng truyền thống: bộ máy cũ
sản sinh ra chính nó.
Sở hữu toàn dân
Chiều
18-1-2011, với số phiếu biểu quyết 61,70%, Đại hội lần thứ XI Đảng Cộng
sản Việt Nam đã chọn định nghĩa đặc trưng của chủ nghĩa xã hội là “có
nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại với quan
hệ sản xuất tiến bộ phù hợp” thay vì theo định nghĩa cũ trong “Cương
lĩnh 1991” là phải “có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản
xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là chủ yếu”.
Tuy
nhiên, người thuộc về thiểu số bảo vệ chế độ công hữu về tư liệu sản
xuất, ông Nguyễn Phú Trọng, đã trở thành Tổng bí thư chứ không phải là
một nhân vật thuộc số đông ủng hộ “quan hệ sản xuất tiến bộ và phù
hợp”(595).
Công
hữu là đặc trưng quan trọng nhất của chủ nghĩa xã hội, nó được xác lập
trong Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản viết năm 1848. Mở đầu Tuyên ngôn, các giả
của nó, Friedrich Engels và Karl Marx, tuyên bố rằng: “Sự sụp đổ của
giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu”. “mươi
phương pháp nhằm xoá bỏ chủ nghĩa tư bản và xây dựng chủ nghĩa cộng sản”
mà Marx và Engels kêu gọi gồm: “Tước đoạt sở hữu ruộng đất và trao nộp
tô vào quỹ chi tiêu của nhà nước; áp dụng thuế luỹ tiến cao; xoá bỏ
quyền thừa kế; tịch thu tài sản của tất cả những kẻ lưu vong và của tất
cả những kẻ phiến loạn; tập trung tín dụng vào tay nhà nước thông qua
một ngân hàng quốc gia với tư bản của nhà nước và ngân hàng này sẽ nắm
độc quyền hoàn toàn; tập trung tất cả các phương tiện vận tải vào trong
tay nhà nước; tăng thêm số công xưởng nhà nước và công cụ sản xuất…”.
Trong
“tám đặc trưng”(596) của chủ nghĩa xã hội mà cương lĩnh của Đảng xác
định cho đến trước Đại hội XI, chỉ có “đặc trưng thứ ba”, về mặt lý
thuyết, là còn mang dấu hiệu của chủ nghĩa xã hội kinh điển. Nhưng hai
uỷ viên Trung ương sắp sửa về hưu, Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư Võ Hồng
Phúc và cựu Thống đốc Ngân hàng Lê Đức Thuý, chiều 13-1-2011, khi yêu
cầu sửa đổi “đặc trưng” này đã không thể nói thẳng ra rằng, các đặc
trưng mà văn kiện Đảng đề cập không hề mang dáng dấp của cái gọi là định
hướng xã hội chủ nghĩa mà Marx và Engels đã nói. Cuộc biểu quyết bằng
phiếu kín hôm 18- 1-2011 chỉ có ý nghĩa như một hành động cách mạng khi
các nhà lãnh đạo mới khai thác “chữ nghĩa” trong văn kiện Đảng.
Chiều
18-1-2011, khi điều khiển phiên họp toàn thể của Đại hội Đảng lần thứ
XI biểu quyết lựa chọn giữa “chế độ công hữu về tư liệu sản xuất” và
“quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”, ông Nguyễn Phú Trọng hứa với Đại hội
“thiểu số sẽ phục tùng đa số”. Nhưng, tháng 5-2012, Ban Chấp hành Trung
ương mà ông Nguyễn Phú Trọng là Tổng bí thư vẫn quyết định duy trì “chế
độ công hữu” với đất đai, “tư liệu sản xuất” quan trọng nhất(597).
Hiến
pháp 1959 vẫn chưa “quốc hữu hoá đất đai” như Hiến pháp 1936 của Liên
Xô mà nó được coi là một bản sao. Cho dù, từ thập niên 1960 ở miền Bắc
và từ cuối thập niên 1970 ở miền Nam, ruộng đất của nông dân đã bị buộc
phải đưa vào tập đoàn, hợp tác xã, đất đai chỉ chính thức thuộc về “sở
hữu toàn dân” kể từ Hiến pháp 1980.
Bộ
trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc(598) nói: “Trong Dự thảo Hiến pháp 1980
do Chủ tịch Trường Chinh trình Bộ Chính trị vẫn duy trì đa hình thức sở
hữu đối với đất đai, trên cơ sở khuyến khích năm thành phần kinh tế.
Nhưng Hiến pháp 1980 là Hiến pháp Lê Duẩn. Tổng bí thư Lê Duẩn quan
niệm: Đối với những nước lạc hậu phải dùng quan hệ sản xuất tiên tiến để
kéo lực lượng sản xuất lên. Công hữu khi ấy được coi là quan hệ sản
xuất tiên tiến. Đặc biệt, năm 1980 Lê Duẩn lại đang say sưa với làm chủ
tập thể”. Ông Tôn Gia Huyên, năm 1980 là Vụ phó Vụ Quản lý đất đai, bổ
sung: “Ý kiến của Bộ Nông nghiệp và của Vụ chúng tôi là vẫn giữ ba hình
thức sở hữu: sở hữu toàn dân (nhà nước), sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân.
Biên bản ghi rõ thế. Nhưng về sau tôi biết, đêm trước khi bỏ phiếu, Bộ
Chính trị quyết định chỉ giữ một hình thức: sở hữu toàn dân”.
Từ
ngày 4 đến ngày 10-9-1980, Ban Chấp hành Trung ương Đảng “họp hội nghị
toàn thể để xem xét bản Dự thảo Hiến pháp”. Trong phiên bế mạc, Tổng bí
thư Lê Duẩn có bài nói chuyện với tựa đề: “Hiến pháp mới, Hiến pháp của
chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa”. Sau khi điểm lại những “công
lao to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam”, phân tích mối quan hệ giữa “tư
tưởng làm chủ tập thể” với chủ nghĩa Marx - Lenin, Tổng bí thư Lê Duẩn
tuyên bố: “Làm chủ tập thể là tinh thần cơ bản, là nội dung nhất quán
của Hiến pháp mới… Nhân đây, tôi nhấn mạnh một điểm rất quan trọng trong
Dự thảo Hiến pháp mới là chuyển toàn bộ đất đai thành sở hữu toàn
dân”(599).
Sau
chiến thắng 1975, theo ông Nguyễn Đình Lộc: “Ông Lê Duẩn coi mình là
trung tâm của lý luận và những người còn lại thì không ai phản đối”. Tuy
Hiến pháp 1980 quốc hữu hoá đất đai nhưng theo ông Tôn Gia Huyên: “Ông
Trường Chinh chủ trương giữ nguyên hiện trạng chứ không tịch thu ruộng
đất như điều mà Lenin đã làm với kulak ở Nga sau năm 1917. Ông yêu cầu
ghi vào Điều 20 của Hiến pháp 1980: Những tập thể và cá nhân đang sử
dụng đất đai được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình
theo quy định của pháp luật”.
Người
có vai trò quyết định trong tiến trình sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là
Tổng bí thư Đỗ Mười thì theo Trưởng Ban Biên tập Hiến pháp 1992 Nguyễn
Đình Lộc, “bị hạn chế trong tư tưởng của Lê Duẩn”. Theo ông Lộc: “Tổng
bí thư Lê Duẩn coi quốc hữu hoá đất đai là một tiến bộ của chủ nghĩa xã
hội. Trong tình hình Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa xã hội là rất thiêng
liêng. Khi chuẩn bị bài phát biểu về Hiến pháp cho Tổng bí thư Đỗ Mười,
tôi có trình bày, nhưng ông Đỗ Mười nghiêng về sở hữu toàn dân. Ông lập
luận, trước sau gì cũng tới đó nên cứ để vậy. Khi ấy, không ai có đủ
dũng cảm đứng lên đòi bỏ sở hữu toàn dân, vì đó là một vấn đề nhạy cảm”.
Theo
ông Phan Văn Khải: “Thủ tướng Võ Văn Kiệt và tôi muốn sửa Hiến pháp
theo hướng trao quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân nhưng không thành
công, chúng tôi đành phải tìm ra khái niệm 5 quyền cho người sử dụng
đất”. “5 quyền” mà ông Phan Văn Khải đề cập trên đây được ghi trong Luật
Đất đai 1993 là một bước tiến so với những gì xác lập trong Chiến lược
Phát triển kinh tế - xã hội mà Đại hội VII thông qua hồi tháng
6-1991(600). Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn, trưởng Ban Soạn thảo Luật
Đất đai 1993, nói: “Tôi biết trong bụng một số ông muốn cho người dân
quyền tư hữu đất đai, nhưng đã vào Bộ Chính trị là không còn ông nào dám
đưa ra chính kiến. Ông Kiệt, ông Khải muốn cho tư nhân sở hữu đất đai
mà không dám nói. Tôi cũng muốn cho tư nhân sở hữu đất đai và tuy chỉ là
Trung ương uỷ viên, tôi cũng không dám nói”.
Quan
hệ ruộng đất thực hiện theo “các chính sách của nhà nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam” đã làm kiệt quệ đời sống nông dân. Chỉ thị 100,
ban hành năm 1981, từng được coi là một bước tiến trong nông nghiệp.
