TÌM HIỂU VĂN HỌC YÊU NƯỚC THẾ KỶ XV QUA TRƯỚC TÁC CỦA NGUYỄN HUỆ CHI VÀ NHỮNG BÀI HỌC LỊCH SỬ CHO ĐỜI NAY
Vũ Ngọc Tiến
|
Được tin GS Nguyễn Huệ Chi vừa được Hội nhà văn Hà Nội xét tặng giải thưởng 2013 cho công trình nghiên cứu Văn học Cổ cận đại Việt Nam – Từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật, nhà văn Vũ Ngọc Tiến gửi đến BVN bài viết sau đây, vốn đã đăng trên Viet-studies mà tác giả có hiệu chỉnh ít nhiều. Xin đăng lên để bạn đọc cùng thưởng lãm.
Bauxite Việt Nam
|
1- Tình trạng đất nước 3 thập niên đầu thế kỷ XV và bài học giữ nước
Trong
phần này, chỉ giới hạn trên tư cách nhà văn bản học và sử gia, và với
quan điểm “triết - văn - sử bất phân”, tác giả đã kỳ công truy tìm, khảo
cứu, đưa ra những văn bản cổ chân xác để bóc trần tham vọng điên cuồng,
âm mưu nham hiểm, thủ đoạn tàn độc của bọn xâm lược Minh, đồng thời lý
giải đầy sức thuyết phục nguyên nhân thất bại của nhà Hồ và nhà Hậu
Trần. Từ đó, tác giả khẳng định cống hiến to lớn của Lê Lợi và những anh
hùng trong đội quân khởi nghĩa Lam Sơn đã cứu dân tộc ta thoát khỏi
nguy cơ Bắc thuộc lần thứ hai. Như lời tác giả viết: “Bộ mặt lịch sử của
thế kỷ XV đã hiện ra với tất cả sự khốc liệt và dữ dội” (tr. 667). Về
phía giặc, vua Chu Đệ nhà Minh (Minh Thành Tổ) luôn thèm khát mảnh đất
phương Nam giàu có, lại hằn học vì sự thất bại cay đắng của các hoàng đế
Trung Hoa thời trước trên đất Đại Việt nên đã chỉ thị cho thuộc hạ
không từ một thủ đoạn hèn hạ, xảo quyệt, độc ác nào trong lịch sử nhân
loại để biến nước ta thành quận huyện của chúng. “Trương Phụ đi đến đâu
là giết hại hoặc chất thây người thành núi, hoặc rút ruột người quấn vào
cây, hoặc rán thịt người lấy mỡ, hoặc làm nhục hình bào lạc để mua vui.
Thậm chí có kẻ mổ bụng người chửa, moi thai, cắt lấy tai của mẹ và con
để tính làm hai mạng người” (tr. 672). Cướp giết chưa đủ, chúng còn đốt
sạch, phá sạch mọi dấu vết văn minh, văn hóa người Việt. Sắc chỉ bí mật
của vua Minh Thành Tổ còn ghi: “… hết thảy mọi sách vở văn tự cho đến cả
những loại (sách) ca lý dân gian hay sách dạy trẻ, như loại sách có câu
“Thượng đại nhân, khưu ất dĩ” một mảnh một chữ đều phải đốt hết.
