Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013

Cựu chủ tịch Quốc hội bàn chuyện sửa Hiến pháp

Thu Hà

16-06-2010

NguyenVaAnNếu nhân dân được tham gia và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này thì đây là một cơ hội to lớn do ta tạo ra để thúc đẩy mạnh mẽ và toàn diện công cuộc đổi mới đất nước – Cựu Chủ tịch QH Nguyễn Văn An.


LTSTuần Việt Nam xin giới thiệu lại cuộc trò chuyện với cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An về việc tu chính Hiến pháp 1992 sắp tới.


- Thưa ông, tại phiên Thảo luận ở hội trường về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011 và điều chỉnh chương trình 2010 hôm 9/6, hầu hết các ĐBQH phát biểu đều đề nghị sửa ngay một số điều của Hiến pháp 1992. Từng đảm nhiệm trọng trách người đứng đầu cơ quan lập pháp, ông chia sẻ sự quan tâm như thế nào về vấn đề này?


Cựu Chủ tịch  QH Nguyễn Văn An: Tôi rất quan tâm, vì sửa đổi Hiến pháp là một sự kiện trọng đại của toàn dân. Tôi vừa hy vọng, lại cũng vừa lo, vừa băn khoăn trăn trở, vì không biết sửa đổi lần này có đáp ứng lòng mong đợi của nhân dân không?


Dân phúc quyết


- Vì sao ông có tâm trạng như vậy?


Tôi có tâm trạng như vậy là do kinh nghiệm cuộc sống mách bảo. Sửa đổi Hiến pháp là một cơ hội sinh hoạt chính trị dân chủ sâu rộng trong toàn dân, toàn dân có được hưởng quyền lợi và làm nghĩa vụ tham gia ý kiến và phúc quyết hay không?


Nếu nhân dân được tham gia và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này thì đây là một cơ hội to lớn do ta tạo ra để thúc đẩy mạnh mẽ và toàn diện công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tôi hy vọng là như vậy.


Nếu nhân dân không được tham gia và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này thì chúng ta lại bỏ lỡ mất cơ hội vô cùng quan trọng.


Kinh nghiệm các lần sửa đổi Hiến pháp trước đây là như vậy. Chúng ta đã sửa đổi Hiến pháp nhiều lần rồi song chưa đáp ứng lòng mong đợi của nhân dân, nhân dân chưa có quyền phúc quyết Hiến pháp mà lẽ ra quyền phúc quyết Hiến pháp là quyền đương nhiên của người dân dưới chế độ dân chủ cộng hòa. Chính vì thế mà tôi lo, tôi băn khoăn, trăn trở.


- Thưa ông, tôi hiểu rằng lần sửa đổi sau luôn phải đảm bảo tính kế thừa và hoàn thiện tốt hơn lần trước chứ ạ?


Về nguyên tắc là như vậy. Song không phải lúc nào, không phải cái gì cũng như vậy.


Sửa đổi nhiều lần mà vẫn chưa đạt yêu cầu


- Có vẻ vẫn hơi chung chung, mong ông nói rõ hơn về việc này?


Vâng. Trước tiên tôi muốn nhấn mạnh rằng chúng ta đã sửa đổi Hiến pháp nhiều lần rồi mà vẫn chưa đạt yêu cầu. Nếu tính từ năm 1946 đến 1992 là 46 năm, ta đã sửa đổi lớn 3 lần vào các năm 1959, 1980 và 1992. Đó là chưa kể nhiều lần chúng ta sửa đổi nhỏ khác.


Sửa đổi như vậy là nhiều lần rồi, song dân chưa được phúc quyết lần nào. Hiến pháp 1946 quy định dân phúc quyết Hiến pháp song dân cũng chưa được phúc quyết vì chiến tranh đã xảy ra ngay sau đó.


Còn Hiến pháp sửa đổi 1959 lại quy định Quốc hội có quyền lập Hiến và lập Pháp. Thay đổi quan trọng đó do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân bất khả kháng là đất nước trong tình trạng chiến tranh và chia cắt hai miền Nam – Bắc; rồi chịu ảnh hưởng của mô hình cộng hòa Xô Viết,…


Tuy vậy chúng ta cần hiểu bản chất của thể chế cộng hòa hay dân chủ cộng hòa là quyền lập hiến phải thuộc về nhân dân, mà trực tiếp là cử tri cả nước.


Cho nên, không thể đặt Hiến pháp ngang hàng với các bộ luật khác do Quốc hội thông qua. Hiến pháp là bộ luật cơ bản, luật gốc, luật mẹ được Quốc hội lập hiến thông qua và nhân dân phúc quyết nên rất ổn định, đặc biệt là những vấn đề cơ bản của Hiến pháp, như thể chế chính trị, ai là chủ đất nước, quyền của người chủ đất nước là những gì; ai là nguyên thủ quốc gia, quyền của nguyên thủ quốc gia là những gì?; vấn đề phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước…


Thứ hai, tôi cho rằng các lần sửa đổi Hiến pháp sau này có một vài vấn đề cốt lõi lại xa rời hoặc lại không rõ ràng bằng Hiến pháp năm 1946 – Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.


Ba vấn đề cốt lõi


- Sự xa rời và không rõ ràng như ông vừa nói thể hiện ở những điểm cụ thể nào?


Có nhiều vấn đề, ở đây tôi chỉ đề cập tới 3 vấn đề cốt lõi:


Đầu tiên, Hiến pháp phải làm rõ AI LÀ CHỦ ĐẤT NƯỚC? NGƯỜI CHỦ ĐÓ CÓ NHỮNG QUYỀN GÌ? Với câu hỏi này, có thể nhiều người sẽ nói ngay rằng Dân làm chủ chứ ai. Đúng. Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp và Pháp luật của nhà nước đều khẳng định như vậy. Quốc hiệu của Việt Nam đã ghi rất rõ: “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Thể chế chính trị là Dân chủ Cộng hòa, khác hoàn toàn với Quân chủ.


Do vậy, người chủ đất nước không phải là Vua nữa mà chính là Dân (không phân biệt thành phần, giới tính, giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo…).


Song quy định cụ thể về quyền làm chủ trực tiếp của người dân thì còn quá ít, nhất là quyền phúc quyết Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia thì các Hiến pháp sửa đổi sau này lại ghi khác hoàn toàn với Hiến pháp năm 1946:


Điều 21 của Hiến pháp 1946 quy định: “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, theo Điều 32 và Điều 70″.


Điều 32 của Hiến pháp 1946  quy định: “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa nhân dân phúc quyết, nếu 2/3 tống số nghị viện đồng ý”.


Điều 70 của Hiến pháp 1946 quy định: “Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây… Khi được nghị viên ưng chuẩn, phải đưa ra toàn dân phúc quyết”.


Những quy định trên đây của Hiến pháp 1946 có nghĩa rằng quyền lập Hiến hoàn toàn thuộc về toàn dân, thuộc về nhân dân, mà trực tiếp là cử tri cả nước.


Hiến pháp 1946 không có một điều nào, một ý nào quy định quyền lập Hiến thuộc về Quốc hội.

Các Hiến pháp sửa đổi sau này laị quy định Quốc hội có quyền lập Hiến:


Điều 43, 44 và 50 của Hiến pháp 1959 ghi: “Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, là cơ quan duy nhất “có quyền lập Pháp”, có quyền “làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp”.


Điều 6 của Hiến pháp 1980 quy định: “Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”.


Điều 82 của Hiến pháp 1980 và Điều 83 của Hiến pháp 1992 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất  có quyền lập Hiến và lập Pháp”…


Chúng ta nhận thấy ngay rằng đã có sự thay đổi rất lớn, rất cơ bản về quyền lập Hiến từ Dân đã được chuyển sang Quốc hội.


Câu hỏi đặt ra là ai có quyền chuyển quyền đó? Câu trả lời rõ ràng là chỉ có Dân mới có quyền đó. Song Dân chưa có văn bản nào chuyển quyền lập Hiến của Dân sang Quốc hội cả, mà là do chính Quốc hội tự quyết định giao quyền lập Hiến cho mình.


Có thể nói đơn giản thế này: Ai là người có quyền tối hậu trong lập Hiến thì người đó là người chủ đích thực của đất nước. Từ chỗ Dân làm chủ trực tiếp trong lập Hiến, chuyển sang chỗ Dân làm chủ gián tiếp thông qua Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của Dân. Như vậy có thể nói, từ Dân làm chủ đích thực chuyển sang Quốc hội thay mặt cho dân làm chủ.


Đó là sự thay đổi, sự xa rời rất lớn, rất cơ bản về người chủ đích thực của đất nước.


Quốc hội vừa lập hiến, vừa lập pháp, người ta gọi như thế là vừa đá bóng, vừa thổi còi.