Nhưng, theo chính sách này ruộng đất vẫn nằm trong tay hợp tác xã, trên
vai người nông dân vẫn phải mang gánh nặng của bộ máy quan liêu. Tham ô,
lãng phí trong các hợp tác xã đã lấy hết phần lớn sản phẩm của người
nông dân(601). Năm 1987, phần vì thiên tai, phần chủ yếu do chính sách
đất đai, sản lượng lương thực giảm gần một triệu tấn, từ tháng 3-1987
nhiều địa phương bắt đầu bị đói.
Đầu
năm 1988, nạn đói lan ra ở hai mươi mốt tỉnh, thành miền Bắc với hơn
9,3 triệu người thiếu ăn, trong đó có 3,6 triệu người “đứt bữa và đói
gay gắt”. Quốc hội nhận được báo cáo: “Có nơi, xuất hiện người chết
đói”. Theo nhà báo Thái Duy: “Gần như cả nước thiếu ăn, một vài tỉnh
mang dáng dấp của nạn đói năm Ất Dậu (1945). Người ăn xin đổ về Hà Nội
đông khác thường, không riêng lẻ như trước mà đi từng gia đình. Ở quê
không có gì ăn cả”(602). Cuộc sống và phản ứng của người dân đã làm thay
đổi tư duy của một số nhà lãnh đạo và buộc Đảng phải thay đổi một phần
chính sách trong đó có chính sách khoán trong nông nghiệp mà về sau gọi
là “Khoán 10” hoặc “Nghị quyết 10”(603).
Sau
khi thừa nhận những chính sách trước đó, kể cả Chỉ thị 100, đã không
khắc phục được tình trạng “tự cấp, tự túc, chia cắt và độc canh”, Nghị
quyết 10 đã cho các hộ cá thể, tư nhân nhận “khoán đất ruộng, đất rừng
và mặt nước để họ tổ chức sản xuất, kinh doanh”(604), đặc biệt, nông dân
còn “được giao quyền thừa kế” đất khoán này cho con cái, và trong
trường hợp chuyển sang làm nghề khác được phép “chuyển nhượng quyền tiếp
tục sử dụng cho chủ khác”. Cùng với quyết định bãi bỏ chính sách “ngăn
sông, cấm chợ”(605), chỉ đơn giản là giao ruộng đất cho dân, Nghị quyết
10 đã tạo ra một cuộc cách mạng thật sự trong sản xuất nông nghiệp.
Tháng
3-1988, nạn đói vẫn đang hoành hành ở hai mươi mốt tỉnh thành. Tháng
7-1989, đã có 516.000 tấn gạo được đưa lên tàu xuất khẩu. Cả năm 1989,
Việt Nam xuất khẩu gạo lên tới 1,4 triệu tấn. Người nông dân ngay sau đó
đã “suy nghĩ trên luống cày” của mình và họ đã “đồng khởi” lần thứ hai
để đòi lại đất đai trước đó bị ép đưa vào tập đoàn, hợp tác. Ông Nguyễn
Văn Linh, cho dù gặp không ít khó khăn chính trị, đã chấp nhận để nông
dân mang ruộng đất của mình ra khỏi các tập đoàn, hợp tác xã(606). Bằng
quyết định này, ông Nguyễn Văn Linh đã thêm một lần ra tay “cởi trói”,
lần này là đối với nông dân.
Thế
nhưng, những lợi ích to lớn mà quốc gia được hưởng nhờ ruộng đất được
giao cho nông dân này đã không làm lung lay ý chí “sở hữu toàn dân” của
các nhà lãnh đạo, kể cả Nguyễn Văn Linh. Trong Cương lĩnh mà Đại hội
Đảng lần thứ VII (6-1991) thông qua (soạn thảo khi Nguyễn Văn Linh còn
là Tổng bí thư) vẫn coi đất đai thuộc sở hữu toàn dân.
Trước
khi Dự thảo Luật Đất đai 1993 được đưa ra thảo luận, ngày 14-4-1993,
ông Đào Duy Tùng thay mặt Ban Bí thư ký Chỉ thị số 18, yêu cầu “lãnh đạo
lấy ý kiến nhân dân đối với dự án Luật đất đai”. Theo đó, phải “làm cho
nhân dân, cán bộ, đảng viên nắm được những quan điểm cơ bản: toàn bộ
đất đai đều thuộc sở hữu toàn dân”. Đào Duy Tùng yêu cầu: “Đảng đoàn
Quốc hội phối hợp với Ban Cán sự đảng Chính phủ, đảng đoàn Mặt trận Tổ
quốc, Hội Nông dân, các đoàn thể nhân dân khác” phải “theo dõi sát sao
quá trình thảo luận trong phạm vi cả nước, kịp thời giải thích, uốn nắn
những tư tưởng và việc làm lệch lạc”(607). Cũng như thời làm Hiến pháp
1980, một chính sách liên quan đến toàn dân mà một tập thể nhỏ (Bộ Chính
trị, Ban Bí thư) đã quyết định trước khi nhân dân được biết.
Luật
Đất đai 1993 tuy trao cho người sử dụng đất 5 quyền (sử dụng, chuyển
nhượng, thừa kế, thế chấp và cho thuê) đã có một bước lùi khi đặt ra mức
hạn điền và, thay vì “giao đất ổn định lâu dài” theo Điều 18 của Hiến
pháp, Luật đã quy định thời hạn đối với người sử dụng đất.
Theo
ông Tôn Gia Huyên, hạn điền và thời hạn giao đất là đặc trưng, là ranh
giới cuối cùng để phân biệt giữa sở hữu tư nhân và sở hữu toàn dân.
Nhưng, các chuyên gia luật cho rằng, đây là trao quyền sở hữu một cách
trá hình. Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc thừa nhận: “Vì không muốn
xáo trộn chính trị mà phải vi phạm tính pháp lý”.
Hiến
pháp 1992 chỉ giao cho người sử dụng đất “3 quyền”. Thế nhưng, theo ông
Tôn Gia Huyên: “Ông Đỗ Mười vẫn cho là mở quá đà. Có những vấn đề Quốc
hội định biểu quyết, thậm chí biểu quyết rồi, ông Mười cũng chặn lại. Cứ
giờ giải lao là ông Đỗ Mười lại chạy vào phòng Chủ tịch Đoàn có ý
kiến”. Điển hình là việc xét lại kết quả cuộc biểu quyết ngày 6-4-1992.
Năm
giờ chiều ngày 6-4-1992, khi Ban Soạn thảo đưa “quyền thừa kế” ra “xin ý
kiến Quốc hội”, có 318/422 đại biểu biểu quyết đồng ý. Nhưng ngay sau
đó, Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo cho rằng, đây là vấn đề quan trọng,
cần phải thận trọng, xin Quốc hội để lại chỉnh lý. Đại biểu Trần Thị
Sửu, Long An, nói: “Tôi có cảm giác ai đứng sau lưng giật dây Quốc hội”.
Câu hỏi của bà Sửu đã làm cho ông Lê Quang Đạo, lần đầu tiên, mất bình
tĩnh. Ông gần như đập mạnh tay xuống bàn: “Ai! Ai đứng sau lưng giật dây
Quốc hội! Đây là một vấn đề phức tạp phải cân nhắc chứ không phải ai
cả!”(608). Tối 6-4-1992, Đảng đoàn Quốc hội nhóm họp quyết định sẽ đưa
“quyền thừa kế của người sử dụng đất” ra bàn lại. Nhiều đại biểu cho
rằng “biểu quyết lại là vô nguyên tắc”(609).
Tất
nhiên, ông Lê Quang Đạo đã phát biểu với tư cách một uỷ viên Trung
ương. Cũng như Chủ tịch, đa số đại biểu Quốc hội đều là đảng viên. Chiều
11-4-1992, khi biểu quyết lại, 302/411 đại biểu đã tán thành không ghi
quyền thừa kế quyền sử dụng đất vào Điều 18 của Hiến pháp.
Sự
thoả hiệp giữa những người muốn coi đất đai là hàng hoá và những người
muốn coi đất đai là tư liệu sản xuất đặc trưng của chủ nghĩa xã hội đã
làm biến dạng các chính sách đất đai thời kỳ hậu Hiến pháp. Trong tuần
lễ cuối cùng của tháng 6-1993, qua bốn buổi thảo luận trên Hội trường,
trong khi các đại biểu miền Nam đề nghị “giao đất lâu dài” như Hiến
pháp, các đại biểu miền Bắc và miền Trung lại tán thành giao đất có thời
hạn; thậm chí có đại biểu còn đòi rút ngắn thời hạn giao đất xuống còn
từ 10-15 năm. Trong tính toán của nhiều người, giao đất có thời hạn
nghĩa là sau đó Nhà nước có thể lấy đất lại để giao cho người khác(610).
Luật
Đất đai 1993 vì thế không gây phấn khởi như người dân chờ đợi. Đất đai
của cha ông để lại, của chính họ đổ mồ hôi nước mắt khai khẩn hoặc bỏ
tiền ra mua, sau khi có Luật còn phải ngồi chờ được Nhà nước làm thủ tục
giao đất của mình cho mình. Trừ các giao dịch về đất đi liền với nhà ở,
việc chuyển nhượng đất đai, đặc biệt là chuyển nhượng đất đi kèm với
chuyển quyền sử dụng thường bị hành chính hoá bằng quyết định Nhà nước
thu hồi đất của người bán, giao đất ấy cho người mua rồi người mua còn
phải đóng 100% tiền sử dụng đất. Người dân cho rằng họ đã phải trả tiền
hai lần để có được tờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất(611).