Khắp trong nước, phàm những bia do Trung Quốc dựng từ xưa đến nay đều
giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá sạch hết thảy, một
mảnh, một chứ chớ để còn” (sắc chỉ này được chính Minh Thành Tổ ban bố
những hai lần) (tr. 678). Hay như lời kết tội đanh thép của tác giả:
“Chúng tìm cách thâu tóm vào tay mình hoặc nếu không thì triệt cho bằng
hết trong đám người còn sống sót những ai thật sự có tài năng. Hễ nghe ở
đâu trong các châu quận nước ta có thầy hay, thợ giỏi, bọn quan cai trị
đều cho lập danh sách đem tiến về Yên Kinh” (tr. 673). Điều đặc biệt
nguy hại là giặc Minh đã thâm hiểm áp đặt một cách gay gắt vấn đề hệ tư
tưởng đối với xã hội nước ta. Trong “Chiếu bá cáo thiên hạ về bình định
An Nam” của vua Chu Đệ nhà Minh đã thể hiện rõ sự hằn học của kẻ bá
quyền cả về mặt tư tưởng vì y thấy vua nhà Hồ đã dám coi thường, phỉ
báng cái đạo mà các hoàng đế Trung Hoa tôn thờ: “Coi đạo của mình hơn cả
Tam vương, đức cao hơn Ngũ đế; cho Vũ, Thang, Văn vương, Vũ vương không
đủ để noi theo; Chu Công, Khổng Tử không đáng làm thầy mình, Mạnh Tử là
nhà Nho ăn cắp…” (tr. 677). GS Huệ Chi đã phân tích rất sâu “mục tiêu
tối hậu” ẩn sau cái gọi là sắc chỉ 10 điều của Minh Thành Tổ gửi Tổng
binh Chu Năng: “Vậy ra, sự lựa chọn của y chẳng phải là đạo Nho hay một
hệ tư tưởng chính thống nào cả. Đối với người Giao Chỉ cũng như các dân
tộc bị y xâm lược, y chỉ cần một sự lựa chọn đơn giản mà lại thực dụng
hơn nhiều: hãy bắt họ từ bỏ tất cả những gì sinh ra trong đầu óc của
chính dân tộc họ kể cả trong quá trình tiếp nhận những gì là vốn liếng
tinh thần của “nước mẹ Đại Minh”. Ý hẳn hoàng đế nhà Minh muốn bắt các
dân tộc thôi đừng có tự mình tư tưởng nữa. Mà không tư tưởng thì có
nghĩa là… không tồn tại!” (tr. 678). Đọc những trang viết của tác giả
với những bằng chứng lịch sử chắc nịch, trích dẫn cẩn trọng từ các văn
bản chữ Hán trong các đạo chỉ dụ của vua Minh, người đọc không thể không
liên tưởng đến hiện tình đất nước từ sau cuộc chiến biên giới tháng
2/1979 đến nay. Trong tâm thế cồn cào bất an ấy, tôi chợt nhớ tới bài từ
của một vị hoàng đế mới của nước Trung Hoa thời hiện đại. Ông ta làm
bài từ “Tuyết” khi ngồi trên máy bay rời Trùng Khánh về lại Diên An, sau cuộc hội đàm với Tưởng Giới Thạch. Bài từ có đoạn:
“… Nhi kim ngã vị Côn Lôn
Bất yếu giá cao, bất yếu giá đa tuyết.
Ỷ thiên trừu bảo kiếm
Bả nhữ tài vi tam triệt:
Nhất triệt di Âu
Nhất triệt tặng Mỹ
Nhất triệt lưu Trung Quốc.
Thái bình thế giới
Hoàn cầu đồng thử lương nhiệt”.
Dịch là:
“…Này ta bảo cho núi Côn Lôn kia biết
Mi không cần cao như thế, không cần nhiều tuyết như thế
Nếu ta tựa lưng được vào trời rút bảo kiếm
Ta sẽ chặt mi làm ba khúc:
Một khúc gửi châu Âu
Một khúc tặng châu Mỹ
Một khúc lưu lại Trung Quốc
Lúc đó thế giới tất thái bình
Quả đất chung một cơn ấm lạnh”.
Thế
đấy. Vào lúc Thế chiến thứ Hai sắp tàn cuộc, cầm chắc thắng họ Tưởng
trong tay, sẽ lên làm hoàng đế nước Trung Hoa mới, tác giả đã vội ôm
giấc mộng bá chủ thế giới và sỗ sàng gửi nó vào những lời từ nghe
như có âm thanh “sang sảng” của chính mình. Các thế hệ cầm quyền sau
ông ta cũng thế cả thôi. Bài học lịch sử thế kỷ XV nhắc chúng ta hãy
cảnh giác. Nói như nhà văn Hoàng Quốc Hải: “Cả dân tộc Việt lúc này sống
bên cạnh ông bạn láng giềng khổng lồ đầy tham vọng bá quyền đại Hán hãy
nên chỉ ngủ bằng một con mắt!”
