Quân đội nhân dân Việt Nam và Tôi
Đỗ Như Ly
Bao năm qua, đất nước ta chịu đựng hết
cuộc chiến này đến cuộc chiến khác: “Trường kỳ kháng chiến” đánh thực
dân Pháp áp bức, xâm lược. “Dù mười năm hay lâu hơn nữa” cũng đánh đế
quốc Mỹ can thiệp. Nội chiến vì ý thức hệ. Đánh trả bọn hận thù Pol Pot.Đánh trả việc “nước lớn XHCN cho Việt nam một bài học”. Gia đình nào chẳng có người tham gia quân đội, gia đình thì đời ông-đời bố-đời con, gia đình thì cả chồng lẫn vợ, gia đình thì cả anh lẫn em là “Bộ đội cụ Hồ”, “Anh giải phóng quân”…nếu không, tối thiểu cũng dính dáng đến quân đội. Tôi chẳng hiểu, do lý lịch gia đình hay do số phận, chỉ được ở loại dính dáng đến Quân đội Nhân dân Việt Nam (Quân đội-QĐNDVN). Xin kể lại chút ký ức của sự dính dáng đó.
Khi còn nhỏ, nghe lỏm được những tin tức Chú T…,Chú Nh…cùng họ mạc đang là “Bộ đội cụ Hồ” ở chiến khu rừng thiêng nước độc, đói ăn khát uống chịu mọi hiểm nguy đến tính mạng, trong khi tôi sống với gia đình được gọi là đủ ăn đủ tiêu ở thành phố có từ Kem Cẩm Bình, Hồng Vân… đến nhà hàng Phú Sinh, Phú Gia…, từ rạp Cải lương Kim Phụng đến cinema Majestic, Eden… gây tò mò và không phải là không khâm phục, tuy chưa biết vì sao có sự khác biệt đó. Nhất là sau “chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu”, “bộ đội ta tiến quân trở về, trùng trùng như sóng” trước nhà tôi dọc theo phố Hàng Đường, với cờ đỏ sao vàng, hoa tươi đủ màu sắc của người dân chen chúc đón chào bằng ánh mắt thân thương trìu mến, ngưỡng mộ, cùng những nụ cười như không bao giờ tắt trên môi mọi người với khuôn mặt rạng rỡ ở vỉa hè hay trên các balcon trước nhà. Những hình ảnh đó, bao giờ phai mờ trong tôi! Rồi qua những buổi kể chuyện chiến đấu của các anh hùng quân đội La Văn Cầu dám chặt phứt cánh tay mình khỏi vướng vứu để tiếp tục chiến đấu, Nguyễn Thị Chiên… mưu trí trong trận đánh quân mũi lõ mắt xanh, da đen vạch mặt và cả lính của “bù nhìn Bảo Đại” trước toàn trường, ngày càng ghi đậm sự khâm phục, kính trọng, tin yêu… vào trí óc của đứa trẻ lứa tuổi choai choai. Lớn hơn chút nữa tôi lại ghiền đọc báo Quân đội nhân dân dán trong khuôn gỗ, bảo vệ bằng lưới mắt cáo dựng ở vườn hoa Hàng Đậu trước cửa tòa soạn, góc Mai Hắc Đế – Phan Đình Phùng mỗi trưa trên đường đi học.