Dân làm chủ có nghĩa là Dân phải quyết trực tiếp thể chế quốc gia, tức là Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, rồi Dân giao cho Nhà nước và giám sát Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ và Tòa án) quản lý đất nước theo Hiến pháp và những quyết định đó của Dân. Như vậy Dân mới làm chủ đích thực.


Đây là vấn đề xa rời bản chất dân chủ của nhà nước, cả về pháp lý, cả về thực tiễn. Như trên đã nói, do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân bất khả kháng, vì vậy, chúng ta đã chuyển từ Dân chủ thành Quốc hội chủ. Song về thực chất thì Quốc hội cũng còn nhiều hình thức.


Hiện nay khoảng 90% đại biểu Quốc hội là đảng viên. Do vậy mà nhiều người cho rằng, về hình thức thì Quốc hội quyết, song thực chất là Đảng quyết . Quyết định của Quốc hội chỉ là quyết định mở rộng trong nội bộ  Đảng. Như vậy là từ Dân chủ đầy đủ chuyển sang Quốc hội chủ một phần, Dân chủ một phần, song cả Dân và Quốc hội đều còn nhiều hình thức nên nhiều người cho rằng Đảng mới thực quyền. Thực tế đó cho thấy, quyền của Dân – của người làm chủ còn bị phân tán quá lớn.


Nói cho dễ hiểu, ai làm chủ đất nước thì người đó phải có hai điều kiện, hai quyền thực chất tối thiểu là:


a/ – Bầu cơ quan đại diện cao nhất cho mình (Quốc hội) để bầu cử ra các cơ quan Nhà nước,

b/ – Phúc quyết Hiến pháp để giao quyền của Dân cho các cơ quan Nhà nước thực thi.


Chúng ta nói nhiều về Dân chủ, rằng nhân dân ta là người chủ đích thực của đất nước, rằng nhà nước ta là nhà nước của Dân, do Dân và vì Dân,… song những quyền tối hậu của người Dân thì lại chưa được quy định cụ thể và đầy đủ trong các Hiến pháp sửa đổi sau Hiến pháp 1946.


Ngay Hiến pháp 1946 tuy đã qui định rất rõ quyền lập Hiến thuộc về nhân dân, song cũng không thực hiện được trong thực tiễn vì lý do bất khả kháng là chiến tranh đã nổ ra ngay sau đó.


Từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay, nhân dân ta là người chủ đất nước, song Nhà nước ta chưa một lần nào hỏi ý kiến Dân với tính chất là trưng cầu dân ý cả. Nhân dân ta chủ yếu mới làm chủ gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện như Quốc hội và HĐND các cấp, nhân dân mới làm chủ trực tiếp trong bầu cử trưởng thôn, bầu cử đại biểu QH và HĐND các cấp. Như vậy chưa đúng với quyền và nghĩa vụ của người Dân trong thể chế Dân chủ Cộng hòa trong điều kiện hòa bình  và thống nhất đất nước như hiện nay.


Nếu Dân được phúc quyết Hiến pháp thì Hiến pháp chính là văn bản pháp lý quan trọng nhất của Dân trao quyền lực của Dân cho Nhà nước.


Ngược lại, nếu Dân chưa được phúc quyết Hiến pháp thì cũng có nghĩa là Dân chưa trao quyền lực của Dân cho Nhà nước bằng một văn bản pháp lý cao nhất là Hiến pháp.


Sửa đổi Hiến pháp lần này cần giao lại quyền phúc quyết cho dân như Hiến pháp 1946 đã quy định cho đúng với bản chất của thể chế cộng hòa hoặc dân chủ cộng hòa, hoặc cộng hòa xã hội chủ nghĩa.


- Vấn đề cốt lõi thứ hai ở đây là gì?


Đó là việc xác định: AI LÀ NGUYÊN THỦ QUỐC GIA? VÀ NGƯỜI ĐÓ CÓ NHỮNG QUYỀN GÌ?


Vấn đề này Hiến pháp 1946 ghi rất rõ, và Nhà nước ta khi đó thực hành cũng rất tốt.


Các Hiến pháp sửa đổi sau này lại không rõ ràng bằng Hiến pháp 1946, và trong thực hành cũng rất lúng túng.


Theo quy luật tự nhiên, đàn chim bao giờ cũng có chim đầu đàn, đàn trâu bao giờ cũng có trâu đầu đàn, dàn nhạc phải có nhạc trưởng,… Với một quốc gia cũng vậy, quốc gia nào cũng phải có một nguyên thủ.


Về quy định này, tại Điều 49 của Hiến pháp 1946 ghi cụ thể về quyền của Chủ tịch Nước như sau:


a, Thay mặt cho Nước…

b, Giữ quyền tổng chỉ huy quân đội toàn quốc…

c, Ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng….

d, Chủ tịch Hội đồng Chính phủ …

……………….

h, Ký hiệp ước với các nước….


Và Điều 50 của Hiến pháp 1946 cũng ghi: “Chủ tịch Nước không phải chịu một trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc”.


Những quy định của Hiến pháp 1946 rất ngắn gọn, rõ ràng rằng Chủ tịch Nước là nguyên thủ quốc gia, đại diện cho Nhà nước về đối nội, đối ngoại; thống lĩnh các lực lượng vũ trang; và cũng là người đứng đầu cơ quan hành pháp là Chính phủ.


Nói cho dễ hiểu, nguyên thủ quốc gia phải có ba điều kiện, ba quyền thực chất tối thiểu như sau:


a, Thay mặt cho Nhà nước về đối nội cũng như đối ngoại,

b, Đứng đầu cơ quan hành pháp,

c, Thống lĩnh lực lượng vũ trang,


Các Hiến pháp sửa đổi sau này (1959, 1980, 1992) đều giảm nhẹ vai trò của Chủ tịch Nước, không rõ thực chất quyền của một nguyên thủ quốc gia. Điều đó không phải lỗi của vị Chủ tịch nước nào, mà chẳng qua là do các Hiến pháp sửa đổi sau này quy định như vậy:


Điều 6 của Hiến pháp 1959 quy định: “Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là người thay mặt cho Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về đối nội và đối ngoại”.


Điều 65 của Hiến pháp 1959 quy định: “Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thống lĩnh các lực lượng vũ trang trong toàn quốc, giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng”, song thực chất Tổng Bí thư mới là người thống lĩnh các lực lượng vũ trang.


Điều 66 của Hiến pháp 1959 quy định: “Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi xét thấy cần thiết thì triệu tập và Chủ tọa các phiên họp của Hội đồng Chính phủ”. Quy định như vậy là làm giảm nhẹ hẳn vai trò của Chủ tịch Nước trong cơ quan hành pháp so với Hiến pháp 1946.


Như vậy, các Hiến pháp sửa đổi sau này đều quy định không rõ ràng và không tập trung quyền của Chủ tịch nước bằng Hiến pháp 1946. Rõ ràng không có ai hội đủ ba điều kiện, ba quyền thực chất tối thiểu của một nguyên thủ quốc gia như Hiến pháp 1946.


Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương thống lĩnh lực lượng vũ trang song về pháp lý lại không thay mặt cho nhà nước về đối nội cũng như đối ngoại, cũng không đứng đầu cơ quan hành pháp.


Thủ tướng Chính phủ đứng đầu Chính phủ nhưng lại không đứng đầu đầy đủ cơ quan hành pháp và cũng không thống lĩnh lực lượng vũ trang.


Chủ tịch Nước thay mặt cho nhà nước về đối nội và đối ngoại nhưng trong thực tiễn lại không thống lĩnh lực lượng vũ trang, cũng như không đứng đầu đầy đủ cơ quan hành pháp.


Chúng ta dễ dàng nhận thấy ngay rằng quyền lực của một nguyên thủ quốc gia lại bị phân tán làm ba nơi, do ba người nắm giữ. Tức là ta có ba người thực thi quyền của một nguyên thủ trong điều hành thực tiễn, như thế có phân tán quyền của nguyên thủ quốc gia không? Tôi cho là quá phân tán.


Tới đây, chúng ta phải sửa đổi bổ sung Hiến pháp làm sao để chỉ có một nguyên thủ quốc gia, tập trung quyền hành pháp vào người đứng đầu để điều hành đất nước có hiệu lực và hiệu quả hơn.


Việc không rõ nguyên thủ quốc gia, không rõ con chim đầu đàn, không rõ nhạc trưởng, hậu quả thế nào thật dễ hiểu, dễ thấy.


- Và vấn đề cốt lõi thứ ba?