Luật
đất đai 1993 còn bỏ ngõ 18 vấn đề, trong đó có ba vấn đề Chính phủ phải
trình Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định: Quyền và
nghĩa vụ của các tổ chức trong nước; Quyền và nghĩa vụ của người nước
ngoài thuê đất và Thuế chuyển quyền sử dụng đất.
Chính
phủ khi điều hành các giao dịch về đất đai đã dựa trên quan điểm thị
trường của mình, coi đất đai là hàng hoá trong khi, quyền sở hữu của
người dân về đất đai vẫn là “trá hình”. Năm quyền của người sử dụng đất
đã được ghi vào Bộ Luật Dân sự 1985 của Việt Nam nhưng trên thực tế, các
quyền dân sự này vẫn có thể bị vô hiệu bởi các quyền hành chánh(612).
Chính phủ đầu thập niên 1990 cũng đánh giá tiềm lực nguồn thu từ đất đai
rất lớn nên đã định ra một mức thuế quá cao, khiến cho thị trường địa
ốc đóng băng ngay chỉ sau vài năm nhen nhúm(613).
Thị
trường địa ốc còn phải chịu rất nhiều tác động sau khi Nghị định 18
được ban hành(614). Sau khi Hội nghị giữa nhiệm kỳ của Đảng (1-1994) đưa
ra “bốn nguy cơ”, các chính sách trong đó có chính sách đất đai có
khuynh hướng thắt chặt hơn và “sở hữu toàn dân” lại được đặt lên trên
những lợi ích mà đất đai mang lại(615). Nghị định 18 không những trở
thành một trong những tác nhân quan trọng dẫn đến sự sụp đổ của các
doanh nghiệp đầu tư quá rủi ro vào đất đai như Minh Phụng, EPCO và
Tamexco(616) mà còn gây thất thu lớn cho ngân sách(617).
Ngày
2-7-1998, trong một Hội nghị tại Thành phố Hồ Chí Minh có cả Tổng bí
thư Lê Khả Phiêu tham dự, Thủ tướng Phan Văn Khải nhận xét: “Luật nói
đất đai là tài sản vô giá. Nhưng quy định một hồi đất không còn có giá.
Luật không công nhận thì thị trường đất đai sẽ hoạt động ngầm thôi. Vấn
đề là phải biến cái thị trường ngầm đó trở thành công khai để Nhà nước
quản lý”. Nhưng, ngày 2-12-1998, khi thông qua Luật “Sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Đất đai” tinh thần “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”
vẫn lấn át quan điểm thị trường mà Thủ tướng đã trình bày trước đó.
Chính
sách hạn điền được ban hành dựa trên tính toán bình quân ruộng đất của
từng vùng của thập niên 1990, khi hơn 80% dân số vẫn sống trong khu vực
nông thôn. Các nhà lập pháp đã không tính đến khả năng thị trường sẽ
điều chỉnh quan hệ này, nhất là khi đô thị và các ngành kinh tế khác thu
hút thêm nhiều lao động. Theo Trưởng Ban Soạn thảo Luật Đất đai 1993,
ông Nguyễn Công Tạn, “hạn điền và thời hạn giao đất là đặc trưng, là
ranh giới cuối cùng để phân biệt giữa sở hữu tư nhân và sở hữu toàn
dân”.
Chính
sách hạn điền đã cản trở chính chủ trương “công nghiệp hoá, hiện đại
hoá” của Đảng Cộng sản Việt Nam. Không cho tích tụ ruộng đất thì không
thể hiện đại hoá trong sản xuất nông nghiệp. Ruộng đất manh mún khiến
cho nông dân, đặc biệt là nông dân miền Bắc tiếp tục cuốc bẫm cày sâu,
ruộng ít mà không ít nơi, người nông dân lại bỏ ruộng. Tiến trình công
nghiệp hoá vì thế sẽ được thay thế bằng một con đường gây biến động xã
hội nông thôn hơn: Nhà nước thu hồi đất của nông dân giao cho các nhà
doanh nghiệp phá ruộng làm khu công nghiệp
Kể
từ năm 1993, Luật Đất đai đã được sửa đổi 5 lần. Luật năm 1998 đã sửa
đổi tương đối căn bản Pháp lệnh 14-10 và Nghị định 18(618) nhưng phải
đến Luật Đất đai năm 2003, thông qua ngày 26-11-2003, Nhà nước mới công
nhận đủ các quyền sử dụng đất cho doanh nghiệp(619). Điểm tiến bộ nhất
của Luật Đất đai năm 2003 là bãi bỏ các điều kiện bắt buộc khi chuyển
nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp áp dụng với hộ gia đình và cá
nhân(620).
Làm
luật cũng là chính quyền, giải thích luật cũng là chính quyền. Khi đất
đai càng mang lại nhiều đặc lợi thì “sở hữu toàn dân” lại càng trở thành
căn cứ để các chính sách giao cho người ban hành nó có thêm nhiều đặc
quyền. Chỉ riêng các điều khoản thu hồi, nếu như từng được quy định khá
chặt chẽ trong Luật 1993, đã trở nên rắc rối và dễ bị lũng đoạn hơn
trong Luật 2003.
Điều
20, Luật Đất đai 1993 quy định: “Khi hết thời hạn giao đất, nếu người
sử dụng đất có nhu cầu tiếp tục sử dụng và trong quá trình sử dụng đất
chấp hành đúng pháp luật về đất đai thì được nhà nước giao đất đó để
tiếp tục sử dụng”. Luật Đất đai được sửa đổi vào ngày 2-12-1998 vẫn giữ
nguyên quy định này ở Điều 20.
Đầu
tháng 11-1998 khi Quốc hội bàn về Luật Đất đai sửa đổi, không khí thảo
luận cho thấy một số đại biểu Quốc hội hiểu về thời hạn theo kiểu, giao
đất 20 năm là để 20 năm sau thu hồi, chia lại đất đai một lần nữa.
Trưởng Ban Soạn thảo Luật Đất đai 1998, Tổng Cục trưởng Địa chính Bùi
Xuân Sơn giải thích: “Luật Đất đai không đặt ra vấn đề thu hồi đất chia
lại. Luật chỉ qui định: sau 20 năm người sử dụng đất được giao tiếp tục
sử dụng”(621).
Nhưng,
ý chí của nhà làm luật đã không được minh định thành giấy trắng mực
đen. Năm 2003, khi Quốc hội viết lại Luật Đất đai, tại Điều 38, mặc dù
Khoản 7 có ghi: Nhà nước chỉ thu hồi đất khi “cá nhân sử dụng đất chết
mà không có người thừa kế”; nhưng, tại Khoản 10 lại mở ra một rủi ro:
Nhà nước thu hồi những phần đất không được gia hạn khi hết thời hạn. Hai
mươi năm, rất tiếc, vẫn không phải là một thời gian đủ dài để chính
quyền thay đổi nhận thức của mình về vấn đề sở hữu. Luật Đất đai nói
người sử dụng đất được tiếp tục giao đất khi hết thời hạn nhưng không
khẳng định đó là một điều kiện đương nhiên. Tài sản đất đai của người
dân bị lệ thuộc rất nhiều vào chính quyền huyện, cấp được Luật giao cho
quyền giao và thu hồi đất của cá nhân và hộ gia đình.
Điều
27, Luật Đất đai 1993, quy định: “Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà
nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục
đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người
bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại”. Điều Luật tiếp theo còn đưa ra
những điều kiện ràng buộc nhằm tránh sự lạm dụng của Chính quyền. Luật
sửa đổi 1998 gần như giữ nguyên tinh thần này. Nhưng, đến Luật Đất đai
2003, Chính quyền có thêm quyền thu hồi đất để ử dụng cho mục đích “phát
triển kinh tế”.
Thời
Thủ tướng Phan Văn Khải, “mục đích phát triển kinh tế” được minh định
trong ba trường hợp: xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao và khu
kinh tế. Các nghị định ban hành trong thời gian này tuy có đưa danh mục
các trường hợp bị thu hồi đất tăng lên(622) nhưng phải tới năm 2007, khi
các nhà kinh doanh địa ốc thực sự trở thành một thế lực, Chính phủ
Nguyễn Tấn Dũng mới sửa đổi chính sách làm cho đất đai của dân bị thu
hồi dễ dãi(623).
Người
dân nhận đền bù theo chính sách “thu hồi” chỉ được trả một khoản tiền
tượng trưng, rồi chứng kiến các nhà doanh nghiệp được chính quyền giao
đất để “phát triển kinh tế” bán lại đất ấy với giá cao hơn hàng chục, có
khi hàng trăm lần. Cho dù “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, người dân
chỉ có các quyền của người sử dụng. Nhưng, sở dĩ ai cũng gắn bó với nó
là bởi: Đất ấy không phải được giao không từ quỹ đất công như những quan
chức có đặc quyền, đặc lợi; Đất ấy họ đã phải mua bằng tiền; Đất ấy họ
phải tạo lập bằng nước mắt, mồ hôi; Đất ấy là của ông cha để lại. Đó là
lý do mà gia đình anh Đoàn Văn Vươn, hôm 5-1-2012, và 160 hộ dân Văn
Giang, hôm 24-4-2012, phải chọn hình thức kháng cự bằng cách hết sức rủi
ro trước lệnh cưỡng chế thu hồi đất(624).
