Lưu Văn Vịnh - NHÂN ĐỌC SÁCH “VIỆT NAM Mãnh Hổ hay Mèo Rừng” của Phạm Văn Thuyết Ph.D.
at 5:57 PM
-Thay đổi cấp bách Giáo Dục
-Thay đổi tư duy phát triển từ kinh tế tập trung sang tư doanh.
-Thay đổi khung luật pháp cho kinh tế thị trường
-Từ thu nhập trung bình (hạng thấp) sang công nghiệp phát triển.
Cuốn sách 221 trang (Trẻ xb 9-2013), của một chuyên gia kinh tế
quốc tế, đầy kinh nghiệm nửa thế kỷ, từ thời Việt Nam Cộng Hoà tới Ngân hàng
Thế giới, xuyên qua nhiều dự án phát triển tại các nước Á-Phi. Tác giả, GS Phạm
Văn Thuyết Ph.D., trong cuốn sách loại Kinh tế xã hội hiếm hoi này, đã vạch ra
những nét chính yếu trong hành trình phát triển Kinh tế Việt Nam, từ thập kỷ
1960, qua 70, 80 cho tới hiện tại, với những nhận xét chuyên môn, khách quan,
điềm tĩnh, chỉ lối ra, lối thoát, cho một nước chậm tiến, đưa kế sách xây
dựng…khiến người đọc thấy được tổng thể và chi tiết, thấy được Việt Nam trong
bối cảnh Đông Á, giữa Singapore, Mã Lai, Thái, Nam Dương, Hàn quốc, Nhật Bản…
1- Sau 20 năm chuyển đổi, VN từ mức thu nhập 2-300usd một năm
nay đã đạt mức thu nhập trung bình (hạng thấp 1500usd-trong khi Thái Lan trên
5000, Tầu trên 6000), nhưng nếu không thay đổi toàn diện thì sẽ dậm chân tại
chỗ, bị các nước trong vùng bỏ xa 20-30 năm, họ đã cất cánh phát triển, là vì
VN đã bỏ lỡ cơ hội bùng nổ thương mại toàn vùng thập kỷ 70, và bây giờ vẫn lấy quốc doanh làm chủ đạo và khư khư giữ đặc quyền
đặc lợi, tước quyền sở hữu đất
đai của dân. Hậu quả là không ai dám đầu tư dài hạn, thấy bấp bênh nên chỉ
làm ăn bốc hốt, khó tìm tư nhân VN lẫn ngoại kiều đặt kế hoạch đầu tư dài hạn
20, 30 năm trở lên, hơn nữa muốn vay tiền thì không có bằng khoán bất động sản
thế chấp, luật pháp mù mờ, mỗi người một phách, chỉ tạo ra tham nhũng từ dưới
lên trên. Thật ra từ 2007, dòng vốn đầu tư nước ngoài ồ ạt đổ vào Việt Nam,
thay vì để đầu tư dài hạn công nghiệp, lại biến ra tiền dồn vào địa ốc, dẫn tới
bong bóng như bên Tầu, và ngay năm sau, 2008, lạm phát nặng do quản trị sai lầm
về dòng vốn đầu tư ngắn hạn trên (tr.73)
2- Cải cách khung
luật pháp của VN cần hơn
Trung quốc, là vì, theo tác giả, hai phần ba đầu tư nước ngoài vào TQ là do Hoa
kiều (Đài Loan, Hồng Kông), còn ở VN lại là ngoại kiều Âu Á…nếu bộ luật tài
sản, luật thương mại, thuế khoá, không minh bạch …thì VN không thu hút được đầu
tư dài hạn của doanh nhân quốc tế.
Luật lệ mờ ám dẫn tới tham nhũng, tham nhũng làm trì trệ phát
triển, do đó Ngân Hàng Thế giới năm 2012 đã ký kết thoả hiệp chống tham nhũng
với 4 ngân hàng phát triển quốc tế khác, và đã tài trợ 600 dự án chống tham
nhũng ở các nước với kết quả không khả quan lắm.