Tình trạng đất
nước đầu thế kỷ XV trong trước tác của GS Nguyễn Huệ Chi còn cho ta
nhiều bài học thấm thía khác nữa. Nhà Trần sau hơn 100 năm oanh liệt,
đến 3 thập niên cuối thế kỷ XIV đã suy thoái, mục ruỗng cực độ nên vương
triều mất về tay nhà Hồ, xét cho cùng cũng là tất yếu lịch sử. Đáng
tiếc rằng cha con Hồ Quý Ly nắm quyền điều hành đất nước luôn trong tâm
lý tự kỷ ám thị về xu hướng phục Trần diệt Hồ, từ chỗ xa dân, ngờ dân
đến chỗ sợ dân nên đã phải chống giặc Minh trong thế cô độc, chỉ chưa
đầy một năm đã nhanh chóng thất bại. Lực lượng kháng chiến của nhà Hậu
Trần dù được lòng dân ủng hộ, nhưng nội bộ lại cắn xé lẫn nhau, tranh
giành quyền lực nên cũng chỉ tồn tại được 7 năm (1407 - 1414) cũng bị
giặc Minh tiêu diệt. Đối lập với hai bài học thất bại vừa nêu là bài học
thành công của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và 10 năm kháng chiến chống giặc
Minh (1418 - 1428). Lê Lợi – vị lãnh tụ tài ba và uy tín của nghĩa quân
đã biết tập hợp sức dân, thu phục được các thủ lĩnh của các cuộc khởi
nhĩa nhỏ lẻ khác như Nguyễn Chích, biết dàn hòa mâu thuẫn giữa nhóm văn
hóa kinh lộ và nhóm văn hóa Việt – Mường trong bộ tham mưu khởi nghĩa…
nên lực lượng ngày một lớn mạnh. Sau 5 năm khốn khó ở miền núi phía Tây
tỉnh Thanh Hóa, nghĩa quân đã chuyển hướng Nam tiến, giải phóng vùng
lãnh thổ từ Thuận Hóa ra Thanh – Nghệ, sau đó mới Bắc tiến, giải phóng
toàn bộ lãnh thổ Đại Việt. Bài học này cho thấy, Lê Lợi được lòng dân là
được tất cả và ông xứng đáng là vị anh hùng dân tộc đã có công cứu Đại
Việt thoát khỏi nguy cơ Bắc thuộc lần thứ hai. Bên cạnh Lê Lợi, hình ảnh
Nguyễn Trãi đại diện cho tầng lớp trí thức đã giữ vai trò không nhỏ vào
thắng lợi của nghĩa quân Lam Sơn. Những phân tích sâu sắc của GS Huệ
Chi đối với tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” cho thấy tác giả
đánh giá rất cao tài ngoại giao khôn khéo của Nguyễn Trãi. Toàn bộ tác
phẩm văn xuôi của ông trong giai đoạn này toát lên tinh thần “lấy đại
nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” và ông là người khơi
dòng, mở đường cho thể văn chính luận đặc sắc thời Lê…
2- Tìm hiểu văn học thời Lê Sơ và bài học về quản trị, xây dựng đất nước
Tôi
dùng cụm từ “văn học thời Lê Sơ” thay cho cụm từ “văn học yêu nước thế
kỷ XV cùng những bước nối tiếp về sau” vì thực ra trong phần hai này,
tác giả đã bàn cả đến văn học yêu nước thế kỷ XVI-XVII với dung lượng
khá lớn (tr.715-725). GS Huệ Chi là người khởi xướng và kiên trì thực
thi lý thuyết về phân kỳ văn học trong nghiên cứu văn học sử nên ngay
trong phần hai của công trình nghiên cứu, ông cũng đã phân chia khá
chuẩn xác thành bốn giai đoạn 1406 - 1417, 1418 - 1428, 1428 - 1497 và
từ 1497 trở về sau. Ở mỗi giai đoạn tác giả đều có những nhận định xác
đáng, cách xử lý văn bản và hướng tập trung khai thác khác nhau. Nếu ở
giai đoạn thứ nhất, văn học yêu nước mang âm hưởng chung là sự mặc cảm
thất bại, nỗi u hoài và niềm uất giận kẻ thù nên tác giả chỉ tập trung
phân tích mấy bài thơ của Nguyễn Trãi, Lê Thiếu Dĩnh, Vũ Mộng Nguyên,
Nguyễn Biểu…, thì ở giai đoạn hai ông lại tập trung nghiên cứu, phân
tích tỷ mỷ thể loại văn xuôi trong “Quân trung từ mệnh tập” để
làm nổi bật lên cuộc bút chiến văn chương trong đấu tranh ngoại giao với
giặc Minh, đề cao đại nghĩa của ta, bóc trần âm mưu thâm độc và tính
chất phi nghĩa trong hành động của kẻ thù (Trước đó, ông đã có hẳn một
bài viết dài, đặc sắc và thấu triệt, bàn toàn diện “Quân trung từ mệnh tập”
của Nguyễn Trãi – tr. 113-178), đặc biệt nhấn mạnh tư duy phân loại
trong tác phẩm bất hủ này, đánh dấu triết thuyết “an chỉ” thâm hậu của
ông. Về mặt nghệ thuật thể hiện, GS Huệ Chi cũng có những tổng kết lý
thú: “Chưa bao giờ văn xuôi Việt Nam lại gọn ghẽ, đanh thép, chặt chẽ
đến như vậy… Phong cách chính luận rắn rỏi chiếm ưu thế. Song chính luận
không lấn át, trái lại luôn quyện chặt với trữ tình” (tr. 706).