Theo
ông Nguyễn Đình Lộc: “Ban Soạn thảo Hiến pháp 1992 nhận thấy Hiến pháp
1980 đã quốc hữu hoá đất đai một cách máy móc, nhưng vẫn phải để yên vì
nếu gỡ ngay sẽ trở thành một vấn đề chính trị”. Hai mươi năm sau, Đại
hội Đảng lần thứ XI đã cho các nhà lãnh đạo Việt Nam một lối thoát chính
trị khi định nghĩa đặc trưng của chủ nghĩa xã hội không còn coi “sở hữu
công về tư liệu sản xuất là chủ yếu”. Thế nhưng, Nghị quyết Hội nghị
Trung ương 5 (tháng 5-2012) vẫn “máy móc” bảo vệ sở hữu toàn dân với đất
đai.
Khi
hình thành chính sách đất đai, theo ông Tôn Gia Huyên: “Trước sau, ông
Võ Văn Kiệt chỉ hỏi tôi một câu: Tại sao đất 5% giao cho nông dân tạo ra
của cải nhiều hơn 95% ruộng đất trong hợp tác xã, tập đoàn mà không trả
hết đất cho nông dân”. Sở hữu toàn dân đối với đất đai không phải là
một kinh nghiệm quản lý của ông cha ta mà là một chính sách cop-py từ
Liên Xô, một nhà nước đã bị nhân dân lật đổ. Hình thức sở hữu ấy chỉ
được giữ để bảo vệ niềm tin của một thiểu số coi nó là đặc trưng của chủ
nghĩa xã hội thay vì căn cứ vào các phân tích dựa trên lợi ích của nhân
dân và của quốc gia.
“Tập
thể hoá” đã được cưỡng bức ở cả miền Bắc và miền Nam để thực hiện mục
tiêu mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV, tháng 12-1976, đưa ra: “Năm
1980 đạt ít nhất 21 triệu tấn lương thực quy thóc”. Để rồi, kết quả là:
Năm 1976, sản lượng lúa cả nước đang là 11,8 triệu tấn; Năm 1980 chỉ còn
11,6 triệu tấn. Trong các năm từ 1981-1987, nhờ khoán ruộng cho nông
dân (theo Chỉ thị 100), sản lượng lương thực mới tăng được lên 17 triệu
tấn. Trong khi chỉ trong vòng tám tháng sau khi Bộ Chính trị đồng ý giao
ruộng cho nông dân với quyền chuyển nhượng và thừa kế thì người dân đã
làm ra một sản lượng lương thực tăng thêm 2 triệu tấn(625).
Chỉ
cần có đất trong tay, chỉ sau hai năm, người nông dân đã đưa sản lượng
lương thực đạt tới mức mà Đảng mất hàng thập niên để ước mơ. Sản lượng
lương thực vượt qua con số 20 triệu tấn trong năm 1989 và lên đến 21,46
triệu tấn trong năm 1990, đạt mức 24,5 triệu tấn trong năm 1993. Năm
1988 đang là một quốc gia đói kém, năm 1989, Việt Nam đã có hơn 1,4
triệu tấn gạo dư đem xuất khẩu. Vậy mà, để bảo vệ định hướng xã hội chủ
nghĩa Đảng vẫn không trả lại ruộng đất cho nông dân. Vẫn đặt cuộc sống
của những người thực sự làm thay đổi hình ảnh quốc gia trong những rủi
ro: hạn điền, thời hạn sử dụng và bất cứ lúc nào cũng có nguy cơ bị thu
hồi đất. Đổi mới đã giúp cho cuộc sống của người dân Việt Nam khá dần
lên: Tỷ lệ người nghèo giảm từ 51,8%, năm 1990, xuống còn 14,5%, năm
2008; Tỷ lệ người thiếu đói giảm từ 24,9%, năm 1993, xuống còn 6,9%, năm
2008(626). Đổi mới đã biến hàng triệu người vô sản trở thành doanh
nhân. Ở tuổi 17, 18, cô học sinh Lý Mỹ đã để cho Đoàn Thanh niên cộng
sản dắt tay cùng cán bộ cải tạo đi kê biên tài sản của chính cha mẹ mình
(tháng 3-1978)(627). Đổi mới đã đưa Lý Mỹ trở lại truyền thống gia
đình, trở thành một nhà tư sản. Nhưng Lý Mỹ đã phải bước qua biết bao
đau thương. Cũng như Lý Mỹ, con đường trở lại làm doanh nhân của hàng
triệu người dân Việt Nam cũng thấm đẫm biết bao máu và nước mắt(626).
Nhớ
khi “cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã
hội”, Việt Nam nhanh chóng trở thành một quốc gia kiệt quệ, dân chúng
lầm than, hàng triệu người phải bỏ nước ra đi. Nhớ khi trả lại ruộng đất
và một số quyền căn bản cho dân thì đất nước hồi sinh, đời sống người
dân bắt đầu cải thiện. Bản chất của đổi mới là từ chỗ Đảng và Nhà nước
cấm đoán, tập trung tất mọi quyền hành, đến chỗ để cho dân quyền được tự
lo lấy cơm ăn, áo mặc.
Ngay
sau khi tuyên bố độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Nếu nước được độc
lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có
nghĩa lý gì”(629). Không thể phủ nhận tầm nhìn của Hồ Chí Minh. Khi ông
đưa ra tuyên bố này loài người chưa có Internet, thế giới chưa có toàn
cầu hoá, độc lập dân tộc đối với người dân ở nhiều quốc gia vẫn được coi
là vô cùng thiêng liêng.
Giá
như không phải là ý thức hệ mà tự do và hạnh phúc của nhân dân mới là
nền tảng hình thành chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng do Chủ
tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo, thì người dân đã tránh được
chuyên chính vô sản, tránh được cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản,
tránh được Nhân văn - Giai phẩm, tránh được biết bao binh đao xung đột
trong nội bộ dân tộc, gia đình.
Chú thích
(579) Theo Nguyên Tấn, Thời báo Kinh tế Sài Gòn số 43, trang 16, ngày 20-10-2005.
(580 Lúc ấy là Phó ban Tổ chức Trung ương Đảng.
(581) Còn có lời đồn nói rằng ông là con của nhà cách mạng Phùng Chí Kiên.
(582) Thời báo Kinh tế Sài Gòn số ra ngày 26-7-2007.
(583)
Năm 2007, số liệu được chính thức công bố là 38,7%. Năm 2008, Bộ Kế
hoạch & Đầu tư cải chính bằng con số mới là 53,89%. Báo cáo kinh tế
vĩ mô 2012: Từ bất ổn đến con đường tái cơ cấu của Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội thì tăng trưởng tín dụng năm 2007 lên tới 53,89%. Các nghiên cứu
của Ngân hàng Nhà nước đưa ra con số 51%.
(584)
Ngày 25-5-2012, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký nghị định 24, giành lấy
quyền sản xuất vàng miếng cho nhà nước và buộc doanh nghiệp kinh doanh
vàng miếng phải có vốn trên 100 tỷ đồng. Quyết định này đã dẫn tới việc
đóng cửa hàng ngàn cửa hàng kinh doanh vàng bạc và giúp cho SJC trở
thành nhãn hiệu vàng độc quyền. Hai mươi ba năm trước đó, ngày
24-5-1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười ký Quyết định 139, cho
phép tư nhân mở tiệm vàng với điều kiện chỉ cần ký quỹ 5 lượng (trước đó
những người sở hữu từ 2 chỉ vàng trở lên bị coi là bất hợp pháp), chỉ
sau hai tháng cả nước có tới 400 tiệm vàng.
(585)
Nguồn: Tổng cục Thống kê. (Mức tăng trưởng GDP của năm 2012 bị các nhà
kinh tế nghi vấn vì năm 2009, để GDP tăng 5,89% mức tăng tín dụng phải
đạt 39,6%, trong khi năm 2012, tín dụng chỉ tăng 7%, tổng vốn đầu tư
toàn xã hội chỉ đạt 33,5% GDP, tức là thấp nhất trong vòng 12 năm qua mà
GDP vẫn tăng được 5,03%).
(586)
Thời gian đầu sau Đại hội VIII, tuy là chủ tịch Quốc hội nhưng Nông Đức
Mạnh không được đưa vào Thường vụ Bộ chính trị. Trước khi hết nhiệm kỳ,
ông Nông Đức Mạnh làm hai việc tai tiếng: đưa con trai là Nông Quốc
Tuấn, một người xuất thân là “lao động xuất khẩu”, năng lực giới hạn,
lên làm bí thư Bắc Giang để được cơ cấu vào Trung ương.
(587)
tướng Giáp phủ nhận giai thoại này, việc ông Mạnh đi Liên Xô học như đã
nói ở trên là do chính sách đối với cán bộ người dân tộc.