3-Từ 1989, VNCS mất viện trợ của Liên Sô, ngân sách thiếu
hụt, phải in tiền bù đắp, tạo lạm phát 100% năm 1991. Hệ thống ngân hàng độc
diễn -mono banking system- của miền Bắc khác xa miền Nam vốn đã có hệ
thống ngân hàng Âu châu và sau này tiến bộ hơn cả Pháp qua máy điện toán của Mỹ
đưa sang. Ngày nay, hệ thống ngân hàng VN vẫn chưa dùng chi phiếu (tr.52).
Với 12.000 cơ sở quốc doanh, cung cấp 860.000 công ăn việc
làm, nhân viên dư thừa, ăn cơm chúa múa tối ngày, kỹ thuật lỗi thời, quản lý
kém, thường thua lỗ vì thiếu khả năng cạnh tranh. Cho dù có cổ phần hoá, thì
quốc doanh vẫn là quốc doanh. Năm 2011 công ty Petrolimex lỗ 7 tỷ vnđ một ngày,
điện lực EVN lỗ 583 triệu usd, xi măng, cà phê, tơ tằm, công ty xây dựng, cho
tới Hàng không VN, 2012, đều thua lỗ. Quốc doanh xen cả vào các doanh nghiệp tư
như rượu bia, đường, hoá chất, vải sợi…trong tinh thần độc quyền độc diễn sẵn
có.
4- Trường hợp Đại
Hàn là một ngoại lệ : nhập
cuộc đúng thời điện tử vũ bão nên Hàn chỉ mất 30 năm để trở thành cường quốc
kinh tế, trong khi nhiều nước Âu Tây đã phải mất cả hai thế kỷ. Đặc biệt với TT
Phác Chính Hy, xuất khẩu mạnh mẽ, lập Viện Phát Triển Quốc Gia KID (Korea
Institute of Development), chính quyền can thiệp nhưng sát cánh cùng tư nhân,
quyết tâm đưa đất nước từ yếu đến mạnh, từ mạnh đến cường, là vì hệ thống hành
chánh liêm khiết, hữu hiệu, không có nhiều con mọt làm hư hoại quốc doanh lẫn tư
doanh. Hàn quốc cũng từng thất bại, phải bỏ công nghiệp nặng (1971-79) để trở
về xuất khẩu (từ 1980 tới nay-tr. 179), chú trọng vào công nghệ sản xuất (process
technology) hơn là thiết kế sản phẩm (product design). Tóm lại Đại Hàn đã tạo
được nền tảng công nghiệp (industrial base), công nghệ bản xứ phát triển mạnh
với trợ giúp kỹ nghệ nước ngoài.
5-Dù sao, ở VN, chiều hướng tư doanh không thể đảo ngược, lớp
lớp người năng động, nhất là ở miền Nam, sôi nổi đi vào thương trường, riêng
năm 2010 có 500.000 doanh nghiệp đăng ký, mỗi năm thêm 70.000 doanh nghiệp tư
làm ăn chấp nhận may rủi, một nửa số doanh nghiệp này đã bị phá sản, đóng cửa
vào năm 2011 do lạm phát và lãi suất vút cao (tr.25). Chính môi trường tư doanh
cạnh tranh mới có thể làm bật lên những doanh nhân xuất sắc, có khả năng quản
trị giỏi, tầm nhìn xa, để vận hành kinh tế toàn quốc và từ đó tham gia vào công
cuộc phát triển đất nước ( tr.153).