Sau khi “trượt vỏ chuối” kỳ thi vào Đại học 1960, đúng ngày 23-9-1960 tôi cùng 22 học sinh Hà nội (có một bạn nữ tên Thọ) xuất phát từ bến xe Kim Liên tiến lên Sơn La do Quân khu Tây bắc tuyển làm “Giáo viên văn hóa”. Buồn bã thì ít, háo hức thì nhiều, chí ít là riêng tôi! Ngoài sự kiện, tôi chính thức bước vào cuộc sống tự lập hoàn toàn, còn là niềm vui có vẻ “oai… oai” được là người của QĐNDVN anh hùng; đâu như một số bạn khác chỉ được lên công trường khu gang thép Thái Nguyên, thậm chí một số phải tự mình xoay sở kiếm sống giữa Hà thành. Cảm giác đó làm quên đi sự thất bại trong cuộc “lều chõng” đầy tự tin! Hết chặng “đường lên Tây Bắc quanh co, nếp nhà sàn thấp thoáng” chúng tôi được hai thầy thiếu úy Đỗ Trọng Thụy và Nguyễn Văn Du cấp tốc truyền nghề trong vòng 3 tháng, để sau này phần lớn về trường Quân chính quân khu, còn tôi và mấy bạn mỗi người một nơi về các đơn vị trực thuộc quân khu. Tiểu đoàn công binh D25 đóng quân ngay trước quân khu bộ, ngoài việc dạy Toán – Lý – Hóa cấp 2 (môn Văn mấy đơn vị này học chung do Hoàng Thụy Hưng – Hoàng Hưng đảm trách) cho cấp chỉ huy từ trung đội đến đại đội, còn đảm nhiệm tổ chức học bổ túc văn hóa cho các chiến sĩ trong tiểu đoàn. Để thống nhất, kỷ luật trong đơn vị, lãnh đạo tiểu đoàn yêu cầu tôi sinh hoạt cũng như một chiến sĩ, nghĩa là cũng thức dậy theo kẻng, ăn cơm theo kẻng, đi ngủ theo kẻng… Cũng nội vụ chăn mền gấp vuông vắn như chiếc bánh chưng để ngay ngắn đầu giường. Cũng ăn cơm với đũa 2 đầu. Cũng thể dục buổi sáng, xà đơn xà kép buổi chiều. Cũng chạy 5km tới suối tắm mát, sau đó lại cùng ca “Vừng đông đã hửng sáng…” theo bước quân hành về đơn vị vào sáng thứ sáu hàng tuần. Cũng cách tuần sáng chủ nhật, mỗi người phải tìm kiếm và vác 2 cây khô vượt qua hai ba ngọn đồi về nộp cho anh nuôi làm củi. Cũng ba lô sau lưng, mũ cối trên đầu trong hàng ngũ tiểu đội văn thư tiểu đoàn khi báo động bất kỳ. Cũng tham gia vác gạo, quân nhu phục vụ chiến dịch Nậm Thà bên nước Vạn tượng anh em… Nhiều kỷ niệm, nhiều, nhiều lắm song một kỷ niệm sâu sắc trong giai đoạn này tôi còn nhớ như in cho đến hôm nay với tròn trịa cảm xúc lúc đó.
Tết 1960,Tiểu đoàn tổ chức đêm giao thừa rất vui, sôi động để anh em trong đơn vị lắng đi nỗi nhớ gia đình do đa phần là lính nghĩa vụ quân sự, lần đầu xa nhà lên xứ rừng núi. Cuộc vui ồn ào, náo động kéo dài đến gần 2 giờ sáng, rồi mọi người cũng phải đi ngủ. Nằm tầng trên là thượng sĩ văn thư ngủ đã say, còn tôi ở dưới cứ trằn trọc không nhắm mắt được. Bỗng một bóng cao lớn xuất hiện. Tôi chẳng quan tâm, nhưng mấy phút sau, một động tác vén mùng khẽ khàng, một người chui vào màn nhẹ nhàng nằm xuống cạnh tôi, rồi thì thào: “Không ngủ được hả?” À, tôi nhận ra rồi! Đó là thượng úy chính trị viên tiểu đoàn Thạch Đăng Cơ. Tôi cũng chả thiết quay ra, cứ úp mặt phía trong. Thượng úy nằm ngửa, vắt tay lên trán thì thầm: “Tết đầu tiên bỏ nhà đi bộ đội đánh nhau, mình cũng nhớ cha mẹ, anh em lắm”. Ông cứ đều đều với giọng Nghệ An trầm trầm, tôi chẳng ừ chẳng hữ, cái cảm giác được chia sẻ, cảm thông, thấu hiểu làm tôi tạm quên đi cảnh chiếc roi mây treo trên tường của bố tôi để đe nẹt tôi không được lười học hay có lỗi lầm nào đó, tan đi nỗi nhớ da diết tối 28, 29 Tết xúm xít quanh nồi bánh chưng và cố thức để được một cái bánh con con, xinh xinh, được mặc bộ quần áo mới, được mừng tuổi vào sáng mùng một Tết hàng năm, xua đi những hình ảnh thằng Ân cùng học lớp 6 mời tôi tới nhà nó cùng vui chơi và phá cỗ rằm tháng tám năm tôi sống côi cút do bố tôi đã chạy vào Nam, xóa đi hình ảnh trận đá banh của lớp trên sân Bác cổ, nhòa đi nỗi nhớ cùng Phạm Ngọc Kính đều bước, gõ guốc gỗ trêu chọc những nhà ngủ trưa khi đi học qua… Và cứ thế tôi lịm đi trong giấc ngủ tình người.