(588) Theo thư đề ngày 2-8-1994 của Tổng Biên tập Tuổi Trẻ gửi Ban Tuyên huấn Thành uỷ thì ông Nông Đức Mạnh đã yêu cầu báo Tuổi Trẻ phải kỷ luật phóng viên hỏi câu này, ông Mạnh nhầm Huỳnh Ngọc Chênh với phóng viên Tâm Chánh của Tuổi Trẻ.
(589) Theo thư Phan Diễn gửi Võ Văn Kiệt ngày 19-1-2005.
(590) Sáp nhập từ Hà Nam - Nam Định - Ninh Bình.
(591)
Trả lời phỏng vấn Huy Đức, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số 27, ngày
28-06-2001: “TBKTSG: Có ít nhất hai lần, khi lãnh đạo Đảng bàn nhân sự,
nghe nói, đã đề cập đến ông như là một trong những nhân vật trung tâm,
nhưng, cứ bàn đến ông thì ông lại vắng vì lý do đi thăm mẹ? Nguyễn Văn
An (Cười to): Cái này là đi sâu vào đời tư đây. Làm cán bộ thì bao giờ
cũng phải đặt lợi ích quốc gia lên trên. Nhưng cán bộ nào thì cũng là
con người thôi, mà con người thì ngoài nghĩa vụ với đất nước còn phải có
nghĩa vụ với những người ruột thịt, với mẹ. Mẹ tôi có ba người con gái,
mình tôi là con trai, con trai út. Khi tôi ở Hà nội, tôi mời mẹ lên, mẹ
không lên. Chị gái kế tôi bị đau chân không đi lấy chồng, mẹ thương chị
nên ở lại Nam Định. Lúc ấy, anh Huỳnh Công Thơ, người giới thiệu tôi
vào Đảng, đọc lý lịch tôi, thấy vậy nói : “An ơi, mày về Nam Định chăm
mẹ đi, không sau này ân hận đấy”. Tôi nghe anh ấy, mặc dù bạn bè lúc ấy
ai cũng khuyên nên ở Hà Nội. Sau này, trên lại điều tôi ra Hà nội.
TBKTSG: Ông vẫn chưa nói về cuộc họp liên quan đến cương vị của ông mà
ông xin nghỉ họp để về thăm mẹ? Nguyễn Văn An: Hôm ấy mẹ tôi bị bệnh. Cụ
có người em họ làm y tá trong quân đội, mọi lần mẹ bệnh, ông ấy vẫn
chữa cho, rất nhanh. Lần này, cụ không cho tiêm, người nhà mới gọi tôi
về. Tôi về thì cụ đã quá sức, một tuần sau cụ đi. Mẹ tôi mất năm 97
tuổi, tôi cứ ân hận, nếu tôi có điều kiện chăm sóc, cụ có thể sống hơn
trăm tuổi. Tôi nghĩ, với một cán bộ cũng như với một người bình thường,
nghĩa vụ với bố mẹ, anh em rất quan trọng. Anh hiếu thì sẽ trung, anh
trung thì sẽ hiếu”.
(592) Ngày 27-6-2001, khi Quốc hội bỏ phiếu bầu Chủ tịch Quốc hội, ông Nguyễn Văn An chỉ nhận được 60,02% số phiếu.
(593)
Chủ tịch Nguyễn Văn An trả lời phỏng vấn Huy Đức, Thời báo Kinh Tế Sài
Gòn 28-6-2001: “TBKTSG: Thưa ông, ở Đại hội 9 vừa qua, danh sách bầu cử
Ban chấp hành Trung ương đã nhiều hơn số cần bầu khá nhiều. Đặc biệt,
danh sách bầu Bộ chính trị có tới 27 người để chỉ bầu lấy 15. Điều đó là
cần để giúp cho các đại biểu có sự lựa chọn dân chủ. Tuy nhiên, ở đây
lại xuất hiện một vấn đề khác, những người bỏ phiếu có thực sự biết rõ
người họ bầu là ai không? Nguyễn Văn An: Để phát huy dân chủ trong công
tác cán bộ không phải đơn giản. Muốn có dân chủ, theo tôi, phải có thông
tin. Đại hội lần này, thông tin có khá hơn: phiếu trong Trung ương thế
nào; ý kiến nơi cư trú thế nào, ở cơ quan thế nào; kết quả kiểm
điểmTrung ương 6, lần 2 thế nào… đều được gửi đến đại biểu. Vấn đề là
thông tin ấy phải chính xác, ví dụ thông tin ở nơi cư trú. TBKTSG: Nơi
cư trú thì làm sao nhận xét chính xác về một cán bộ ở cấp Trung ương
thưa ông? Nguyễn Văn An: Đúng là có những người có vấn đề mà nơi cư trú
vẫn đánh giá tốt, có người có vấn đề ở mức độ, nơi cư trú nhận xét quá
gay gắt. Khi ấy phải bổ khuyết bằng kết luận của Uỷ ban kiểm tra Trung
ương của Bộ Chính trị. Nhưng đáng tiếc, có đại biểu nói là họ không đọc
hoặc đọc không hết những tài liệu ấy. Không có gì tuyệt đối hết, muốn
phát huy dân chủ thì thông tin là hết sức quan trọng. Ngay Quốc hội họp
đây, thông tin đến đây như thế nào, khả năng tiếp nhận thế nào cũng là
một vấn đề. Để thực hiện dân chủ không phải đơn giản. TBKTSG: Thưa ông,
tại sao không phát huy dân chủ bằng cách cho tranh cử? Ta hay có ấn
tượng với tranh cử nhưng tranh cử thực chất chỉ là một hình thức cung
cấp thông tin cho người bỏ phiếu? Nguyễn Văn An: Đây là vấn đề lớn, vấn
đề khó. Tranh cử có cái hay nhưng không phải không có cái dở. Để có một
trình độ tranh cử văn minh không đơn giản, tranh cử không khéo sẽ thành
tranh giành, cục bộ. Hiện giờ trong Đảng mình chỉ bàn bạc dân chủ rồi
phân công. Đảng phải làm sao đảm bảo có dân chủ mà trong Đảng vẫn giữ
được sự thống nhất. Vấn đề như tôi nói ở trên là “ý Đảng lòng dân” phải
là một. Quốc hội là cơ quan đại biểu của nhân dân cho nên Đảng rất cần
phải lắng nghe Quốc hội. Trước đây, có một số trường hợp chưa nghe hết ý
kiến Quốc hội… TBKTSG: Nếu Đảng cử hai ứng cử viên cho mỗi chức danh
thì thưa ông, khi bầu, Quốc hội có điều kiện lựa chọn tốt hơn chứ?
Nguyễn Văn An: Chúng tôi cũng đã từng bàn. Nhưng đây là vấn đề rất nhạy
cảm. Phải hết sức cân nhắc, phải lường trước hậu quả của nó. Thường thì
vấn đề nhân sự, trong Đảng đã phải cân nhắc rất kỹ, bàn rất kỹ trước khi
quyết định”.
(594) Bài báo được đưa tờ Vietnamnet đưa lên:
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-12-05-nguyen-chu-tich-quoc-hoi-ban-ve-phuong-
thuc-cam-quyen-của-dang, nhưng, chỉ sau bốn mươi tám giờ, tổng biên tập
của tờ Vietnamnet nhận được lệnh trực tiếp từ Bộ trưởng Bộ Thông tin
Truyền thông, buộc gỡ bỏ.
(595)
Ông Nguyễn Phú Trọng sinh ngày 14-4-1944 ở xã Đông Hội, huyện Đông Anh,
Hà Nội - cha mẹ là nông dân - ông thuộc thế hệ đầu tiên “lớn lên dưới
mái trường xã hội chủ nghĩa”. Ông Trọng được mô tả là mê văn học dân
gian từ nhỏ. Năm 1963, ông vào Khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội
và như nhiều học sinh, nghiên cứu sinh miền Bắc thời đó, thành công của
Nguyễn Phú Trọng gắn liền với việc ngợi ca thơ Tố Hữu. Khoá luận tốt
nghiệp đại học của ông là “Thơ ca dân gian với nhà thơ Tố Hữu” được nói
là đạt điểm tối ưu duy nhất của Khoá. Điều này đã giúp ông được kết nạp
Đảng khi sắp sửa ra trường. Tốt nghiệp, ông được điều về Tạp chí Học tập
(tiền thân của tạp chí Cộng Sản). Bài báo đầu tiên mà ông viết khi trở
thành phóng viên của tờ tạp chí khô khan này được đăng trên một tờ báo
bạn, ca ngợi thơ ca của Bí thư Trung ương Đảng kiêm Trưởng ban Tuyên
huấn, bài viết có tên “Phong vị ca dao dân ca trong thơ Tố Hữu”(tạp chí
Văn Hoá 11-1968). Năm 1973, ông Trọng được đưa đi làm nghiên cứu sinh
kinh tế chính trị tại Trường Đảng Cao cấp Nguyễn Ái Quốc, “tập trung
nghiên cứu trực tiếp các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Marx - Lenin.