Đó là VẤN ĐỀ PHÂN CÔNG VÀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC. Phân công phải hướng tới cân bằng tương đối, phải rõ ràng, rành mạch; kiểm soát phải có chế tài, phải chặt chẽ, hiệu lực.


Phân công phải cân bằng thì mới có khả năng kiểm soát hiệu lực, kiểm soát hiệu lực nằm ngay trong sự phân công công bằng.


Nhìn lại lịch sử của thể chế quân chủ cho thấy, quyền lực tập trung vào nhà Vua, mà quyền lực bao giờ cũng có xu hướng lạm quyền, thoái hóa… Do đó mà triều đại nào lên, lúc đầu thường là được lòng người, sau lại thoái hóa, lại bị triều đại sau thay thế. Những sự thay thế đó thường diễn ra khi triều đại cũ đã quá thối nát, quá cản trở sự phát triển của xã hội và thường bị thay thế bằng bạo lực.


Chính vì thế mà thể chế cộng hòa hay dân chủ cộng hòa đã áp dụng sự phân công cân bằng và kiểm soát quyền lực để chống độc quyền, hạn chế sự lạm quyền và khi cần thì thay thế ê kíp cầm quyền một cách chủ động, kịp thời, thông qua tranh cử nghị viện.


Quyền lực dưới thể chế cộng hòa hay dân chủ cộng hòa không tập trung vào một người hay một lực lượng,  cơ quan nào, mà phân công tương đối cân bằng cho ba cơ quan: Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp (Quốc hội – Chính phủ – Tòa án): Quốc hội là cơ quan lập pháp cao nhất, Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất, và Tòa án là cơ quan xét xử cao nhất.


Nghiên cứu kỹ các Hiến pháp sửa đổi sau này (1959, 1980, 1992) thì thấy rằng những quy định để cân bằng và kiểm soát quyền lực lại không được rõ ràng và cân bằng như Hiến pháp 1946.


Ví dụ, Quốc hội có quyền lập Hiến, điều đó có nghĩa rằng quyền lực của Quốc hội vượt trội quá lớn so với các cơ quan hành pháp và tư pháp. Quốc hội có quyền phân công quyền lực cho cả các cơ quan hành pháp và tư pháp, và cho cả chính mình.


Đúng ra, quyền lập Hiến phải là quyền của Dân chứ không phải của Quốc hội. Do đó mà quyền của Dân cũng bị phân tán và yếu thế, không đúng với quyền của người làm chủ.


Hoặc quyền của nguyên thủ quốc gia bị phân tán ở ba nơi, điều đó cũng có nghĩa là quyền lực của cơ quan hành pháp quá yếu thế so với cơ quan lập pháp.


Còn quyền lực của cơ quan tư pháp thì sao? Trong thực tiễn thì nó yếu thế hơn các cơ quan lập pháp và hành pháp và còn bị chi phối trong xét xử.


Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, phân công quyền lực không cân bằng, không rõ ràng thì sự kiểm soát sẽ không có hiệu lực và hiệu quả. Tình trạng tham ô, lãng phí, quan liêu, cơ hội là những biểu hiện của sự lạm quyền và thoái hóa quyền lực rõ ràng nhất. Nó cũng là hậu quả của sự phân công và kiểm soát quyền lực chưa được cân bằng như quy định của Hiến pháp 1946.


Cân bằng và kiểm soát quyền lực là một cơ chế cực kỳ quan trọng trong Hiến pháp nhằm tránh sự lạm quyền và thoái hóa mà trong thể chế quân chủ chuyên chế đã bất lực. Tất nhiên không thể nói tuyệt đối được, vì thể chế nào cũng phải thông qua con người cụ thể. Nhưng có một cơ chế cân bằng và kiểm soát quyền lực cho ba cơ quan Nhà nước, sẽ tốt hơn rất nhiều so với cơ chế tập trung quyền lực vào một ông vua, hoặc vào bất kỳ một lực lượng, một cơ quan nào khác.


Cân bằng và kiềm soát quyền lực là một sự tiến bộ về khoa học và nghệ thuật cầm quyền, là một bước tiến của văn minh nhân loại về quyền lực nhà nước. Chính vì vậy, sửa đổi bổ sung Hiến pháp lần này phải quan tâm để làm rõ ràng hơn, hoàn thiện tốt hơn sự phân công cân bằng và kiểm soát quyền lực Nhà nước.


- Thưa ông, có ý kiến cho rằng, Hiến pháp 1946 và các Hiến pháp được sửa đổi bổ sung sau này của Việt Nam không theo một khuôn mẫu nào của thế giới, có đúng vậy không?


Theo tôi, nói công bằng hơn thì chỉ có các Hiến pháp được sửa đổi, bổ sung sau này (1959, 1980, 1992) là theo khuôn mẫu của cộng hòa Xô Viết, nó không gần với những khuôn mẫu chung của thế giới và có một số quy định cốt lõi lại xa rời với Hiến pháp 1946.


Riêng Hiến pháp 1946 vẫn nằm trong ba hình thức phổ biến của thế giới có nền thể chế cộng hòa hoặc dân chủ cộng hòa:


a, Thể chế cộng hòa Tổng thống: Tổng thống là nguyên thủ quốc gia.

b, Thể chế cộng hòa đại nghị: Tổng thống hoặc Thủ tướng là nguyên thủ quốc gia.

c, Thể chế cộng hòa lưỡng tính: Tổng thống hoặc Chủ tịch Nước là nguyên thủ quốc gia.


Hiến pháp 1946 của nước ta nằm trong loại hình tổ chức thứ ba. Các Hiến pháp sửa đổi, bổ sung sau này có một số vấn đề hệ trọng lại xa rời, hoặc không rõ ràng bằng Hiến pháp 1946, ví dụ như vấn đề cân bằng và kiểm soát quyền lực, vấn đề tập trung quyền của nguyên thủ quốc gia, vấn đề dân phúc quyết Hiến pháp,…


Như vừa rồi tôi đã nói, thực ra lịch sử của Nhà nước nói chung mới có hai loại thể chế: Thể chế Quân chủ và thể chế Dân chủ. Mỗi thể chế đó cũng có những quá trình vận động và có những khác biệt tùy theo sự phát triển, điều kiện và con người lịch sử cụ thể.


Cũng có thể Hiến pháp ghi nền thể chế là Cộng hòa hay Dân chủ Cộng hòa, song thực chất vẫn là chuyên chế, không phải là quân chủ chuyên chế mà là tập thể chuyên chế. Đó là sự biến tướng, tiếm quyền. Tức là về mặt hình thức có thể là Cộng hòa hay Dân chủ Cộng hòa, song về thực chất vẫn có thể là chuyên chế.


- Tóm lại, ông muốn gửi gắm điều gì trong lần sửa đổi Hiến pháp sắp tới?


Tôi muốn gửi gắm nhiều điều, muốn được trở lại rất nhiều điểm tiến bộ, hiện đại của Hiến pháp 1946. Đó là những vấn đề về: Dân chủ, Cộng hòa, Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.


Trên đây tôi chỉ nhấn mạnh có ba vấn đề:


1/-  Dân được quyền phúc quyết Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, để cho đúng nghĩa với thể chế Dân chủ Cộng hòa, Dân là chủ đích thực của đất nước.

2/-  Quyền của nguyên thủ quốc gia cần được tập trung hơn, nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý, điều hành của cơ quan hành pháp.

3/-  Phân công và kiểm soát quyền lực cần được cân bằng hơn, nhằm phòng ngừa sự lạm quyền và thoái hóa quyền lực, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và cơ hội trong hệ thống chính trị.


Tôi hy vọng tới đây, nhân dân ta sẽ được hưởng quyền và làm nghĩa vụ của người chủ đích thực của đất nước là: Tham gia ý kiến và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này.


- Xin cám ơn ông!