Có
lẽ giai đoạn thứ ba (1428 - 1497), nhất là quãng thời gian Lê Thánh
Tông cầm quyền (1459 - 1497), văn học yêu nước phát triển khá rực rỡ,
đông đảo về số lượng tác giả, đồ sộ về khối lượng văn bản, đa dạng về đề
tài và thể loại, khởi sắc về nội dung – thấm đẫm tinh thần yêu nước,
niềm tự hào dân tộc. Và vì thế, những gì là tinh túy trong nghiên cứu
văn học sử của GS Huệ Chi đến phần này, như tính chuẩn mực trong thao
tác văn bản học, sự tinh tế và uyên áo trong thẩm văn, nét tài hoa trong
dịch thuật… đã đạt tới mức tinh luyện. Tác giả có một phát hiện về sự
chuyển đối bản sắc của hình tượng nhân vật anh hùng, về cách so sánh
địch – ta trong văn học giai đoạn chiến tranh (1418 - 1428) và giai đoạn
thời bình (1428 - 1497) với nhiều ẩn ý, buộc người đọc phải đào bới sâu
qua từng vỉa quặng ngôn ngữ mới cảm nhận hết được cái điều ông muốn
nói: “Nhưng nói chung, khi hình ảnh tập thể nghĩa sĩ chống giặc đã
nhường chỗ cho hình ảnh một cá nhân anh hùng, vị hoàng đế anh hùng, rồi
sau đó là một triều đại thì sự so sánh ở đây cũng chuyển sang một hướng
khác: không so sánh nhiều quân ta với quân giặc nữa mà so sánh nhà Lê
với nhà Hán, nhà Đường. Chủ ý của so sánh là muốn làm nổi bật công lao
cứu nước, dựng nước, tinh thần thân dân và tấm lòng độ lượng, bác ái của
vua Lê, khác xa việc tranh giành ngôi báu trong nội bộ quốc gia nhà
Hán, giữa các tập đoàn phong kiến Việt và Ngô, Hán và Sở, Đường và Tùy…”
(tr. 710). Tôi rất hào hứng khi đọc những trang ông phân tích về đề tài
dựng nghiệp, đề tài bang giao và đề tài lịch sử của văn học giai đoạn
này (tr. 709-713).
Có thể do kết cấu của công trình nghiên cứu, hoặc do muốn nhấn mạnh đặc điểm hồi cố
của tâm lý yêu nước trong lòng dân tộc ở các thời đại sau, nên việc lắp
ghép văn học yêu nước từ 1497 vắt sang thế kỷ XVI-XVII vào chung với
dòng chảy văn học yêu nước của các giai đoạn trước, theo tôi nghĩ, có
phần nào gượng ép. Những văn bản tác phẩm văn học được tác giả đưa vào
phân tích công phu như truyện thơ “Tống Trân - Cúc Hoa” và “Phạm Công - Cúc Hoa” (tr. 718-720) hay 4 truyện ngắn “Hai gái thần”, “Người trần ở thủy phủ” trong “Thánh Tông di thảo” và “Chức phán sự đền Tản Viên”, “Lệ Nương” trong “Truyền kỳ mạn lục”
(tr. 722-725) về hình thức nghệ thuật thật ra chỉ mang ý nghĩa xác lập
một bước tiến mới trong văn xuôi; còn về nội dung hàm chứa giá trị xã
hội và nhân văn là chính, và tất nhiên sự kết đọng tính dân tộc
thì vẫn là một tố chất không thiếu, song tinh thần yêu nước trực diện
trong đó thì phải nói đã khá nhạt nhòa (!?). Bởi thế, như trên đã nói,
tôi xin không đi vào các phần này.