Tuy đã chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp, nhưng
hiện tại công nghiệp VN còn èo ọt không đủ sức cạnh tranh với sản phẩm nước
ngoài, từ kem đánh răng lẫn sà bông, cách xa Phi, Nam Dương từ 30-70 năm về giá
trị gia tăng sản xuất, năng xuất lao động chỉ bằng 61% các nước ASEAN,
22% Mã Lai và 12% Singapore. (tr. 163, trích theo Viện Nghiên cứu Lao động và
XH 2009-2010). Hơn nữa, muốn vươn từ cái bẫy thu nhập trung bình ( middle income trap).
Để tiến lên công nghiệp phát triển, VN cần vượt qua công nghệ
lắp ráp xe máy, gia công may mặc… sang công nghệ phụ trợ, làm chủ quy trình sản
xuất từ A đến Z, nếu cứ phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài, VN sẽ dậm chân phát
triển chút ít, mãi mãi là thị trường tiêu thụ (như Thái) chứ không đạt thị
trường sản xuất cạnh tranh (như Hàn). Nếu đầu tư nước ngoài rút ra, như hiện
tại nhiều nhà đầu tư đang rút ra ở Nga và Tầu để chuyển sang Ấn và Brazil, thì
kinh tế VN sẽ mất thăng bằng ngay.
VN hiện tại có 267 khu công nghiệp với 100 khu quanh Sài Gòn,
với 4500 dự án đầu tư trong nước, 4000 dự án đầu tư nước ngoài (60 tỷ usd). VN
vẫn chưa có tư doanh công nghiệp lớn, nghiên cứu cho thấy 405 doanh nghiệp tư
nhân cỡ vừa và cỡ nhỏ vẫn bị quốc doanh đè nén, không phát triển thành doanh
nghiệp lớn được, mà công nghiệp chỉ là công nghiệp lắp ráp, chưa sang công
nghiệp phụ trợ và chế tạo. Thái mất 50 năm từ 1960 mới sản xuất được 70% linh
kiện (parts) xe hơi, Mã Lai khá hơn, lắp ráp xe hơi với 100% parts nội địa.
(tr.198)
6- Kinh tế thị trường đòi hỏi cạnh tranh, cạnh tranh đòi hỏi
phẩm chất cao, muốn đạt mức kỹ thuật cao phải có chuyên viên giỏi…Việc phát
triển công nghệ cần ba đoạn: du nhập công nghệ, thích ứng công nghệ và làm chủ
được công nghệ (acquisition, adaptation, mastery of technology), đây chính là
nhược điểm lớn nhất của VN trên đường công nghiệp hoá ( tr.157).
Từ sau 1975, CS nhất thống chứ VN không thống nhất, CS đè bẹp
những cái hay đẹp của miền Nam đang phát triển theo đúng chiều hướng dân chủ,
thay thế bằng hệ thống “hồng hơn chuyên”, hệ thống này đã giết chết Sô Viết vì
cán bộ vô học làm sao chỉ đạo bác sĩ, kỹ sư, giáo sư…Việt Nam ta, mưu mẹo hơn,
mua bằng, chạy bằng…cho đủ số Tiến sĩ, Thạc sĩ…với hơn 1 tr. sinh viên và 400
Đại học mà rút cục giáo dục VN vẫn ở mức rất thấp, sinh viên tốt nghiệp ra
không đủ khả năng làm việc theo tiêu chuẩn quốc tế, mà nhận các công việc bất
đắc dĩ thì lương bổng chỉ đủ tiền thuê phòng và đổ săng, ăn cơm văn phòng và
uống cà phê pha bột ! Hai lãnh vực Giáo dục -Y tế, không sản xuất, không mang
lợi lộc, bị bỏ bê, yếu kém, gia đình khá giả, cán bộ có tiền, gửi con đi du học
từ cấp trung học, hay ít ra cũng xin vào các trường tiểu học, trung học quốc tế
Úc, Singapore, Canada, Anh, Mỹ…mở đầy Sài Gòn, Hà Nội…Đại cường Mỹ, trong chiến
lược dài hạn, nhận tới 16.000 du sinh, mỗi năm thu cả tỷ usd cho các trường lớp
nội địa. Chỉ số sáng tạo toàn cầu CII (global innovation index), nói lên
đầu óc sáng tạo, thông minh, của VN năm 2012 chỉ xếp hạng rất thấp, 76/141 nước
điều tra. ( tr.188)
Cuốn sách quý hiếm của gs Phạm văn Thuyết giúp người
trong nước nhìn ra vị trí và mức độ của kinh tế VN trong bối cảnh Đông Á, giúp
người Việt hải ngoại nhìn ra mấu chốt vấn đề thực tế của VN, tránh được những
diễn giải hàm hồ. Trong và ngoài đều hiểu rằng VN với 90 triệu dân thông minh,
trí thức sắc sảo, có thể trở thành mãnh hổ chứ không phải mèo rừng nếu không bị
xích sắt kìm hãm lại.