Thu Hà

Nguồn: TuanVietNam

RẮN HỔ CHÚA THỐNG TRỊ RỪNG TAM ĐẢO


Ẩn sâu trên dãy núi Tam Đảo hùng vĩ cao 1.500 m có một loài bò sát thống trị nơi này. Ngay cả thợ săn lão luyện đối diện với chúng đều toát mồ hôi, bởi chỉ một cú đớp, nạn nhân sẽ chìm sâu vào giấc ngủ ngàn thu.
Ông Nguyễn Văn Phi, một người dân sống dưới chân dãy núi Tam Đảo thuộc xóm Chuối, xã Ký Phú (Đại Từ, Thái Nguyên) vẫn còn sợ khi nhớ lại việc ba cô con gái nổi máu liều rủ nhau bắt rắn hổ chúa. Ông Phi kể, một buổi sáng mùa đông cách đây không lâu, ba con gái ông là Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Thị Nữ và Nguyễn Thị Trinh dẫn đàn chó săn vào rừng thăm trâu. Khi qua khe suối cách nhà gần chục cây số, đàn chó phát hiện con rắn hổ chúa đang phơi nắng trên hòn đá cạnh vũng nước. Trước sự xuất hiện của đàn chó, con hổ chúa thay vì bỏ chạy đã quay lại tấn công.
Với những cú mổ nhanh như chớp, rắn hổ chúa hạ gục một con chó săn ngay tại chỗ. “Thấy chó nhà chết, ba chị em tức quá ném liên tiếp vào rắn hổ chúa khiến nó choáng váng. Sau đó, chị Hà dùng cây nứa gấp làm đôi kẹp đầu con rắn, chị Nữ hai tay giữ chặt đuôi đề phòng rắn quấn tay chị Hà, còn em chạy về nhà gọi bố lên ứng cứu", cô em út Nguyễn Thị Trinh nhớ lại.
Thấy con gái mặt tái xanh về báo hai chị đang giữ rắn hổ chúa trên rừng, ông Phi như rụng rời chân tay, bởi nếu bị loài này cắn cơ hội sống sót gần như bằng không. Quãng đường từ nhà tới chỗ thăm trâu bình thường phải đi mất tiếng rưỡi, nhưng hôm đó ông Phi đi như bay hết có 30 phút. Gặp con, ông trút gánh nặng khi biết chưa đứa nào bị rắn cắn. Sau đó ba bố con ông Phi mới khiêng được mãng xà về nhà. Khi đem rắn lên cân thử được 3,5 kg, dùng thước đo nó dài đúng 3,5 m, đem bán được hơn 600.00 đồng.


Ran ho chua thong tri rung Tam Dao
Hổ chúa, chúa tể của các loài rắn. Ảnh: Nông nghiệp Việt Nam.

Anh Ngô Văn Thông, tay bắt rắn có số má tại xóm Chuối trước đây nay đã giải nghệ, cho biết hổ chúa có tập quán sinh hoạt, săn mồi rất kỳ lạ. Bình thường các loài như hổ mang, rắn ráo ra khỏi hang, kiếm ăn, giao phối vào mùa hè thì hổ chúa thường xuất hiện vào mùa đông. Bắt đầu từ khoảng tháng 10-12 âm lịch, những thợ săn như anh Thông mới gặp hổ chúa ra phơi nắng. Loài này phần lớn sống ở rừng già nguyên sinh, rất ít khi lởn vởn quanh khu vực có người sinh sống. Thức ăn của chúng không phải là cóc nhái mà chính là các loài rắn.
“Tôi từng bắt được con hổ chúa nặng nhất là 5 kg, dài 5 m khi nó đang nuốt gọn một chú rắn hổ mang bành nặng hơn 2 kg. Ấy vậy mà khi thấy bóng người, trong nháy mắt nó đã kịp ọe con hổ mang ra khỏi bụng để chạy trốn. Nhưng tôi nhanh trí quấn áo vào tay bắt gọn. Hôm đó, tôi vớ được quả hên khi vừa bắt được rắn chúa lại nhặt được cả rắn hổ mang về làm thịt. Rồi rất nhiều lần khác tôi bắt gặp hổ chúa ăn thịt rắn ráo, săn chuột là chuyện thường, chưa khi nào tôi gặp chúng ăn cóc nhái cả”, anh Thông kể.
Để nhận biết đặc điểm của rắn hổ chúa, anh Thông cho biết, loài này có vảy màu đen lấp lánh như than đá, đầu hình tam giác. Khi thấy động, rắn có thể ngóc đầu cao tới một m và dưới hầu rắn là màu vàng. Cánh thợ săn thường phân biệt rắn cái và rắn đực thông qua đếm vảy từ lỗ hậu môn xuống đến đuôi, nếu là rắn cái sẽ là 9 vảy còn rắn đực 7 vảy.
Mới đây sau khi một người cùng tốp thợ săn rắn chết hụt, anh Thông đã từ bỏ hẳn nghề để quay sang chăn dê. Thỉnh thoảng đi rừng bắt gặp rắn chúa anh Thông không bắt nữa mà chỉ xua cho nó chạy đi nơi khác để khỏi cắn đàn dê.
Thường khi bị rắn hổ chúa cắn ít người sống sót, riêng ông Nguyễn Văn Kỳ ở đội 3, xóm Chuối, là trường hợp hy hữu. Cách đây một năm, ông Kỳ cùng anh trai vào rừng thăm trâu, khi qua con suối phát hiện rắn hổ chúa đen tuyền lóng lánh đang nằm phơi nắng trên khúc gỗ cạnh lối đi. Nghe tiếng động, con rắn ngay lập tức ngóc đầu lên cao cả mét.
Ông Kỳ ra hiệu cho anh trai vòng ra phía trước đánh lạc hướng còn ông tiếp cận từ phía sau. Nhận thấy khoảng cách vừa đủ, cộng kinh nghiệm lâu năm trong nghề bắt rắn ông Kỳ chộp nhanh đầu con hổ chúa gìm xuống đất. Tuy nhiên, thật không may tay ông bị vướng vào búi lau sậy, con hổ chúa trong chớp mắt đã quay lại tớp ngay một miếng vào mu bàn tay phải ông Kỳ.

Ran ho chua thong tri rung Tam Dao
Ông Nguyễn Văn Kỳ chỉ vết cắn của rắn hổ chúa trên mu bàn tay. Ảnh: Nông nghiệp Việt Nam.
“Linh cảm thấy tính mạng có thể bị con rắn tước đi, tôi rút vội con dao đi rừng rạch vết dài phía trên vết cắn rồi dùng miệng hút máu độc nhổ đi. Sau đó, tôi dùng dây thừng buộc chặt phía trên vết thương rồi bứt đại nắm lá cho vào miệng nhai nuốt lấy nước còn bã đắp vào vết thương. Trên đường từ rừng về, tôi gọi điện thông báo ở nhà tìm thầy lang bốc thuốc rắn cắn sẵn. Sau khi đắp lá xong đâu đấy, tôi chủ quan nghĩ mình đã sống nên tháo dây garô ở tay ra, chưa đầy một phút sau tôi thấy mình buồn ngủ và ngất lịm đi lúc nào không biết", ông Kỳ nhớ lại.
Thấy ông Kỳ bất tỉnh, gia đình nhanh chóng đưa ông lên Bệnh viện Đa khoa huyện Đại Từ cấp cứu. Nhưng vừa tiếp nhận, các bác sĩ đã trả về đồng thời ngỏ ý thông báo gia đình về nhà lo hậu sự. Song với suy nghĩ còn nước còn tát gia đình tiếp tục đưa ông lên Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Nguyên. Nhờ biết được loài rắn đã cắn, các bác sĩ có kinh nghiệm tại đây kịp thời cứu ông Kỳ thoát chết. Phải đúng một tháng sau, ông Kỳ mới bình phục. Tuy nhiên, hậu quả của việc bị rắn chúa cắn để lại với ông Kỳ là căn bệnh suy thận và những lúc trái nắng trở trời đầu đau như búa bổ.
Ông Kỳ nghĩ mình may mắn sống sót có lẽ do con hổ chúa chỉ “vẩy răng” sứt lớp da phía trên ngón tay nơi có ít mạch máu nên lượng độc vào cơ thể không đáng kể. Chứ bình thường từ trước tới nay những ai bị rắn hổ chúa cắn đều cầm chắc cái chết.
“Tôi bị rất nhiều loài rắn cắn nhưng nhát cắn của hổ chúa hoàn toàn khác. Nếu rắn hổ mang bành cắn buốt như tiêm kháng sinh vào bắp thịt và nọc độc chạy đến đâu sưng tấy đến đó thì rắn hổ chúa cắn ngọt sật. Dù không đau đớn nhưng chỉ độ phút sau là mắt mũi hoa lên, nạn nhân ngất lịm đi, suy hô hấp rồi chìm sâu vào giấc ngủ ngàn thu. Sau bận chết hụt đó tôi không bao giờ bắt bất cứ loài rắn nào nữa", ông Kỳ kể.
Theo Nông nghiệp Việt Nam
HRW tố cáo Việt Nam gia tăng đàn áp những ai chỉ trích chính quyền

Thứ sáu 01 Tháng Hai 2013       
Cồng an dồn những người biểu tình phản đối Trung Quốc tại Hà Nội ngày 09/12/2012 lên xe buýt.
Cồng an dồn những người biểu tình phản đối Trung Quốc tại Hà Nội ngày 09/12/2012 lên xe buýt.
REUTERS/Tran Minh Tue