Ở D25, tôi đâu quên đại úy Phạm Huy Thi, tiểu đoàn trưởng, thượng úy Nguyễn Văn Thọ, tham mưu trưởng, không phải chỉ vì hai ông đều là đồng hương Hà Nội với tôi mà tiểu đoàn trưởng mất một chiếc răng cửa, đặc biệt vào những lúc nghỉ ngơi, chúng tôi lại được nghe tiếng đàn violon rất mượt mà, du dương, réo rắt của ông. Ngoài ra tôi sao quên được thiếu úy, y sỹ Nguyễn Trung Hoa người Thanh Hóa, đánh tú lơ khơ rất tháu cáy, chuẩn úy Nguyễn Tuệ, anh có cú ném bóng lộn người chính xác, đẹp mắt, ăn điểm khi chơi bóng rổ cùng tôi. Hết hợp đồng 2 năm, hầu như các bạn đều về Hà nội, người làm việc này việc khác, người thi vào Đại học, còn tôi vì nhiều lý do, xin tiếp tục ở lại.
Về Trung đoàn 168 pháo mặt đất ở Nà Sản, một kỷ niệm không thể quên được, tôi bị chi đoàn thanh niên lao động cho “lên bờ xuống ruộng”, viết hết bản kiểm điểm này đến bản kiểm điểm khác chỉ vì thắc mắc: “Không hiểu sao người ta phải tỵ nạn lại cứ chạy sang Mỹ mà không tới Liên Xô?” Và giao thừa năm nào đó, buột miệng: “Lủng củng, trúc trắc thế mà cũng gọi là thơ!” khi nghe xong thơ chúc tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chi đoàn phân tích, phê phán sôi nổi, rầm rầm. Nào là nhận thức tư tưởng không vững vàng, lập trường chưa vững chắc, nào thiếu ý thức kính trọng lãnh tụ, đủ thứ… chỉ còn thiếu “suy thoái tư tưởng chính trị” hay “tư tưởng phản động” như ngày nay mà thôi! Mặc dù, sau đợt “Học tập về tình hình Miền Nam” của toàn đơn vị, tôi cũng đã thật lòng, thành tâm háo hức ghi tên cùng toàn bộ sĩ quan, chiến sĩ của trung đoàn, tình nguyện vào Nam chiến đấu để “góp phần giải phóng Miền Nam” (Bi hài nhất là sau đó quân khu chuẩn y duy nhất trung úy chủ nhiệm thông tin lên đường thì trung úy này lại lấy cớ vợ yếu con thơ gì đó thoái thác quyết định, nên bị kỷ luật cách chức và rơi mất một sao). Do tôi bị kiểm điểm liên tục, căng thẳng nên cuối năm chỉ được bình bầu là đoàn viên thường, không được xếp loại tiên tiến như mọi năm, mặc dù trong giảng dạy học viên vẫn đánh giá cao tôi về phương pháp giảng dạy, nhất là tinh thần trách nhiệm. Trưởng tổ văn hóa thiếu úy Nguyễn Văn Thê, thượng úy chủ nhiệm chính trị trung đoàn Nguyễn Tăng, đại úy chính ủy trung đoàn Bùi Tố Tọa cũng không nặng nhẹ gì tuy có thể các vị đều biết. Riêng thiếu tá trung đoàn trưởng Đoàn Ngữ (người dân tộc Tày) chắc chắn là biết nên ông đã “cảnh cáo” tôi: “Cậu còn trẻ, không nên gặp đâu nói đó, làm người khác hiểu lầm, gây rắc rối cho bản thân” trong bữa cơm ông chiêu đãi riêng tôi vào chiều thứ bẩy, trời lâm thâm mưa, gió lành lạnh của tiết trời đầu đông với món thịt chó chưng cách thủy có ướp các vị thuốc bắc tuyệt hảo mà đến nay tôi vẫn chỉ được thưởng thức duy nhất lần đó. Sau này, khi biết thời kỳ ấy ở Hà nội có bao người bị “đưa đi khỏi gia đình” lâu dài một cách đột ngột chỉ vì một lời nói, một dòng chữ viết trong sổ tay hoặc có khi lại vì cái gì đó rất vu vơ, lãng nhách mới thấy rùng mình, toát mồ hôi! Như thế tôi ơn quân đội có gì quá đáng không nhỉ? Đến khi đế quốc Mỹ có dấu hiệu mở rộng chiến tranh, đánh phá ra miền Bắc, quân đội gác lại việc “Bổ túc văn hóa cho các sĩ quan” tôi rời khỏi trung đoàn 168, xa hẳn Na Sản với bao hình ảnh đẹp đẽ, sôi động, thân thương. Chính vì vậy, khi nghỉ hưu dù không ở hội cựu nọ cựu kia nhưng tôi không thấy ngậm ngùi, buồn tủi về năm tháng tuổi trẻ với danh hiệu: “nửa thầy, nửa lính” hay “lính không quân hàm, quân hiệu” của mình!