*****
ĐI TÌM PHƯƠNG THUỐC PHÚ QUỐC CƯỜNG DÂN
Rút
lại từ cơ bản, VN vẫn phải thay đổi tư duy để phát triển kinh tế, xã hội và
chính trị. Sau đây là vài suy nghĩ tản mạn :
Việc thay đổi tư duy ở Việt Nam không dễ, có 3 lý do :
* Lối học
từ chương, lối nghĩ độc đoán, lối làm hời hợt, ăn rễ từ thời Tống Nho khoa
cử, qua thời Pháp thuộc, tới thời loạn lạc, khiến thế hệ mới vẫn còn bị ảnh
hưởng nặng.
* Vì lòng tham vô đáy, quân cán phải giữ chặt quyền thế, số
người này, ít ra cũng 3 triệu, cộng với số người theo đóm ăn tàn, cơ hội chủ
nghĩa, được hưởng đặc quyền đặc lợi, không dễ gì từ bỏ lối nghĩ lối nhìn cũ.
* Chẳng cứ ở VN, các nước chậm tiến không tiến nhanh được vì nhóm độc tài cố tình giữ tốc độ
chậm lại để độc hưởng đắc
lợi, không chia sẻ với nhóm khác, họ nại đủ cớ như dân chủ thì rối loạn, bàn
tay ngoại bang phá hoại, diễn tiến hòa bình v.v... đất nước tổ chức như cái
bang bí mật: Bắc Hàn từng để 2 triệu dân chết đói nhưng vẫn dùng tài nguyên chế
hỏa tiễn nguyên tử, nặn 37.000 pho tượng lãnh tụ Kim Nhật Thành đã xuống lỗ từ
lâu, ông Mao làm chết cả 35 triệu dân mà ảnh vẫn trưng ngay trên cổng Cấm Thành
!!
THAM NHŨNG phải gọi là vĩ mô vì tác hại tới tầm mức kinh tế quốc
gia, một nguyên nhân quan trọng đẻ
ra tham nhũng (và đĩ điếm), là
bệnh LƯỜI, không muốn tay làm hàm nhai, không kiên nhẫn làm giầu, chỉ muốn làm
chơi ăn thật, chạy áp phe, ăn bổng lộc, đợi người mang tiền tới dâng như nằm
chờ sung rụng... Một nước có hòa bình, tương đối dễ thở như Thái Lan, mà suốt
mấy trăm năm cũng không tiến bằng Đại Hàn, Nhật là bởi vì dân Nhật, Hàn chăm
chỉ làm việc, nỗ lực lao động, trong khi Thái chỉ làm những việc dễ dàng như
tắm hơi, du lịch, dịch vụ thương mại, lắp ráp... Muốn tham nhũng phải có quyền
lực, hét ra lửa, nắm luật lệ, dân phải sợ (họ Sợ như lối nói của nhà văn Nguyễn Tuân)
như cá nằm trên thớt, thì mới chạy chọt cho nên làm chính trị độc tài để có
quyền lực, có quyền lực để có tiền bạc. Muốn chặt đứt chu trình tham nhũng
thiết tưởng phải thay đổi giáo dục, người dân ai cũng có nghề, tự lực mưu sinh,
công chức cán bộ cũng có chuyên môn, có lương đủ sống, mà ra lĩnh vực tư làm
việc cũng kiếm ăn được, thì tham nhũng sẽ dần dần bớt đi. Cho nên ở những nước
kinh tế cao, nạn tham nhũng bớt hẳn, mà nạn háo danh cũng giảm thiểu: lương