Nhìn một cách
tổng thể, đúng như lời khẳng định của GS Huệ Chi, văn học yêu nước
chống giặc Minh thế kỷ XV là sự nối tiếp dòng chảy văn học yêu nước thời
Lý – Trần. Văn học yêu nước trong 10 năm trường kỳ kháng chiến chống
giặc Minh (1418 - 1428) phản ánh sự trưởng thành vượt bậc của con người
Việt Nam so với thời Trần, thông qua thực tiễn chiến đấu bảo vệ đất
nước, giúp đúc kết thành khái niệm “dân” của Nguyễn Trãi trong mối quan
hệ với khái niệm “nước”; hình ảnh “một mảnh nhung y nên công đại định”
thực chất là quy tụ trong nó cả một tập thể những con người bình dị như
“rừng cây xúm xít, răng lược khít nhau” vây lấy kẻ thù cho đến lúc chúng
phải quy hàng. Nếu ta đọc kỹ bài “Đề nghị một cách hiểu mối quan hệ giữa văn học thời Trần và cuộc kháng chiến chống xâm lược thời Trần”
trong tuyển tập (tr. 903-923) sẽ thấy khái niệm “dân” trong các tác
phẩm của Nguyễn Trãi có nhiều điểm mới so với khái niệm “dân” trong tác
phẩm “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn. Nhưng nhà Trần, nhất là
vua Trần Nhân Tông, lại cũng có những tư chất thiên bẩm riêng để tụ hội
nên sức mạnh thắng giặc: về triết lý “biết nắm vững phạm trù động – tĩnh”,
“biết cách vượt qua thử thách trong tư thế của người lúc nào cũng tự
chủ – tự tại”, “giữa một trạng thái vần xoay liên miên tột cùng của cả
thế giới” (tr. 907); về đạo lý biết sống khoan hòa, nhân ái, “có niềm
tin vững chắc vào con người... không hề thần thánh hóa, tuyệt đối hóa
con người nhưng lại biết tin ở sự vận động, biến cải, lớn lên của mỗi
con người cụ thể”, nhờ đó, “đã không chấp nê vào mọi định kiến cũ, mà
kiên quyết, táo bạo trong cách dùng người” (tr. 911); “biết đánh giá cao
phẩm chất của những nô tỳ”, đến mức “dường như muốn bất chấp thành kiến
đẳng cấp nghiêm ngặt, yêu cầu điều chỉnh khái niệm người và khái niệm dân
theo hướng xích gần lại với những lớp người lâu nay vẫn mất quyền làm
người và làm dân trong xã hội” (tr. 912); và hơn thế nữa đã bước đầu “phát hiện ra tính người”
qua những hành động cao nhã hiếm thấy như cởi áo hoàng bào đắp lên đầu
tướng giặc Toa Đô, hay bày tỏ tình thương một tên tù ở chỗ nhìn ra giữa y
và những người thắng trận đều có cùng một phẩm chất, một trái tim
thương nhớ như nhau (bài thơ Ai phù lỗ của Huyền Quang – tr.
913)... Ở chỗ này thì tầm vóc cuộc kháng chiến chống Minh chưa chắc đã
cao trội hơn được, trái lại việc nhận thức khái niệm “người” trong thơ
văn yêu nước suốt cả một thế kỷ XV dường như lúc nào cũng bị cái hình
ảnh “đấng minh quân” đứng ở vị trí trung tâm lấn át; vì thế khi hết
chiến tranh, tư tưởng “dân” tiến bộ của Nguyễn Trãi đã không được Lê Lợi
và triều đình thời Lê Sơ phát huy, mà kết cuộc, mọi mặt của xã hội
triều Lê lại là một bước lùi so với thời kỳ hưng thịnh của triều Trần.