Năm 1981, ông được đưa đến Liên Xô và trong vòng hai năm, ông vừa học
tiếng Nga vừa lấy bằng phó tiến sỹ. Tháng 8-1983, ông Nguyễn Phú Trọng
về nước làm phó Ban Xây dựng Đảng của Tạp chí Cộng sản, một chức vụ có
“hàm” vụ phó, tháng 8-1991, ông Nguyễn Phú Trong đã được đưa lên chức
tổng biên tập với hàm Bộ trưởng; Tháng 1-1994, tại hội nghị giữa nhiệm
kỳ của Đảng, ông được đưa vào Ban Chấp hành Trung ương cùng với mười
chín người khác. Tháng 12-1997, sau hơn một năm được “luân chuyển” xuống
Hà Nội làm phó bí thư Thành uỷ, ông Trọng lại được bổ sung vào Bộ Chính
trị; Tháng 1-2000, làm bí thư Thành uỷ Hà Nội kiêm nhiệm chủ tịch Hội
đồng Lý luận Trung ương, phụ trách công tác lý luận của Đảng.
(596)
“Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm
chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại
là chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất là chủ yếu; có nền văn hoá
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do,
hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng
đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát
triển; có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân do Đảng cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp
tác với nhân dân các nước trên thế giới”.
(597) Hội nghị lần thứ Năm (bế mạc ngày 15-5-2012) vẫn tiếp tục khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân”.
(598) 1992-2002.
(599)
Phát biểu trong phiên bế mạc Hội nghị Ban chấp hành Trung ương, họp từ
ngày 4 đến ngày 10-9-1980, Lê Duẩn nói: “Nhân đây, tôi nhấn mạnh một
điểm rất quan trọng trong Dự thảo Hiến pháp mới là chuyển toàn bộ đất
đai thành sở hữu toàn dân Đề ra như vậy hoàn toàn đúng với quy luật tiến
lên chủ nghĩa xã hội, đúng với thực trạng ruộng đất nước ta, phù hợp
với lợi ích của toàn xã hội và phù hợp lợi ích của chính nông dân. Thật
vậy, nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội là tất cả những tư liệu sản xuất cơ
bản phải thuộc về của chung. Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải thống nhất
quy hoạch và có chính sách khai thác hợp lý, đầu tư thích đáng, bảo vệ
và bồi bổ đất đai trên phạm vi cả nước cũng như ở từng vùng kinh tế, làm
sao cho toàn bộ đất đai bảo đảm nuôi sống hơn 50 triệu người, làm sao
đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa để phục vụ đắc lực sự
nghiệp công nghiệp hoá nước nhà. Chỉ với điều kiện chuyển toàn bộ đất
đai thành sở hữu toàn dân mới làm được như thế”.
(600)
“Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội” mà ông Phan Văn Khải làm Tổ
trưởng biên tập ghi: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Các hộ nông dân
được Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài và cấp giấy chứng
nhận. Luật pháp quy định cụ thể việc thừa kế và chuyển quyền sử dụng
ruộng đất”.
(601)
Theo Báo cáo Tổng kết 32 năm phong trào hợp tác hoá nông nghiệp
(1958-1990) thì sau một thời gian áp dụng Khoán 100, nhiều nơi, người
lao động chỉ còn được hưởng 16-20% sản lượng lương thực mà họ làm ra khi
nhận khoán. Động lực sản phẩm bị triệt tiêu, nông dân lại không có cảm
giác an tâm vì sự bấp bênh ruộng khoán. Năm 1981, năm đầu thực hiện Chỉ
thị 100, sản lượng lương thực trên cả nước tăng thêm một triệu tấn. Năm
1982, mức tăng bắt đầu chững lại; tới năm 1983, 1984 thì mức tăng giảm
đáng kể. Tình trạng nông dân nợ “sản phẩm” tăng lên, nhiều nơi xã viên
bắt đầu trả khoán.
(602)
Trước tình hình đó, chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước
đã cử một đoàn cán bộ kiểm tra về Thanh Hoá, nơi có “cái đêm hôm ấy đêm
gì” của Phùng Gia Lộc. Ông Nguyễn Ngọc Thọ, thành viên trong đoàn kiểm
tra này của Quốc hội, kể lại: “Ở một số xã gay go nhất của ba huyện
Quảng Xương, Nông Cống, Tĩnh Gia… làng xóm tiêu điều, người qua lại thưa
thớt, ai cũng xanh xao, hốc hác, nhớn nhác đi tìm thức ăn. Những quả,
củ, lá cây có thể ăn được đều đã bị đào bới, vặt trụi. Ruộng đồng, vườn
tược xơ xác, chỉ còn vài mảnh nửa xanh, nửa úa vàng. Khi mà con người bị
đói quá, không còn gì để ăn, thì mọi vật dụng quý giá xung quanh đều vô
nghĩa. Có người đã dỡ nhà, chẻ cây que thành củi ra chợ đổi một bó lấy
ba bát bột mì, bột ngô, nhưng rồi chẳng có ai còn bột mà đổi. Có người
đem xe đạp Phượng Hoàng ra rao bán lấy mười lăm ký gạo, sau giảm xuống
mười ký cũng không có ai mua. Đồng hồ, khuyên tai, nhẫn vàng… đều không
có sức hấp dẫn nữa”. Trong một trận đói trước đó ở Thanh Hoá, theo ông
Nguyễn Thành Thơ, phó chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam, ông đã gặp một
người đàn ông phải cắt bắp chân của mình để nấu cháo cứu con qua trận
đói.
(603)
Nghị quyết 10 “về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” được Bộ Chính
trị thông qua ngày 5-4-1988. (Khi làm trưởng Ban Cải tạo Nông nghiệp, Võ
Chí Công đã cùng Tố Hữu, Vũ Oanh, hô hào xây dựng đại trà hình thức tập
đoàn ở miền Nam. Năm 1981, Võ Chí Công nhận thấy sự bế tắc của hợp tác
xã và tập đoàn, ông ủng hộ “khoán sản phẩm” và muốn cho khoán luôn tới
hộ. Sau Đại hội V, khuynh hướng trở về với các nguyên tắc xây dựng xã
hội chủ nghĩa lại trỗi dậy. Chính Võ Chí Công, ngày 3-5-1983, đã thay
mặt Ban Bí thư ký Chỉ thị 19, đốc thúc “cải tạo triệt để quan hệ sản
xuất trong nông nghiệp”. Đói kém lại càng trầm trọng. Các nhà lãnh đạo
trong đó có Võ Chí Công lại phải thay đổi bằng việc cho ra đời “Nghị
quyết 10”).
(604)
Theo Nghị quyết 10: “Đối với đất trồng rừng và cây công nghiệp dài
ngày, có thể giao quyền sử dụng từ 1 đến 2 chu kỳ kinh doanh. Đối với
mặt nước và đất trồng cây lương thực, cây công nghiệp hàng năm, thời
gian đó có thể từ 15 đến 20 năm”.
(605)
Ngày 11-3-1987, Phó Chủ tịch thứ Nhất Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt ký
Quyết định 80-CT: “Bãi bỏ các trạm kiểm soát trên tất cả các tuyến giao
thông trong nước”.
(606)
Theo ông Nguyễn Thành Thơ, lúc bấy giờ là phó chủ tịch Hội Nông dân
Việt Nam: “Một hôm, khoảng bảy giờ tối, anh Nguyễn Văn Linh kêu tôi đến,
vào buồng vắng lạnh, anh ngồi bó gối nói: ‘Anh báo cáo tình hình nông
dân cho tôi nghe’. Tôi báo cáo mặt tốt về chính trị xã hội, mặt khó khăn
về kinh tế đời sống. Anh khoát tay: ‘Anh thấy không, họ ham xã hội chủ
nghĩa hình thức, họ đánh sập nền kinh tế nông dân, nền kinh tế nông dân
bị sập làm sao xây dựng nền kinh tế nào được anh!’. Rồi ông Linh nói:
‘Anh thương dân, thương nước, anh phải đi cởi trói cho nông dân’”. Sáng
hôm sau, ông Nguyễn Thành Thơ quay lại, ông Nguyễn Văn Linh giải thích:
“Quan điểm của tôi: Một, họ nói đất đai là sở hữu toàn dân, có chỗ nào
nói sở hữu nhà nước đâu, họ quản lý muốn lấy đất ai họ lấy, lấy đất
người này vụt qua đất người kia, lấy đất người kia vụt qua đất người nọ,
nông dân không gắn với đất đai làm sao sản xuất tốt được. Hai, nông dân
đổ mồ hôi và máu mới có đất, không ai được quyền tước đoạt, thế mà
trắng trợn tước đoạt. Ba, Engels nói, ‘sự nghiệp hợp tác hoá là sự
nghiệp thế kỷ, họ vào họ đưa đất vào họ ra thì họ lấy đất ra, thế mà tập
đoàn viên, xã viên ở ta muốn ra không được lấy đất ra. Bốn, vấn đề giai
cấp nông dân là vấn đề chính trị lớn, quyết định thành bại tồn vong của
chế độ, của đất nước. Anh thương dân thương nước anh phải đi cởi trói
cho nông dân. Anh làm họ bắn anh, nhưng vì dân vì nước anh vẫn phải
làm”. Vào Nam, ông Nguyễn Thành Thơ gặp Võ Văn Kiệt tại Vĩnh Long, ông
Kiệt nói: “Tôi khuyên anh nên thi hành ý kiến anh Nguyễn Văn Linh. Đó là
NEP của Lenin chứ không có gì lạ. Anh tiến hành, họ sẽ bắn anh, nhưng
anh không từ chối được vì anh đã nhận nhiệm vụ anh Linh giao. Anh đã lên
ngựa làm sao anh xuống. Nhưng tôi sẽ đứng sau lưng anh, ủng hộ anh thực
hiện”.