Nhiều người sẽ cho là tôi tâng bốc, không thấy “nợ máu” của QĐNDVN và có ý chê bai, coi thường, coi khinh quân đội phía bên kia của đất nước trước 1975, cái đó tùy nhận thức của từng người ở trong những hoàn cảnh cụ thể song trên chiến trường chuyện tôi không giết anh thì anh giết tôi là một sự nghiệt ngã của quan hệ giữa người với người mà loài người cứ lầm lẫn dẫm lên chính bước chân của mình.Cho nên khi nhìn bức ảnh chú giải phóng quân và chú lính chế độ Sài gòn khoác vai nhau cùng nụ cười cởi mở trên nét mặt tươi rói, làm tôi tin tưởng vào con người hơn hết mọi tuyên truyền huênh hoang, dối trá, rùm beng.
Hơn bốn năm sống trong quân đội, làm sao tôi còn không nhớ đến người “sếp” đầu tiên, cũng chính là người trực tiếp chọn lấy từng hồ sơ của chúng tôi ở các Hội đồng tuyển sinh các trường Tổng hợp, Bách khoa, Sư phạm… loại ra, “dám” chấp nhận những anh chàng mặt còn đầy măng tơ, có lý lịch không “đẹp”, “không đáp ứng yêu cầu” vào sinh hoạt, làm việc trong quân đội. Đó, không chính là sự bao dung, sự tin tưởng vào những tâm hồn tươi trẻ, trong trắng tràn đầy sức sống, dư thừa nhiệt huyết, sẵn sàng xả thân của chúng tôi hay sao? “Anh” (tuy đáng tuổi cha chú song chúng tôi vẫn gọi một cách gần gũi, thân mật như vậy!) có thân hình không đậm đà, cũng chẳng ốm gầy, tầm người thâm thấp, cùng giọng nói nhè nhẹ, chầm chậm như không muốn cướp lời ai hoặc muốn ra lệnh bề trên, biểu hiện của tính thận trọng, cẩn thận, chu đáo và có lẽ, có vẻ mang một ẩn khuất một cách rất riêng tư nào đó. Đặc biệt có cái đầu tròn xoe với vừng trán hói, rộng hình ảnh của người có học thức, hiểu biết. Tôi nhớ, nhớ lắm nhưng từ Tây bắc chuyển về Đông bắc, từ “lính không ra lính, quan không ra quan” (vì sinh hoạt nội vụ theo như chiến sĩ, song học thời sự, chính trị lại theo chế độ sĩ quan) đến khi là dân đen và chiến tranh, bom đạn đơn vị này được sáp nhập, đơn vị khác thành lập làm sao biết “Anh” ở đâu? Đến quãng năm 1980, gặp một bác sĩ, tôi đã buột miệng: “Chị có tên, chữ đệm và họ giống y xì tên một thủ trưởng đầu tiên của tôi”. Từ chuyện ngẫu nhiên đó, tôi may mắn tìm được “Anh”. Đó là thượng úy Phạm Phi Phụng, trợ lý văn hóa quân khu Tây bắc năm 1960, khi nghỉ hưu với hàm đại tá. Gặp nhau sau hơn 20 năm ở giữa “thành phố mang tên Người” chúng tôi vui lắm, nhưng đôi lần tới thăm “Anh” (nay đã U100), cũng phải dè dặt không dám nói nhiều về tình hình kinh tế, xã hội, chính trị, biên giới, hải đảo… hình như những chuyện đó có vẻ làm “Anh” không vui, mà quỹ thời gian của “Anh” còn bao nhiêu nữa!