Chỉ so sánh sơ qua vài khía cạnh ở hai bài viết khác nhau về cùng một
chủ điểm là văn học yêu nước của hai thời đại cũng đủ thấy, phương pháp
tiếp cận đối tượng của nhà học giả không hề cứng nhắc đúc khuôn theo một
kiểu. Ông biết vận dụng nhiều thủ pháp thích đáng để nhìn sâu, rút ra
những kết luận cụ thể, những bước tiến bước lùi cụ thể đối với từng đối
tượng đặc thù, có khi tưởng như nghịch lý đấy, nhưng kỳ thực, đấy mới
đúng là biện chứng của lịch sử. Nhìn được như thế phải nói bút lực của
người viết thâm hậu, cao minh đến bậc nào.
Tuy
nhiên, nhắc tới văn học thời Lý - Trần ta còn phải thấy có hai đỉnh chói
sáng là dòng văn học yêu nước do các danh nho, danh tướng sáng tác và
dòng văn học Thiền do các vua Trần và Thiền sư sáng tác. Vì thế, trong
tôi chợt bộn lên điều trăn trở, thắc mắc: vì sao trong suốt thời Lê sơ
văn học Thiền đột nhiên vắng bóng? Nguyên nhân do đâu và điều này tác
động vào xã hội Việt Nam thời đó ra sao? Tôi lật mở phần “Tiếp cận các hiên tượng văn học I & II”
của tuyển tập, đọc lại các bài viết của GS Huệ Chi về Mãn Giác (tr.
51-59), Trần Nhân Tông (tr. 337-359), Trần Tung (tr. 375-406), Chu Văn
An (tr. 360-374), chùa Quỳnh Lâm và thi phái Bích Động (tr. 924-944)...
càng thêm hứng thú với thơ Thiền thời Lý – Trần. Tiếp cận thơ Thiền, nắm
bắt được thần thái nội dung và nghệ thuật tác phẩm; hiểu sâu và diễn
giải bằng thứ ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu triết lý thâm viễn của tác
giả thì có lẽ GS Huệ Chi là một trong những cây bút có ưu thế khó chối
cãi hiện nay. Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác từng nói: “Đọc sách hiểu
được đã khó, nhưng cái cần thiết hơn là phải lý rộng ra ngoài sách”.
Trên tinh thần ấy, cộng với quan điểm “triết - văn - sử bất phân”mà tác
giả lưu ý, tôi muốn mở rộng thêm chút ít, đi tìm lời giải đáp những câu
hỏi vừa nêu, nhìn bề ngoài ngỡ như thoát ly khỏi văn bản trước tác của
ông, nhưng ngẫm kỹ thì nó cũng vẫn gắn bó với những gì hàm chứa trong đề
tài nghiên cứu của tác giả, cho ta những bài học lịch sử thấm thía, có
giá trị thời sự hôm nay. Lê Lợi – vị thủ lĩnh tài ba của nghĩa quân Lam
Sơn, anh hùng giải phóng dân tộc, nhưng khi bước vào chính sự cung đình,
ngồi trên ngai vàng quyền lực ông đã phạm phải hai sai lầm đáng tiếc:
về quản trị đất nước, ông lo giữ ngai vàng cho dòng tộc mà thẳng tay
giết hại công thần; về xây dựng đất nước, ông đã thiết lập một nền giáo
dục quan phương, độc đoán, vứt bỏ tam giáo đồng nguyên thời Lý – Trần,
đưa Tống Nho lên hàng độc tôn tư tưởng ở các trường học từ kinh đô đến
các lớp học của các thầy đồ ở làng quê. Việt Nam nằm trong địa vực văn
minh Hoa – Ấn nên từ xa xưa đã chịu ảnh hưởng của ba dòng triết học lớn,
đặc sắc của phương Đông là Nho - Phật - Lão giáo. Vào giai đoạn phồn
thịnh thời Lý – Trần, tinh thông tam giáo là tiêu chuẩn kén chọn hiền
tài nên vua, quan và tầng lớp sĩ phu có tư tưởng phóng khoáng, giàu sức
sáng tạo; còn trong dân chúng tính gắn kết cộng đồng rất cao. Nhờ đó đất
nước ổn định và phát triển, văn học hưng thịnh. Thật ra, trong một công
trình nghiên cứu khác, “Các yếu tố Nho - Phật - Đạo được tiếp thu và ảnh hưởng thế nào trong đời sống tư tưởng và văn học thời đại Lý – Trần”