Thanh Phương
Trong bản báo cáo năm 2013 về tình hình nhân quyền trên thế giới công bố ngày 01/02/2013, tổ chức Human Rights Watch nhận định : Chính quyền Việt Nam đang « gia tăng đàn áp các quyền tự do ngôn luận, lập hội và hội họp ôn hòa một cách có hệ thống, đồng thời trấn áp những người chất vấn các chính sách của chính phủ, phanh phui các vụ tham nhũng của quan chức hoặc kêu gọi các giải pháp dân chủ thay thế cho chế độ độc đảng. »

Theo Human Rights Watch, trong năm 2012, các nhà hoạt động vẫn bị chính quyền tùy tiện bắt giữ, giam giữ cách ly trong một thời gian dài mà không được trợ giúp pháp lý và cũng không được gia đình thăm viếng, bị tra tấn và bị xét xử tại các phiên tòa theo sự chỉ đạo của chính quyền và bị kết án tù nặng nề với những điều luật mơ hồ về an ninh quốc gia.
Ông Brad Adams, Giám đốc châu Á của HRW ghi nhận : « Tình hình nhân quyền ở Việt Nam lại thụt lùi thêm một bước trong năm 2012, khi chính quyền tiếp tục dùng chính sách cứng rắn để đối phó với những bất mãn về chính trị, xã hội và kinh tế ngày càng tăng trong nước. »
Theo thống kê của Human Rights Watch, tính đến cuối năm 2012, có ít nhất 40 nhà hoạt động bị kết án và xử nhiều năm tù. Ngoài ra, có ít nhất 31 người bị bắt và tạm giam chưa xét xử.
Chính quyền Việt Nam cũng đang khống chế tự do Internet với dự thảo Nghị định về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và nội dung thông tin trên mạng, với các quy định cấm đăng tải những nội dung bị coi là chống Nhà nước, phá hoại an ninh quốc gia, tiết lộ bí mật Nhà nước hay quảng bá những quan điểm bị coi là « phản động » trên mạng.
Tổ chức HRW cũng đặc biệt quan ngại về nạn tra tấn và các hình thức ngược đãi khác của công an. Theo số liệu của báo chí chính thức, chỉ tính riêng trong 9 tháng đầu năm, đã có ít nhất 15 người chết trong khi bị công an giam giữ, trong đó có những người bị đánh đến chết. HRW cũng chỉ trích việc chính quyền Việt Nam dùng vũ lực giải tán những người tuần hành ôn hòa ở Hà Nội phản đối những hành động của Trung Quốc xâm lấn chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông, như vụ xảy ra ngày 05/08.
HRW cũng lưu ý rằng Nghị định 92 của chính phủ ban hành ngày 08/10/2012 chính là nhằm gia tăng kiểm soát tự do tôn giáo ở Việt Nam, với quy định mới về các điều kiện cho các tổ chức tôn giáo được công nhận chính thức, chẳng hạn như phải chứng minh chưa từng vi phạm an ninh quốc gia trong quá khứ.
nguồn:http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20130201-to-chuc-hrw-to-cao-viet-nam-gia-tang-dan-ap-nhung-nguoi-chi-trich-chinh-quyen
======================================================================
Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền - Việt Nam: Leo thang đàn áp những người phê phán chính quyền


Thông cáo phát hành ngay:


Việt Nam: Leo thang đàn áp những người phê phán chính quyền

Các chính sách tụt hậu và việc trấn áp các nhà hoạt động đang kìm hãm sự phát triển
(Luân Đôn, ngày mồng 1 tháng Hai, 2013) — Hôm nay, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nhận xét trong bản Phúc trình Toàn cầu 2013, chính quyền Việt Nam đang đàn áp các quyền tự do ngôn luận, lập hội và nhóm họp ôn hòa một cách có hệ thống, đồng thời trấn áp những người lên tiếng chất vấn chính sách nhà nước, phanh phui các vụ tham nhũng của giới quan chức hoặc kêu gọi các giải pháp dân chủ thay thế cho chế độ độc đảng.
Trong bản phúc trình dài 665 trang của mình, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền đánh giá tiến bộ về nhân quyền tại hơn 90 quốc gia trong năm vừa qua, có kèm theo phần phân tích về tác động của Mùa xuân Ả-rập.
Trong năm 2012, các nhà hoạt động vẫn bị chính quyền tùy tiện bắt giữ, giam giữ cách ly trong thời gian dài mà không được tiếp xúc với nguồn trợ giúp pháp lý hoặc gia đình, bị tra tấn và xét xử tại các phiên tòa có chỉ đạo chính trị với các mức án tù nặng nề vì đã vi phạm các điều luật về an ninh quốc gia hoặc các điều khoản hình sự khác có nội dung mơ hồ.
“Tình hình nhân quyền ở Việt Nam lại thụt lùi thêm một bước nữa trong năm 2012, khi chính quyền theo đuổi chính sách cứng rắn để đối phó với những biểu hiện bất mãn về chính trị, xã hội và kinh tế trong nước đang ngày một gia tăng,” ông Brad Adams, Giám đốc Ban Á châu của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu. “Trong lúc một quốc gia láng giềng, đồng thành viên ASEAN là Miến Điện đang trải qua những thay đổi sâu sắc, chính quyền Việt Nam càng thể hiện rõ nét sự tương phản, qua các chính sách lạc hậu, các hành vi đàn áp những nhà hoạt động, kìm hãm sự phát triển của đất nước.”
Trong năm ngoái, có sự gia tăng chưa từng thấy của các tiếng nói phê phán nhằm vào Đảng Cộng sản đang cầm quyền. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải chịu liên tiếp nhiều đợt công kích từ nội bộ giới lãnh đạo và Quốc hội, dẫn đến ý kiến công khai kêu gọi ông Dũng từ chức do đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc đưa ra trong tháng Mười một. Những tiếng nói phê phán xuất hiện giữa lúc một số đại gia và cán bộ doanh nghiệp nhà nước nhiều quan hệ quyền thế bị bắt vì tình nghi tham nhũng và các tội phạm kinh tế khác, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam rớt xuống mức thấp nhất trong 13 năm, và đang có một cuộc đấu đá nội bộ giữa ông Dũng với các lãnh đạo cao cấp khác, trong đó có Tổng Bí thư Đảng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.
Các blogger và nhiều người khác tham gia đóng góp tiếng nói phê phán quan chức và chính sách nhà nước, để rồi nhiều người bị bắt và xử tù. Tính đến cuối năm 2012, có ít nhất 40 nhà hoạt động bị kết án và xử nhiều năm tù theo các điều 79 (lật đổ), 87 (phá hoại đoàn kết), 88 (tuyên truyền chống nhà nước), 89 (phá rối an ninh) và 258 (xâm phạm lợi ích nhà nước) của bộ luật hình sự, cho thấy sự gia tăng đáng kể so với năm 2011. Ngoài ra, có thêm ít nhất 31 người khác bị bắt và tạm giam chưa xét xử, tính đến hết năm 2012.
Chính quyền cố gắng khống chế tự do internet bằng dự thảo Nghị định về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và nội dung thông tin trên mạng, với các quy định cấm đăng tải những nội dung bị coi là chống nhà nước hay đi ngược lại lợi ích an ninh quốc gia, tiết lộ bí mật nhà nước hay quảng bá các ý tưởng “phản động” trên mạng internet. Chính quyền tiếp tục ngăn chặn đường truy cập đến các trang mạng nhạy cảm về chính trị, và yêu cầu các chủ đại lý internet phải theo dõi và lưu trữ thông tin về các hoạt động trên mạng của khách hàng. Trong tháng Chín, ông Dũng ra lệnh phải siết thêm một bước nữa, yêu cầu Bộ Công an điều tra các blog và trang mạng không vừa ý chính quyền, và trừng phạt những người đã lập ra các trang này.
“Việc các nhà tài trợ và những ai quan tâm đến sự phát triển của Việt Nam phóng tay chi những khoản tài trợ khổng lồ và đầu tư to lớn mà không hề sử dụng vị thế của mình để yêu cầu chấm dứt đàn áp đã kéo dài quá lâu,” ông Adams nói. “Cứ mỗi ý kiến công khai phê phán về tình hình nhân quyền Việt Nam được một chính phủ nước ngoài đưa ra, lại có hàng chục phái đoàn sang thăm để tạo cơ hội chụp hình và quảng bá cho một chính quyền vốn có thành tích tồi tệ về nhân quyền.”
Gia tăng đàn áp
Chỉ dấu cho thấy xu hướng đàn áp đang gia tăng, nhằm đối phó với những tiếng nói bất đồng chính kiến ngày càng nhiều, là một loạt các vụ xử án trong năm 2012 dẫn đến án tù cho những người chỉ thực thi các quyền tự do cơ bản của mình, được nêu chi tiết trong Phúc trình Toàn cầu của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền. Đơn cử, vào tháng Ba, Mục sư Tin lành bất đồng chính kiến Nguyễn Công Chính bị kết án 11 năm tù với tội danh “phá hoại khối đoàn kết dân tộc.” Hai nhà hoạt động vì quyền lợi đất đai Hồ Thị Huệ và Nguyễn Bích Thủy phải nhận mỗi người hai năm tù vì tham gia biểu tình phản đối trưng thu đất đai ở tỉnh Tây Ninh.
Trong các vụ án điểm khác vào tháng Ba, tháng Năm và tháng Chín, năm nhà hoạt động Công giáo – Võ Thị Thu Thủy, Nguyễn Văn Thanh, Đậu Văn Dương, Trần Hữu Đức và Chu Mạnh Sơn bị kết án từ 2 năm 6 tháng đến 4 năm tù mỗi người vì phát tán các truyền đơn ủng hộ dân chủ. Trong một phiên xử chớp nhoáng vào ngày 24 tháng Chín, tòa án kết tội ba blogger bất đồng chính kiến nổi tiếng nhất Việt Nam là Nguyễn Văn Hải (bút danh Điếu Cày), Tạ Phong Tần, và Phan Thanh Hải (bút danh Anhbasg) vi phạm điều 88 bộ luật hình sự và xử họ lần lượt là 12, 10 và 4 năm tù (sau đó mức án của Phan Thanh Hải được giảm xuống còn ba năm). Chính quyền cũng vận dụng điều 88 để dập tắt tiếng nói của các nhà vận động nhân quyền và blogger khác. Vào tháng Mười, hai nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình và Võ Minh Trí (nghệ danh Việt Khang) bị kết án lần lượt là sáu năm và bốn năm tù, vì đã viết các ca khúc phê phán chế độ.
Năm 2012 kết thúc với một cú đòn nặng nề nữa giáng vào nhân quyền: việc bắt giam luật sư bảo vệ nhân quyền Lê Quốc Quân ở Hà Nội vào ngày 27 tháng Chạp với cáo buộc trốn thuế có vẻ có động cơ chính trị, vì trước đó ít ngày ông viết một bài phê bình vai trò lãnh đạo được trao cho Đảng Cộng sản trong hệ thống chính trị của Việt Nam.
Đất đai vẫn là vấn đề nóng bỏng, khi nông dân và cư dân nông thôn phải đối mặt với nạn trưng thu đất đai tùy tiện của quan chức chính quyền và các doanh nghiệp thuộc khối tư nhân.
“Mâu thuẫn về đất đai liên tiếp dẫn đến các vụ xung đột bạo lực giữa người dân và các lực lượng an ninh, và nếu chính quyền không giải quyết các khiếu tố của người dân một cách thỏa đáng, việc các xung đột xã hội tiếp tục bùng nổ là điều không thể tránh khỏi,” ông Adams nói.
Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cũng bày tỏ quan ngại về nạn tra tấn và các hình thức ngược đãi khác của công an. Theo số liệu của báo chí do nhà nước kiểm soát, có ít nhất 15 người chết trong khi bị công an giam giữ, chỉ tính riêng trong chín tháng đầu năm 2012, trong đó có những người bị đánh đến chết. Công an sử dụng bạo lực quá mức cần thiết để đối phó với các cuộc biểu tình đông người. Ví dụ như, vào ngày mồng 5 tháng Tám, chính quyền sử dụng vũ lực giải tán những người tuần hành ôn hòa ở Hà Nội để phản đối cách ứng xử của chính quyền Trung Quốc về chủ quyền ở hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, nơi Việt Nam cũng tuyên bố chủ quyền.
Nghị định 92 của Chính phủ ban hành ngày mồng 8 tháng Mười một có tác dụng tăng cường kiểm soát tự do tôn giáo qua việc đặt ra những quy định mới về điều kiện cho các nhóm tôn giáo được công nhận chính thức, như phải chứng minh chưa từng vi phạm an ninh quốc gia trong quá khứ. Chính quyền thường hạn chế tự do tôn giáo bằng các quy định pháp luật, yêu cầu về đăng ký, và bằng hành động sách nhiễu và đe dọa các nhóm không được công nhận hoặc có nghi vấn chính trị, trong đó có các nhóm Phật giáo, Tin lành, Công giáo và các cộng đồng tín ngưỡng khác.
“Phải coi năm 2012 vừa qua như một hồi chuông thức tỉnh những người, ví dụ như chính phủ Nhật Bản, vẫn làm ăn bình thường với chính quyền Việt Nam trong lúc các công dân Việt Nam thường xuyên bị kết các mức án tù nhiều năm chỉ vì đơn thuần bày tỏ ý kiến của mình,” ông Adams phát biểu.
Để xem phúc trình năm 2013 của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền về Việt Nam, xin truy cập:
http://www.hrw.org/node/112609
Để xem thêm các báo cáo của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền về Việt Nam, xin truy cập:
http://www.hrw.org/languages?lang=vi
Muốn có thêm thông tin, xin liên hệ:
Ở San Francisco, Brad Adams (tiếng Anh): +1-510-926-8443 (di động); hay email: adamsb@hrw.org
Ở Bangkok, Phil Robertson (tiếng Anh, tiếng Thái): +66-85-060-8406; hay email: robertp@hrw.org
Ở Washington, DC, John Sifton (tiếng Anh): +1-917-838-9736; hay email: siftonj@hrw.org
Khách gửi hôm Thứ Sáu, 01/02/2013          
nguồn:http://danluan.org/tin-tuc/20130201/viet-nam-leo-thang-dan-ap-nhung-nguoi-phe-phan-chinh-quyen
======================================================================
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
          Sẽ xóa những comment nói tục
          Thinhoi001
850 năm ngày xây dựng Nhà thờ Đức Bà Paris