Tổng Thống Mỹ không cao bằng lương một Giám đốc công ty hay một xướng ngôn viên
truyền hình, nhà Thủ tướng Anh nhỏ bé như nhà dân trung lưu, trí thức không háo
hức đi vào chính trị nhằm nạt nộ dân, không làm chính trị như nghề buôn không
vốn, do đấy nhiều người đi vào chính trị với tinh thần phục vụ xã hội cộng đồng
chẳng khác gì lựa chọn một nghề chuyên môn. Nói khác đi, khi chính giới được đề
cao quá mức, khi nhóm lãnh đạo được cố ý đồng hóa với uy quyền quốc gia đất
nước, khi lãnh tụ được tung hô là cha già dân tộc, được hưởng mọi đặc quyền đặc
lợi, thì tình trạng phong kiến sẽ xẩy ra như thời vua quan, muốn chấm dứt không
có cách nào khác hơn là dân chủ hóa khởi đi bằng kinh tế: tiền đánh bại danh, phá bỏ chu trình mua danh hốt bạc, đem
chính khách về với thực tế lương thiện: công bộc của dân chứ không phải là đè
đầu dân.
Việc cải tổ hành chánh, phòng ngừa tham nhũng, có thể theo các
nước tân tiến qua việc dùng các loại
mẫu đơn rõ ràng minh bạch lệ
phí, thời hạn xét đơn, thời hạn giải quyết..., nhưng việc chính vẫn là công lực
phải giảm tối đa, phải được huấn luyện chuyên môn, phải được tẩy não tâm lý
công chức quan liêu ban ân huệ cho dân đen. Báo cáo Ngân Hàng Thế giới gần đây
cho biết có tới 70% doanh nghiệp đưa hối lộ và VN vừa yếu về thể chế lẫn kiểm
soát tham nhũng (theo BBC 14-12-2013)
VN KHÔNG BAO GIỜ BẮT KỊP LÂN BANG !
Trong 31 năm qua GDP VN vẫn đứng hạng chót trong 7 nước
lân bang : Phi, Ấn, Thái, Mã, Hàn, Singapore. GDP Thái hơn 4 lần VN, Sing hơn
VN tới 35.86 lần theo web. Gs
Trần Đăng Hồng Ph.D. VN phát triển chậm nhất trong 7 nước (1980-2010) và
tính toán một cách khoa học, với biểu đồ, thì với tốc độ chậm chạp này, VN sẽ
không bao giờ bắt kịp Phi, Ấn, Thái, chứ đừng mơ tưởng bắt kịp Mã, Hàn,
Singapore.
Cải Tổ GIÁO DỤC
Dứt khoát tránh xa ảnh hưởng văn hóa giáo dục từ chương.
Sinh viên du học nên đi các nước có văn hóa thực tiễn như Nhật, Đức, Anh, Mỹ...
thực tế và thích làm hơn co cãi. Đại học chỉ nên mở các phân khoa luyện nghề
chuyên môn : Kỹ sư, Y Nha Dược, Kinh tế Thương mại, Kế toán, Quản trị, Sư phạm...
kết nối chặt chẽ với thực tế thị trường xã hội. Bỏ bớt khoa bảng để tránh mua
bằng hư danh, hướng trí thức vào thực
học. Đào tạo càng nhiều chuyên
viên kỹ thuật trung cấp bao nhiêu càng hay bấy nhiêu, ngay từ
lớp 9 lớp 10, đã có thể hướng nghiệp.