(tr. 875-902), GS Huệ Chi cũng đã có những kiến giải độc đáo về tầm ảnh
hưởng của Nho - Phật - Lão và sự chuyển hóa tất yếu của chúng trong đời
sống tinh thần cũng như trong thực tiễn sinh hoạt của xã hội dân tộc
Việt. Tôi chỉ là người kế tiếp ông lý giải về nó ở một khía cạnh khác mà
thôi. Trong ba dòng triết học nói trên thì đạo Lão khi vào nước ta vai
trò và ảnh hưởng khá mờ. Sự cạnh tranh ảnh hưởng trong xã hội chủ yếu là
giữa Nho và Phật. Chính sự cạnh tranh đó đã phát huy mặt tích cực, hạn
chế mặt tiêu cực của mỗi đạo. Quá trình thu nhận và tiếp biến văn hóa
của hai đạo Nho, Phật ở nước ta cũng có nhiều điểm khác nhau, thậm chí
trái ngược nhau. Triết học của Nho giáo, theo học giả Trần Trọng Kim thì
ngay ở xứ sở phát sinh là Trung Quốc đã có sự tiếp biến thụt lùi về giá
trị tư tưởng từ Nho Tiên Tần của Khổng - Mạnh qua Hán Nho của Đổng
Trọng Thư đến Tống Nho của Chu Hy và Trình Hạo, mỗi lần biến đổi lại mất
đi những điểm ưu so với trước đó. Đạo Nho vào nước ta theo vó ngựa của
quân xâm lược nên trong tâm lý cộng đồng người Việt đã đã có sự e dè
nên chỉ trụ lại một cách thụ động trong giới sĩ phu, còn trong dân chúng
luôn ngấm ngầm phản kháng. Trong dân gian đã từng có những câu giễu
nhại đạo Nho khá sâu cay, không chỉ cười cợt thứ châm ngôn giáo điều
cứng nhắc của các bậc “sư biểu” chuyên đi rao giảng cho người mà chưa
chắc đã hiểu gì thực tế, mà còn khôn khéo dạy lại các vị về bản tính
đích thực của con người: “Nhân chi sơ là sờ vú mẹ, tính bản thiện là miệng muốn ăn”.
Đạo Phật vào nước ta sớm hơn vào Trung Quốc, lại theo con đường hòa
bình của các thuyền buôn nên được cộng đồng người Việt đón nhận một cách
chủ động. Quá trình thích ứng văn hóa của đạo Phật với văn hóa Việt Nam
từ thế kỷ thứ nhất đến cuối thế kỷ XIII luôn theo chiều hướng tích cực
là chủ yếu. Vào thời nhà Trần, với sự kiện vua Trần Nhân Tông lên núi
Yên Tử khai sáng ra Thiền phái Trúc Lâm riêng của Đại Việt thì nền triết
học đạo Phật nước ta đã đạt tới mức hoàn thiện, có quy chế triết học
chặt chẽ gọi là Pháp ấn. Ai lĩnh hội được Pháp ấn, suốt đời hành xử theo
nó như nắm được giấy thông hành về cõi Niết Bàn. Nếu điểm tựa triết học
của Nho giáo là Ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) thì điểm tựa của Phật giáo, kết đọng tinh hoa trong Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là Ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức)
và cả hai đều là những nhịp biến đổi tuần hoàn của thế giới và tâm linh
con người, nhưng lại có những nét thâm viễn, độc đáo riêng. Từ điểm tựa
đó hình thành nội dung của Pháp ấn gồm bốn luận điểm triết học cơ bản:
vô tạo giả, vô ngã, vô thường và nhân quả tương tục (bao chứa cả yếu tố duy vật, biện chứng và hiện sinh chủ nghĩa).
Bốn luận điểm triết học này là tiền đề dẫn đến nhân sinh quan của đạo
Phật coi cuộc đời là bể khổ, nước bốn biển không nhiều bằng nước mắt
chúng sinh. Muốn diệt khổ thì con người phải sống theo phương châm tự độ
độ tha – tự giác giác tha, còn hành xử thường nhật phải theo phép ứng
xử Lục hòa (thân hòa, khẩu hòa, ý hòa, kiến hòa, giới hòa, lợi hòa).