Thứ sáu 01 Tháng Hai 2013  
Nhà thờ Đức Bà Paris thu hút hàng năm 14 triệu lượt du khách, nhân 850 tuổi dự trù đón tiếp 20 triệu khách thăm viếng (Reuters)
Nhà thờ Đức Bà Paris thu hút hàng năm 14 triệu lượt du khách, nhân 850 tuổi dự trù đón tiếp 20 triệu khách thăm viếng (Reuters)
Tuấn Thảo
Cách đây hơn 8 thế kỷ, vào năm 1163, vua nước Pháp thời bấy giờ là Louis VII và Đức Giáo hoàng Alessandro III đặt viên đá đầu tiên để khởi công xây cất Nhà thờ Đức Bà Paris. Giai đoạn đầu là xây dựng chính điện thánh đường do giám mục Maurice de Sully điều hành. Mãi đến hai thế kỷ sau, công trình xây cất mới chính thức hoàn tất. Năm 2013, nước Pháp tổ chức lễ hội ăn mừng sinh nhật lần thứ 850 của Nhà thờ Đức Bà Paris.
Chương trình lễ hội sẽ kéo dài một năm, từ trung tuần tháng 12 năm 2012 cho đến ngày cuối năm 2013. Kể từ đầu năm nay, quảng trường và mặt tiền Nhà thờ Đức Bà Paris đã được tân trang lộng lẫy, huy hoàng. Sự kiện một công trình kiến trúc đồ sộ như vậy vẫn còn đứng vững có thể được xem như nhờ có phép lạ. Nhà thờ Đức Bà vẫn tồn tại sau bao thăng trầm lịch sử, trải qua giai đoạn đập phá thời Cách mạng Pháp hay xung đột giao tranh thời Đệ Nhị Thế Chiến.
Từ ngày đặt viên đá xây dựng đầu tiên cho tới tận ngày hôm nay, hình tượng của Nhà thờ Đức Bà Paris đã gắn liền với lịch sử nước Pháp. Chính tại nơi này mà vào năm 1230, vua Saint-Louis đã làm lễ rước vòng gai của Đức Chúa. Đội quân Thập Tự Chinh đã đưa thánh tích này từ Constantinople về Paris. Năm 1455, phiên xử nhằm minh oan và phục hồi danh dự của thánh Jeanne d’Arc đã diễn ra tại chính điện Nhà thờ Đức Bà Paris.
Hơn ba thế kỷ sau, hoàng đế Napoléon Đệ Nhất đã chọn nơi này làm lễ đăng quang vào năm 1804, với sự hiện diện của Đức Giáo hoàng Pie VII. Vào cuối tháng 8 năm 1944, chuông nhà thờ đã ngân vang khi tướng De Gaulle bước vào chính điện để tưởng niệm các binh sĩ trận vong nhân ngày giải phóng thủ đô Paris khỏi ách chiếm đóng của quân đội Đức Quốc Xã.
Vào ngày 12 tháng 12 vừa qua, Tổng Giám Mục Paris Đức Hồng y André Vingt-Trois, đã khai mạc chương trình sinh hoạt với sự hiện diện của bộ trưởng bộ Nội vụ Pháp Manuel Valls và thị trưởng Paris, ông Bertrand Delanoë. Quảng trường mặt tiền của Nhà thờ đã được thiết kế thành Lộ trình của Đức Bà, và toàn bộ các sinh hoạt đều đặt dưới sự phối hợp của tổ chức mang tên "Notre Dame de Paris 2013". Ông Jean François Lemercier, tổng thư ký ban tổ chức chương trình kỷ niệm sinh nhật lần thứ 850 của Nhà thờ Đức Bà Paris cho biết vài nét chính:
Trong khuôn khổ chương trình sinh hoạt nhằm kỷ niệm 850 năm ngày xây dựng Nhà thờ Đức Bà Paris, mục tiêu đầu tiên của chúng tôi là đón tiếp 20 triệu khách, bao gồm các đoàn thăm viếng và khách hành hương. Ngoài công việc hướng dẫn du khách, văn phòng thông tin của chúng tôi còn có nhiệm vụ phối hợp điều hành các sinh hoạt. Chẳng hạn như chúng tôi lập ra nhiều lộ trình viếng thăm: mục đích là tạo điều kiện cho khách tham quan và khách hành hương khám phá Nhà thờ Đức Bà Paris dưới nhiều góc độ khác nhau : nghệ thuật kiến trúc, lịch sử công trình, các buổi lễ thánh nhạc, các sinh hoạt tín ngưỡng, tâm linh.
Rất nhiều ấn phẩm được xuất bản nhân dịp này để phản ánh công việc bảo tồn Nhà thờ Đức Bà Paris qua bao giai đoạn lịch sử. Chương trình kỷ niệm 850 năm Nhà thờ Đức Bà Paris kéo dài trong vòng một năm, trong đó có nhiều sự kiện quan trọng, trùng hợp với những ngày lễ lớn của người Công giáo như lễ Phục Sinh, lễ Thăng Thiên, lễ Chư Thánh … Ngoài ra, Tổng giáo phận Paris còn chủ trì nhiều sinh hoạt biểu tượng gắn liền với lịch sử của Nhà thờ Đức Bà Paris.
Vào ngày 9 tháng Hai năm 2013, sẽ có lễ rước chuông. Sau khi trùng tu mặt tiền Nhà thờ Đức Bà Paris, chúng tôi sẽ rước 9 quả chuông đồng từ vùng Normandie về Paris, rồi gắn lên tháp chuông nhà thờ. Còn ngày 6 tháng Năm năm 2013, là ngày hội thế giới của đàn ống (orgue), nhân dịp này chúng tôi phối hợp với rất nhiều thánh đường trên toàn cầu, để cùng tổ chức 850 buổi lễ thánh nhạc trên năm châu lục. Một cách tượng trưng, chúng tôi muốn thắp sáng 850 ngọn nến để mừng sinh nhật 850 tuổi của Nhà thờ Đức Bà Paris.
Không phải ngẫu nhiên mà Nhà thờ Đức Bà Paris đã chọn trung tuần tháng Hai năm 2013 làm lễ rước chuông. Các quả chuông đồng được trùng tu tại thị trấn Villedieu les Poêles, ở vùng Normandie, nơi có truyền thống lâu đời rèn đúc chuông nhà thờ. Sau khi làm lễ phước lành, các quả chuông đồng sẽ được đưa về tháp chuông Nhà thờ Đức Bà. Giáo sư Jean Pierre Cartier, chuyên nghiên cứu về nghệ thuật và lịch sử Paris cho biết ý nghĩa của sự kiện này :
Vào ngày 10 tháng Hai năm 1638, tức cách đây gần bốn thế kỷ, vua Louis XIII đã ký một chỉ dụ, qua đó nhà vua thề nguyện lòng mộ đạo cũng như sự trung thành đối với Giáo hội. Cũng cần biết rằng vào thời đó, nước Pháp chưa có thể chế tam quyền phân lập, và vương triều thời bấy giờ khẳng định Công giáo như một quốc giáo. Nhưng điều quan trọng hơn nữa, là qua văn thư này, nhà vua Louis XIII đã cho tiến hành một kế hoạch trùng tu quan trọng, không những nhằm mục đích bảo tồn mà còn góp phần xây dựng thêm để khuếch trương tầm vóc của Nhà thờ Đức Bà Paris.
Tính chất nguy nga, đồ sộ của Vương cung Thánh đường không phải được xây cất một sớm một chiều, mà là nhờ vào sự kết hợp của nhiều kiến trúc sư (Jean de Chelles, Pierre de Montreuil, Pierre de Chelles, Jean Ravy, Jean le Bouteiller, Viollet le Duc …) qua nhiều thời kỳ khác nhau, nâng công trình xây dựng này lên hàng đầu nghệ thuật kiến trúc gothic. Điều mà khách tham quan cũng như khách hành hương nhìn thấy tận mắt là kết quả chung cuộc của một công trình xây dựng, nhưng đa số chúng ta ít nhận thức được tất cả những giọt mồ hôi và nước mắt đã đổ xuống để giúp cho Nhà thờ Đức Bà Paris đứng vững để rồi tỏa sáng cho tới tận ngày nay.
Chỉ dụ của vua Louis XIII đánh dấu một cột mốc lịch sử quan trọng, vì các triều vua sau đó tiếp tục tài trợ việc bảo tồn công trình này. Ngay bên trong Nhà thờ Đức Bà Paris, có rất nhiều tác phẩm nghệ thuật lớn, trong số này có một bức tượng điêu khắc nổi tiếng đặt ở bàn thờ chính điện. Bức tượng cho thấy vua Louis XIII quỳ gối bên phải Đức Mẹ Maria, nhà vua ở trong tư thế dâng hiến vương miện cho Thánh Nữ Bác Ái (La Pieta) để thề nguyện lòng trung thành với Đức Mẹ.

Một trong những sinh hoạt nổi bật của chương trình kỷ niệm 850 năm ngày xây dựng Nhà thờ Đức Bà Paris, chính là các buổi lễ thánh nhạc. Hàng năm, Nhà thờ Đức Bà Paris tổ chức khoảng 100 buổi trình diễn thánh ca kết hợp dàn đàn ống với các ca đoàn nhà thờ cũng như với các học sinh nhạc viện Nhà thờ Đức Bà Paris. Ông Simon Cnockaert, giám đốc khoa Thánh nhạc cho biết :
Ngay từ thời khởi công xây dựng Nhà thờ Đức Bà Paris, đã nảy sinh một phong trào sáng tác thánh nhạc. Phong trào này đánh dấu ngày khai sinh thể loại thánh ca đa âm phức điệu không những ở Pháp mà còn trên toàn châu Âu. Trước đó, vào thời Trung Cổ, thánh ca nhà thờ thường theo truyền thống đơn âm như thánh ca Gregory, ban đầu chỉ phổ biến trong các tu viện. Phong trào này sẽ phất triển rất mạnh, hình thành nguyên một trường phái riêng biệt hẳn hoi trong âm nhạc hàn lâm, cổ điển và nhiều tác giả lớn trải qua nhiều thế kỷ sau đó tại châu Âu từ Johannes Brahms, Anton Bruchner đến Félix Mendelson, từ Wolfgang Amadeus Mozart đến Johann Sebastian Bach đều đã góp công sáng tác làm giàu thêm bộ vựng tập.
Khoa thánh nhạc của Nhà thờ Đức Bà Paris chẳng những duy trì truyền thống này mà còn tìm cách khuyến khích các soạn giả thời nay tiếp tục con đường sáng tác thánh nhạc như trường hợp của nhạc sĩ Yves Castagnet. Ngoài ca đoàn của Nhà thờ Đức Bà Paris, chúng tôi còn mời nhiều ca đoàn đến từ các quốc gia khác sang Paris biểu diễn. Các buổi trình diễn ở đây đều miễn phí vì mục tiêu hàng đầu không phải là kinh doanh lợi nhuận hay nhằm mục đích tiêu khiển giải trí, mà là làm giàu đời sống tâm linh của khách hành hương hay người thăm viếng đến từ thập phương.
Về phần mình, đô trưởng Paris, ông Bertrand Delanoë, sau khi tham gia buổi lễ khai mạc chương trình Notre Dame de Paris 2013, cho biết cảm nhận của ông cũng như ý nghĩa của chương trình sinh hoạt trong vòng 12 tháng liên tục nhằm kỷ niệm 850 năm ngày xây dựng Nhà thờ Đức Bà đối với Tòa Đô chính Paris :
Tại thành phố Paris, ít có một địa điểm nào mà lại thấm nhuần cái hồn của thủ đô nước Pháp cho bằng Nhà thờ Đức Bà. Khoản thời gian dài 850 năm đã tạo cho công trình này một bề dầy lịch sử đáng kể, nhưng bên cạnh đó còn có cái quan hệ tình cảm gắn bó mật thiết của người dân thủ đô đối với Nhà thờ Đức Bà Paris. Một sự kiện quan trọng khác là Nhà thờ Đức Bà Paris là một trong những công trình kiến trúc lịch sử thu hút nhiều lượt du khách nhất.
Tính trung bình, hàng năm, Nhà thờ Đức Bà Paris lôi cuốn 14 triệu lượt du khách, và đặc biệt năm nay, nhân dịp sinh nhật 850 tuổi, công trình này sẽ thu hút khoảng 20 triệu lượt khách thăm viếng. Đối với tôi, điều này rất có ý nghĩa : cho dù khách thăm viếng đến từ các vùng miền khác của nước Pháp hay là du khách nước ngoài, cho dù đối tượng này là người không theo đạo Chúa hay là khách hành hương mộ đạo, thì tất cả đều muốn chiêm ngưỡng tận mắt Nhà thờ Đức Bà Paris. Vẻ đẹp lạ thường cũng như tầm vóc đồ sộ của công trình đã biến Nhà thờ Đức Bà Paris thành một kiệt tác, một kỳ quan, điều đó vượt lên trên sự khác biệt quan điểm.
Nhà thờ mở rộng cánh cửa để tiếp đón mọi người, bất kể quốc tịch, màu da, địa vị xã hội, hay khác biệt tín ngưỡng. Rất có thể là nhà văn Victor Hugo trong tác phẩm văn học của ông (thằng gù Nhà thờ Đức Bà Paris) đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng trong tâm trí của du khách một hình ảnh rất đẹp : Nhà thờ Đức Bà Paris do vua chúa xây cất nhưng không phải thuộc quyền sở hữu đế vương mà lại dành cho tất cả mọi người. Thông điệp ấy vẫn còn giá trị biểu tượng cho tới tận ngày nay.
nguồn:http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20130201-nha-tho-duc-ba-paris
======================================================================
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
          Sẽ xóa những comment nói tục
          Thinhoi001
Phạm Duy - "Trên đời này không có gì đáng ghét hơn “lập trường.”