Phát triển võ thuật, thể thao, dinh dưỡng : trở lại truyền thống văn ôn vũ luyện
đời Lý, Trần, từ bỏ lối giáo dục tiên học lễ hậu học văn từ đời Lê, Nguyễn theo
Tống Nho. Dân chúng có khỏe mạnh thì tinh thần mới khang kiện, tư tưởng suy
nghĩ mới không bệnh hoạn bất thường.
Hai bộ môn Y Tế (Vệ sinh, thuốc men bệnh tật thông
thường) và Kinh Tế Thương Mại (tiết kiệm, buôn bán, kế toán...) cần
được đưa vào chương trình Trung Tiểu học, giúp học sinh giữ gìn sức khỏe và làm
quen với đời sống kinh tế thị trường. Chính ông Greenspan, Chủ tịch Cục Dự trữ
Liên Bang Mỹ, cũng đã đề nghị giảng dậy Kinh Thương từ cấp Trung học, đủ biết
tầm quan trọng của kinh tế trong thời đại mới.
DÂN CHỦ không phải là từ ngữ rỗng, mà là một diễn trình học tập
thay đổi tâm lý, từ ông thầy không độc đoán với học trò, từ ông bác sĩ khiêm
tốn với người bệnh, từ ông giám đốc biết nể vì nhân viên... dân chủ bình đẳng
khởi đi từ trong nhà và lớp học, mà tinh thần dân chủ cốt yếu là tản
quyền, tinh thần dân tộc chủ yếu là tôn trọng địa phương, do đó VN nên tổ chức
thành chín vùng tự trị phát
triển, dựa theo tiêu chuẩn dân số và địa lý. Mỗi
Châu, khoảng 8- 10 triệu dân, tự lựa chọn đường lối phát triển. Lợi điểm :
nhiều phần bánh chia cho đại chúng, nhiều phần danh sẻ cho thiên hạ, thỏa mãn
được căn bệnh trầm kha của con người: bệnh ham làm lịch sử, tham danh vị...
Một thí dụ: vùng Đà Nẵng, như một đặc khu, đã phát triển khá hơn
theo chiều hướng thuận lợi, tuy chưa hoàn hảo, cũng có thể tạm làm mô hình cho
các địa phương khác.
KẾT LUẬN
Có hai loại chuyển hoá : chuyển hoá nội tạng và chuyển hoá cấu
trúc, thay đổi cái ruột hay thay đổi cái vỏ. Vì các nước chậm tiến vỏ cũng hư
mà ruột cũng hỏng, nên phải thay đổi cả hai. Nếu xét ưu tiên thì phải thay đổi
ruột trước vỏ sau. Nhưng nhóm thợ nào muốn thay đổi và biết thay đổi, đấy là
vấn đề nan giải nhất của một dân tộc muốn vươn lên. Tựu chung, Việt Nam cần có
một nhóm thợ nỗ lực canh tân, một nhóm Samurai Rồng Tiên, thì đất nước mới qua
được vũng lầy lịch sử, đưa toàn dân trở lại Lệ
Làng : Đồng qui, Đồng Tôn,
Đồng Tiến. Một khi dân chủ đã ngấm vào máu huyết dân tộc thì không ma lực
nào cấm cản được nữa. Nói theo cổ nhân, mỗi nước đều có cọng nghiệp (collective
karma), khi cán cân thiện căn lớn hơn ác căn thì Viêm Việt tứ hải lạc âu ca sẽ ló rạng, mây mù sẽ tan vậy.
Hạ Long Bụt sĩ LƯU VĂN VỊNH
nguồn:http://www.diendantheky.net/2013/12/luu-van-vinh-nhan-oc-sach-viet-nam-manh.html
======================================================================

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Chú ý: Điền vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
Sẽ xóa những comment không phù hợp
Thinhoi001