Tất thảy chúng sinh đều làm được như thế thì thế giới đại đồng, con
người sống hạnh phúc trong môi trường xã hội kiêm ái tương lợi. Và vì
thế, các vị Trúc Lâm Tam Tổ chủ trương tu trong một kiếp, đốn ngộ thành
Phật chứ không đợi ở kiếp sau. Đó là phép tu chủ động, tích cực, giúp
con người Việt Nam ta sống tử tế trong thời bình; còn khi sơn hà nguy
biến, nó sẽ là chất keo gắn kết cộng đồng thành sức mạnh đại đoàn kết
dân tộc, nhấn chìm mọi thế lực ngoại xâm phương Bắc. Lê Lợi lên ngôi đã
chèn ép đạo Phật gay gắt tức là đã từ bỏ những tinh hoa của một hệ tư
tưởng tiến bộ, đầy chất nhân văn cao cả, giàu sức sáng tạo của Thiền
phái Trúc Lâm rất riêng ở Đại Việt. Bởi vậy mà suốt thời Lê Sơ văn học
nước nhà vắng bóng thơ Thiền! Các triều đại thời Lê Sơ đưa Tống Nho lên
địa vị độc tôn trong giáo dục, thành thống soái trong hệ tư tưởng của
toàn xã hội, tự giam trói cả dân tộc vào thứ đạo Nho hai lần bị bóp méo
nên nền học nước nhà ngày càng trở nên trì trệ, bế tắc, chạy theo khoa
bảng mà tầm chương trích cú, không có tranh biện, phản bác hoặc bổ sung
cho nhau giữa học thuyết Nho và Phật. Nền giáo dục đó chỉ sản sinh ra
những lứa trí thức chỉ biết vâng lời, lẻo mép, cơ hội để vinh thân phì
gia, khô cứng tư duy, cùn mòn sáng tạo. Một khi nền học đã suy đồi, bế
tắc thì kỷ cương xã hội cũng bị đảo lộn, đạo đức con người băng hoại,
làm sao có thể có được nguồn nhân lực chất lượng cao để quản trị và xây
dựng đất nước! Nhìn lại thực tế lịch sử 100 năm thời Lê Sơ ta chỉ thấy
lóe sáng được 38 năm nhờ một ông vua sáng suốt Lê Thánh Tông. 31 năm đầu
(1428 - 1459) đất nước vừa đại thắng giặc Minh đã rơi ngay vào khủng
hoảng chính trị triền miên, nhất là sau khi Lê Lợi chết thì bọn quyền
thần vô học như Lê Sát, Lê Ngân khuynh đảo chính trường, dân tình điêu
đứng. Từ năm 1497 - 1527, các triều vua kế tiếp cứ lụn bại dần rồi để
mất Thăng Long về tay nhà Mạc bởi đất nước không có nguồn nhân lực tốt
làm nền tảng cho sự kế thừa những thành quả 38 năm phát triển do vua Lê
Thánh Tông dày công vun đắp. Thiết nghĩ, bài học lịch sử này đến nay vẫn
còn nguyên vẹn tính thời sự bởi ngành Giáo dục - Đào tạo nước nhà đang
xuống cấp nghiêm trọng mà nguyên nhân sâu xa bên trong, mọi biểu hiện
bên ngoài không khác gì nhiều so với thời Lê Sơ…
Lời kết
Việc
tập hợp và biên tập, tuyển chọn công phu các công trình nghiên cứu văn
học sử của GS Nguyễn Huệ Chi trong hơn nửa thế kỷ qua là một thành công
lớn của NXB Giáo dục, đóng góp không nhỏ cho việc dạy và học các môn
khoa học xã hội ở bậc phổ thông và đại học cả về kiến thức lẫn phương
pháp tư duy. Những phát kiến quan trọng của ông trong tuyển tập dày
1.200 trang này không chỉ thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê
bình văn học mà giới sáng tác cũng tìm thấy trong đó nhiều điều bổ ích
về đề tài sáng tác, cảm hứng sáng tạo nghệ thuật.
Hà Nội ngày 27/8/2013
V.N.T.
(*) NXB Giáo dục, H., 2013
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN. Bài đã đăng trên Viet-studies, bản gửi lần này có sửa sang thêm bớt một đôi điểm.
Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 08:26
nguồn:http://boxitvn.blogspot.com/2013/10/tim-hieu-van-hoc-yeu-nuoc-ky-xv-qua.html
=======================================================================
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Chú ý: Điền vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
Sẽ xóa những comment không phù hợp
Thinhoi001