(607)
Ngày 14-4-1993, Đào Duy Tùng thay mặt Ban Bí thư ký Chỉ thị: “Làm cho
nhân dân, cán bộ, đảng viên nắm được những quan điểm cơ bản của Đảng và
Nhà nước ta: toàn bộ đất đai đều thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước
thống nhất quản lý, Nhà nước chỉ giao cho các tổ chức và cá nhân quyền
sử dụng đất, không cho mua bán đất; bảo đảm cho những người làm nghề
nông đều có ruộng đất để canh tác, Nhà nước giao ruộng đất cho nông dân
sử dụng ổn định lâu dài theo thời hạn thích hợp, người sử dụng đất có
nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước”. Ban Bí thư cũng yêu cầu: “Đảng đoàn
Quốc hội phối hợp với Ban Cán sự đảng Chính phủ, đảng đoàn Mặt trận Tổ
quốc, Hội Nông dân, các đoàn thể nhân dân khác và ban cán sự đảng của
các cơ quan hữu quan ở Trung ương, lãnh đạo tốt việc lập kế hoạch và tổ
chức thực hiện kế hoạch lấy ý kiến nhân dân; theo dõi sát sao quá trình
thảo luận trong phạm vi cả nước, kịp thời giải thích, uốn nắn những tư
tưởng và việc làm lệch lạc; tổng hợp đầy đủ, nghiêm túc tiếp thu ý kiến
đóng góp của nhân dân để chỉnh lý dự án luật trình Hội nghị lần thứ 5
của Ban Chấp hành Trung ương xem xét, cho ý kiến về những chủ trương
lớn, làm cơ sở cho việc hoàn chỉnh dự án Luật đất đai (sửa đổi) trình
Quốc hội thông qua vào tháng 6-1993”.
(608)
Chủ tịch Lê Quang Đạo nói tiếp: “Ai trong chúng ta cũng nói lên tiếng
nói của nhân dân, đại biểu cho nhân dân. Nhân dân cả nước có những
nguyện vọng chung, giống nhau. Chúng ta đều ý thức điều này và đều ý
thức tôn trọng sự lãnh đạo của Đảng. Đảng không áp đặt, Đảng có chính
kiến của mình và kiến nghị Quốc hội, nhưng những vấn đề thuộc chức
trách, quyền hạn của Quốc hội là do Quốc hội quyết định… Điều 18 có
những ý kiến khác nhau, chúng tôi đã xin Quốc hội cho chúng tôi đước cân
nhắc thêm. Hơn nữa, khi công nhận chyển quyền sử dụng đất đai, đã bao
hàm vấn đề thừa kế cho con cháu quyền sử dụng đất và luật sau này sẽ
định chế thêm vấn đề này”.
(609) Đại biểu Lê Minh Tùng, An Giang.
(610
Một đại biểu của Thanh Hoá, ông Lê Văn Chỉ, nói: “Nếu không có thời hạn
cụ thể thì thành ra sở hữu tư nhân rồi còn gì; điều đó sẽ gây ra tình
trạng phân hoá giàu nghèo ngay và sau này khó xử lý”. Đại biểu Đặng Quốc
Tiến, Bắc Thái, nói: “Đất ít, người đông, giao có thời hạn thì sẽ bảo
đảm cho công tác điều chỉnh đất đai khi có biến động nhân khẩu”. Chủ
tịch Thành phố Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh, bắt đầu quan lộ từ một chủ nhiệm
hợp tác xã, cũng sợ nếu giao đất lâu dài cộng với 5 quyền thì thành tư
nhân hoá đất đai. Ông Nguyễn Bá Thanh nói: “Thời hạn ghi trong Dự thảo
là thoáng lắm rồi, đi nghĩa vụ quân sự 2 năm thì kêu dài giao đất 20 năm
thì bảo ngắn”. Trong khi, một đại biểu đến từ Tây Ninh, ông Đặng Văn
Lý, cho rằng: “Quy định thời hạn giao đất để làm gì, điều này sẽ làm
người dân không yên tâm vì cho rằng Nhà nước lăm lăm lấy lại”.
(611) Cho đến tháng 3-1995, chỉ có 23/1.112 trường hợp hợp thức hoá quyền sử dụng đất chịu đóng 100% tiền sử dụng đất.
(612)
Năm 1995, ông Bùi Văn Thanh mua của bà Nguyễn Thị Nương, ngụ tại ấp 7,
xã Thanh Hoà, Lộc Ninh, Bình Phước một căn nhà kèm theo đất, hợp đồng
mua bán được làm bằng giấy tay. Năm 1996, sau khi được Uỷ ban Nhân dân
huyện Lộc Linh cấp sổ đỏ cho lô đất đã bán cho ông Thanh, bà Nương kiện
đòi lại đất. Bà Nương đã thắng kiện vì Toà tuyên bố hợp đồng bà bán nhà
đất cho ông Thanh là vô hiệu, vì vào năm 1995 bà Nương chưa được cấp sổ
đỏ nên chưa có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Bản án sơ thẩm số
40/DSST ngày 31-12-2002 của Toà án huyện Lộc Ninh và Bản án phúc thẩm số
38/DSPT ngày 15-04-2003 của Toà án Tỉnh Bình Phước). Vụ tranh chấp kể
trên không phải là trường hợp cá biệt ở Việt Nam. Quyền sở hữu trá hình
không phải lúc nào cũng được thừa nhận. Nếu 5 quyền của người sử dụng
đất được đối xử như một tài sản thiêng liêng của công dân thì phần nhà
đất mà ông Thanh mua của bà Nương đã thuộc về ông Thanh ngay sau khi ông
trả đủ tiền theo thoả thuận chứ không phải do nhà nước ban phát khi bắt
đầu cấp sổ đỏ đối với ruộng đất, sổ hồng đối với nhà. Sổ đỏ, sổ hồng
chỉ là một thủ tục ghi nhận giúp minh bạch hoá quyền tài sản của dân chứ
tự nó không sinh ra quyền tài sản.
(613)
Ngày 22-6-1994, Luật thuế Chuyển quyền sử dụng đất được Quốc hội thông
qua, theo đó: Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chuyển quyền sử
dụng đất, sẽ phải chịu thuế suất 10% nếu là đất nông nghiệp, lâm nghiệp,
đất nuôi trồng thuỷ sản và làm muối; 20% nếu là đất ở, đất xây dựng
công trình chuyển nhượng lần thứ nhất; 5% với đất ở, đất công trình đã
nộp tiền sử dụng đất hoặc chuyển quyền sử dụng đất từ lần thứ hai trở
đi; 40% với trường hợp quyền sử dụng đất đồng thời chuyển mục đích sử
dụng từ đất nông nghiệp, đặc biệt là từ đất trồng lúa ổn định, sang đất
phi nông nghiệp. Ngày 21-12-1999, Quốc hội đã sửa đổi thuế suất theo đó,
thuế chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp, thuỷ hải san, làm muối chỉ
còn 2%; chuyển quyền đất ở, đất công trình chỉ còn %.
(614)
Ngày 14-10-1994, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh Quyền và
nghĩa vụ của các tổ chức trong nước khi được nhà nước giao đất và cho
thuê đất. Trên cơ sở đó, ngày 13-2-1995, Chính phủ ban hành Nghị định
18. Theo đó: các tổ chức trong nước chỉ còn được quyền thuê đất. Nguyên
tắc bất hồi tố trong dân sự đã không được áp dụng, Nghị định 18 còn buộc
tất cả các tổ chức có đất đã được giao trước đó phải chuyển sang thuê
đất.
(615)
Ngay sau khi có phản ứng của dư luận, người soạn thảo Pháp lệnh 14-10
và Nghị định 18, ông Tôn Gia Huyên giải thích: “Ta không có chế độ sở
hữu tư nhân về ruộng đất, nên ta phải xử lý theo cách mà ta có thể vận
dụng được trong nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân” (Trả lời phỏng
vấn của Huy Đức, Tuổi Trẻ 16-3-1995).
(616)
Minh Phụng một doanh nghiệp chuyên về may mặc. Năm 1995, Minh Phụng có
10 phân xưởng gia công hàng may, quần áo và giày dép, xuất khẩu; 5 phân
xưởng: dệt gòn, nhựa, sản xuất bao bì PP… có thời điểm thu hút trên
9.000 lao động. Nhưng, doanh thu từ các hoạt động đúng chức năng này chỉ
chiếm một phần nhỏ. Từ năm 1993, bất động sản trở thành lĩnh vực kinh
doanh chính của mình Phụng. Có những khu đất mà Minh Phụng mua chỉ mấy
năm sau đã tăng giá lên hàng chục lần. Nhưng, Minh Phụng sau khi Pháp
lệnh 14-10 và Nghị định 18 ra đời thị trường địa ốc bắt đầu đóng băng.