Thời tôi “dính dáng” với QĐNDVN chỉ có vậy! Nhưng tôi vẫn hằng kính trọng, biết ơn, tin tưởng quân đội không phải chỉ vì quân đội đã bao dung, rèn luyện cho tôi có nhiều phẩm chất của người lính mà còn vì những chiến sĩ, sĩ quan sống quanh tôi thời đó sống với nhau, cư xử với nhau như anh em trong một gia đình rất thân tình, nhân nghĩa, tràn đầy tình người. Những người thân thương đó nay ai còn ở một nơi nào, ai mất?! Cao hơn là do rất, rất nhiều người đã nằm trong các nghĩa trang từ cấp xã đến cấp tỉnh và còn nhiều người khác đã nằm xuống ở một nơi nào đó. Riêng tôi, cũng mất một người bạn thân cùng học với nhau 6 năm phổ thông ở trường Nguyễn Trãi, cùng làm báo tường, cùng sinh hoạt thiếu niên quàng khăn đỏ đỏ, cùng phấn đấu trở thành đoàn viên thanh niên lao động, cùng gõ guốc gỗ quậy phá trên hè phố đã nằm lại trên nghĩa trang Trường Sơn trắng xóa!
Đấy là thời quân đội trung với nước, hiếu với dân, nên tôi – một người dân mới được đối xử như thế và sống đến nay. Nếu Quân đội “bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước” như Hiến pháp hiện nay, thực lòng tôi không hiểu tình hình xã hội sẽ có thể đi đến đâu? Liệu có cảnh thanh niên vào Quân đội theo khái niệm phổ quát từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim chỉ là để bảo vệ Tổ Quốc – Đất nước – Dân tộc mình trước sự xâm lăng của quân đội nước khác, rồi có một lúc nào, thời điểm nào, ở một nơi nào vì “bảo vệ Đảng” mà phải chĩa súng, xả đạn vào hàng xóm láng giềng, bà con họ hàng gần xa, những người ơn nghĩa, thậm chí anh em ruột thịt, bố mẹ mình… thì sẽ ra sao đây? (Phải nhìn thẳng vào sự thật hiện nay là đảng CSVN và người dân Việt (ngay trong nước, chứ chưa nói ngoài nước) không phải đồng nhất là một!). Cộng sản đã tàn bạo với kẻ thù, cũng còn một phần có lý ở một giai đoạn, ở một sự việc cụ thể trong lịch sử song nếu có lúc nào đó, thời điểm nào đó tàn bạo với chính người dân của mình thì giải thích làm sao được “Đảng là văn minh, là nhân đạo”? Tôi chẳng hiểu lòng kính trọng, biết ơn, yêu mến của tôi đối với QĐNDVN còn tồn tại được bao lâu! Cầu xin trời đất và cả những cái đầu chỉ nghĩ đến quyền lợi của phe nhóm, quên đi số phận của đất nước, dân tộc hãy minh mẫn, nhận thức lại cho rõ ràng! (Chưa nói đến xu thế văn minh của loài người thời đại nay là muốn loại trừ súng đạn, chiến tranh khỏi đời sống của cộng đồng).
Quân đội chỉ làm đúng chức năng tự thân nó xác định từ khi có loài người đến nay!
Lẽ nào điều này sai? Những người cứ muốn bóp méo lịch sử dân Việt và những khái niệm cơ bản, phổ quát của cả loài người, sẽ làm được không và số phận họ sẽ ra sao?
Đỗ Như Ly
Sài gòn 22-12-2013
nguồn:http://diendanxahoidansu.wordpress.com/2013/12/21/quan-doi-nhan-dan-viet-nam-va-toi/
======================================================================
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Chú ý: Điền vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
Sẽ xóa những comment không phù hợp
Thinhoi001