Để có tiền trang trải, Minh Phụng và sau đó là đối tác của ông, ông Liên
Khui Thìn, Tổng giám đốc công ty EPCO, đã phải nhập sắt thép, phân bón,
bất chấp giá cả của các mặt hàng này với mục đích duy nhất là bán ra để
có tiền mặt. Để lách luật, đối phó với quy định một doanh nghiệp không
được vay, bảo lãnh vượt quá 10% vốn một ngân hàng, Minh Phụng và EPCO đã
lập ra một hệ thống hàng chục “công ty con”, các công ty này được lập
ra chủ yếu để ký các hồ sơ mở tín dụng thư, bảo lãnh hoặc vay vốn ngân
hàng, lấy tiền cho Minh Phụng, EPCO đầu tư địa ốc. Chính quyền e ngại
một sự sụp đổ nằm ngoài tầm kiểm soát. Ngày 24-3-1997, vào lúc 1:30
chiều, Tăng Minh Phụng bị bắt và gần như cùng lúc, công an bắt tiếp đối
tác của ông: ông Liên Khui Thìn. Ông Tăng Minh Phụng được tiếng là một
người dồn hết thời gian và sức lực của mình để xây dựng cơ nghiệp.
Nhưng, món nợ của ông và đối tác EPCO là quá lớn, gần 6.000 tỷ đồng và
32,6 triệu USD, trong khi khối tài sản của ông, trên 390 danh mục, gồm
476 đơn vị tài sản là nhà xưởng, dây chuyền sản xuất, máy móc, kho tàng,
văn phòng, biệt thự v.v… chỉ được Toà định giá 2.232 tỷ đồng. Năm 1999,
ông bị toà tuyên án tử hình vì tội “lừa đảo”, ngày 17-7-2003, Tăng Minh
Phụng cùng một bị cáo khác bị hành quyết. Bị án tử hình Liên Khui Thìn
sau đó được giảm án xuống chung thân. Cũng bằng phương thức kinh doanh
địa ốc tương tự, Giám đốc Tamexco Phạm Huy Phước, Giám đốc công ty Bình
Giã Trần Quang Vinh cũng bị tử hình, án thi hành năm 1998.
(617)
Trước kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá IX, Chính phủ đã gửi tới các đại biểu
Quốc hội một báo cáo nói rằng, ngân sách 1995 sẽ thất thu hơn 1000 tỷ
đồng vì những ách tắc do thực hiện Pháp lệnh 14-10 và Nghị định 18.
(618) Luật có hiệu lực từ 1-1-1999, tuyên bố hết hiệu lực với Pháp lệnh 14-10-1994; Pháp lệnh sửa đổi ngày 27-8-1996.
(619)
Thay vì phải thuê, Luật chỉ coi thuê đất như một lựa chọn, các “tổ chức
kinh tế” không chỉ được giao đất “xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê,
xây dựng kết cấu hạ tầng” mà còn được giao đất để “làm mặt bằng xây dựng
cơ sở sản xuất, kinh doanh”. Luật còn giao đất cho “người Việt Nam định
cư ở nước ngoài” được giao đất để “thực hiện các dự án đầu tư”.
(620
Theo Điều 75 Luật Đất đai 1993 và Điều 706 Bộ luật Dân sự năm 1995: Hộ
gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp để trồng rừng
chỉ được chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi “chuyển đến nơi cư trú khác
để sinh sống; chuyển sang làm nghề khác; không còn hoặc không có khả
năng trực tiếp lao động”. Luật Đất đai năm 2003 cho phép cá nhân, tổ
chức, hộ gia đình được chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà không cần
những điều kiện này.
(621) Huy Đức, Tuổi Trẻ 12-11-1998.
(622)
Nghị định 181 hướng dẫn chi tiết thi hành. Theo đó, ngoài các trường
hợp xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế như luật
định, Nhà nước còn được thu hồi đất đối với các dự án: a) Đầu tư sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ, du lịch (với điều kiện dự án thuộc nhóm A và
không thể đầu tư trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế);
b) Các dự án sử dụng vốn ODA; c) Các dự án đầu tư 100% vốn nước ngoài
(với điều kiện dự án không thể đầu tư trong khu công nghiệp, khu công
nghệ cao, khu kinh tế). Chỉ riêng loại dự án thuộc nhóm A, theo quy định
tại Nghị định 16 (sau đó được thay thế bằng Nghị định 12), được chi
tiết hoá thành trên 50 lĩnh vực khác nhau ngoài ra còn đưa thêm các khái
niệm như “dự án xây dựng khu nhà ở”, “dự án xây dựng công trình dân
dụng khác”.
(623)
Nghị định 84 năm 2007 bổ sung một loạt khái niệm không có trong Luật
Đất đai như “Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh
tế quan trọng”; Nhà nước thu hồi đất để “xây dựng các khu kinh doanh
tập trung”. Theo đó, các dự án khu dân cư (bao gồm dự án hạ tầng khu dân
cư và dự án nhà ở), trung tâm thương mại, khách sạn cao cấp; dự án khu
thương mại - dịch vụ, khu vui chơi giải trí ngoài trời, khu du lịch… đều
thuộc danh mục Nhà nước thu hồi đất để phát triển, xây dựng. Danh mục
các trường hợp Nhà nước thu hồi đất còn được mở rộng hơn khi Bộ Tài
nguyên và Môi trường ban hành Thông tư 06 hướng dẫn thi hành chi tiết.
(624)
Ngày 5-1-2012, khi bị huyện Tiên Lãng, Hải Phòng, cưỡng chế thu hồi
19,5 hecta đất đầm do chính anh khai hoang, lấn biển và được huyện, năm
1997 giao với thời hạn 14 năm, người nhà anh Vươn đã dùng súng đạn ghém
bắn bị thương 6 công an và bộ đội. Anh Vươn và 3 người em sau đó đã bị
bắt, bị khởi tố với tội danh giết người. Ngày 24-4-2012, 160 hộ dân Văn
Giang, Hưng Yên, đã chống lệnh cưỡng chế thu hồi đất của họ giao cho dự
án Ecopark.
(625) Nghị quyết 10 ban hành tháng 4-1988 trong năm ấy sản lượng lương thực tăng lên 2 triệu tấn.
(626)
Năm 1995, sau gần 10 năm đổi mới, GDP bình quân đầu người tính theo sức
mua, Việt Nam vẫn thua Thái Lan 4,4 lần, thua Singapore 27 lần và thua
Hàn Quốc 13 lần. Năm 2009, theo Báo cáo Phát triển Việt Nam của Ngân
hàng Thế giới, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam vẫn bị tụt hậu
51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với
Singapore. Nhưng, “cơm, áo” chỉ là một phần nhu cầu của con người. Người
dân Việt Nam còn xứng đáng được hưởng những giá trị mà người dân ở các
quốc gia tự do đang được hưởng.
(627) Xem Chương III Đánh Tư Sản.
(628)
Mặc dù tuyên bố từ con để gây áp lực nhưng trước khi ra đi theo “Phương
án II”, ông Lý Tích Chương đã tìm một người Hoa thân tín, gửi lại 10
lượng vàng, dặn cứ để cho Lý Mỹ nếm cực khổ, tới khi nào cô không chịu
nổi nữa thì đưa số tiền ấy cho cô vượt biên. Khi ngôi nhà cha mẹ để lại
cho Lý Mỹ bị chiếm mất, thay vì đấu tranh để trả lại tài sản cho cô, Lý
Mỹ lại được động viên, “lý tưởng Đoàn không cần tài sản”. Nhưng kể từ
đó, cho dù được những đoàn viên cộng sản thế hệ 30-4 cố gắng quan tâm,
Lý Mỹ bắt đầu khép mình, cô độc. Đêm nào Lý Mỹ cũng phải sống trong nước
mắt, phải sống trong những lúc đói quay quắt, những lúc bị đòi nợ…
Chính tình thương yêu gia đình đã giúp Lý Mỹ vượt qua những cám dỗ. Cô
tiểu thư con nhà tư sản ấy, mỗi tối lại đi bưng cà phê, đi dọn bàn kiếm
tiền… để học xong đại học. Năm 1985, không thấy Lý Mỹ vượt biên, người
bạn của gia đình mới trao lại 10 cây vàng cho cô làm ăn. Đến lúc ấy, Lý
Mỹ mới biết, chuyến vượt biên của gia đình thành công. Nhưng trong thời
gian ở trại tị nạn Malaysia, ông Lý Tích Chương lâm bịnh. Vào đúng hôm
gia đình được chấp nhận đi định cư ở Úc, ông Chương mất. Tuy Lý Mỹ đã
không bỏ Việt Nam ra đi như gia đình cô tiên liệu, nhưng cô cũng không
trở thành một Pavel Korchagin (Nhân vật trong tiểu thuyết How the Steel
Was Tempered của Nikolai Ostrovsky). Như một thanh thép đã được tôi, Lý
Mỹ tự chọn lấy con đường cho mình. Cô nữ sinh điển hình trong chiến dịch
cải tạo tư sản năm 1978, 30 năm sau, lại trở thành một nhà tư sản. Lý
Mỹ hiện cùng chồng, hoạ sỹ Nguyễn Văn Vinh, sở hữu bốn công ty kinh
doanh trong lĩnh vực truyền thông và xuất nhập khẩu.
(629) Thư gửi UBND các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia 2000, tập 4, trang 64-66.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Chú ý: Điền vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
Sẽ xóa những comment không phù hợp
Thinhoi001