Tân Ước hậu hiện đại…


Đức Giê-su cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất. Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ:

“Ai trong các ngươi cảm thấy mình có công với dân tộc Việt Nam hơn Phạm Duy thì hãy chỉ trích ông ấy.

“Còn nếu ai trong các ngươi cảm thấy công lao của mình thua kém Phạm Duy thì hãy im lặng, suy gẫm.

“Và kẻ nào đang cướp đất của nhân dân, cướp tiền bạc, mồ hôi nước mắt của nhân dân, cướp tự do của nhân dân thì hãy cúi mặt xuống. Các ngươi không có tư cách để đánh giá Phạm Duy.

“Ta phong thánh cho người nhạc sĩ tài hoa ấy. Các ngươi sẽ bị nhân dân quên lãng nhưng Phạm Duy thì luôn ở trong hoài niệm của dân tộc Việt Nam. Các ngươi sẽ bị lịch sử ném vào sọt rác nhưng Phạm Duy đã được dựng tượng đài trong mỗi trái tim.”

(Gioan (8,3-11) Tân Ước hậu hiện đại)/ Daohieu


Tiến sỹ Mỹ gọi Phạm Duy là 'Đại vương'

Eric Henry và Phạm Duy trong một lần tranh luận tại Sài Gòn

Ông Eric Henry nói hồi ký của nhạc sỹ giúp người ta hiểu thêm về Việt Nam trong một thế kỷ qua
Một trong số những người nước ngoài yêu nhạc Phạm Duy và gửi lời chia buồn tới gia đình và người hâm mộ Việt Nam là Tiến sỹ Eric Henry, người vừa hoàn thành việc dịch hồi ký của nhạc sỹ sang tiếng Anh.
Trong thư chia buồn bằng tiếng Việt ông Henry gọi Phạm Duy là "BỐ".


BBC đã gửi ông một số câu hỏi bằng tiếng Việt và phần trả lời sau đây cũng do tác giả gửi bằng tiếng Việt (các chữ viết tắt là nguyên văn cách viết của tác giả).
BBC: Xin Tiến sỹ cho biết bối cảnh nào khiến ông tới với nhạc của Phạm Duy và ông thích các ca khúc nào của Nhạc sỹ?
Tiến sỹ Eric Henry: Tôi sinh năm 1943. Thời thơ ấu đã tập dương cầm, và sau đó bắt đầu đánh dương cầm (và dạy dương cầm) làm sinh kế, nhưng không biết gì hết về Việt Nam.
Năm 1968 tôi nhập vào lục quân Mỹ và được huấn luyện 12 tháng về tiếng Việt.
Đến năm 70-71, tôi được đóng ở Việt Nam (Củ Chi, Xuân Lộc, rồi đến tỉnh Quảng Trị) với lục quân Mỹ.
Thuở đó tôi đã làm quen với Truyện Kiều và một số tiểu thuyết của Khái Hưng, Nhất Linh, Duyên Anh, nhưng vẫn không biết nhiều về nhạc phổ thông Việt Nam.
Có lần tôi chép ra cái giai điệu của bài “Tôi Đưa Em Sang Sông” (Nhật Ngân sáng tác).
Tôi cũng đã nghe nói một chút về tên tuổi của Phạm Duy và Trịnh Công Sơn. Như thế là hết.

Phong phú như Picasso

Sau đó tôi làm nghiên cứu sinh (graduate student) về văn chương Trung Quốc ở đại học Yale, và năm 1980 bắt dầu dạy Trung văn, hồi trước tại Dartmouth, và từ 1982 trở đi tại University of North Carolina.

"Nói chung, tôi thấy là các giai đoan trong dòng nhạc Phạm Duy nhiều và phong phú như các giai đoạn (“periods”) trong nghề nghiệp Picasso!"
Tiến sỹ Eric Henry
Năm 1995, tôi bắt đầu mở lớp Việt ngữ ở Carolina, và từ năm 1999 bắt đầu coi những video “Paris By Night.”
Tôi rất ngạc nhiên khi thấy là trong những ca khúc Paris by Night, có khoảng 40 phần trăm có giá trị nghệ thuật; vả lại, lối hát của nhiều ca sĩ trên đó hấp dẫn lắm, điêu luyện lắm!
Từ năm 2000 trở đi tôi đã không ngừng tìm hiểu bằng mỗi cách về âm nhạc Việt Nam. Và mấy năm gần đây cũng đã tìm cách hiểu được một chút về nhạc phổ thông của Nhật Bổn, Đại Hàn, Trung Quốc, Đài Loan, Phi Luật Tân...
Khoảng năm 2002 trong khi đi thăm một nhà sách VN ở Falls Church, Virginia, tôi dã thấy, mua, và đêm về nhà, quyển một Hồi Ký của Phạm Duy, và đã thấy ngay rằng đây là một tác phẩm có giá trị tối cao đối với bất cứ ai muốn hiểu thêm về Việt Nam trong thế kỷ vừa qua.
Đối với câu hỏi về những ca khúc của Phạm Duy mà tôi thích nhất, thì tôi thực sự không có cách nói cho bằng—số ca khúc quá nhiều!
Thuở sớm (khoảng 2001) một bài mà đã gây một ấn tượng sâu trong lòng tôi là “Thuyền Viễn Xứ.”
Tôi cũng thích đặc biệt các bài trong Hoàng Cầm Ca (năm bài) và Thiền Ca (mười bài). Và tôi thấy là các “dân ca mới” mà ông đã sáng tác vào thuở Kháng Chiến cũng có giá trị đặc biệt.
Nói chung, tôi thấy là các giai đoạn trong dòng nhạc Phạm Duy nhiều và phong phú như các giai đoạn (“periods”) trong nghề nghiệp Picasso!
BBC: Ông đánh giá thế nào về nhạc sỹ Phạm Duy với tư cách là một nhạc sỹ và một con người?
Tiến sỹ Eric Henry: Tôi thấy rằng Phạm Duy là “đại vương” của nhạc phổ thông Việt Nam.
Không có một nhà sáng tác nào khác có thể nói là đa dạng, sâu sắc, và đầy sức tưởng tượng bằng ông.
Nhưng tôi nói thế nhất định không có nghĩa là tôi muốn bác bỏ những thành tựu của các người soạn nhạc khác. Trong giới nhạc phổ thông Việt Nam, có rất nhiều nhân vật mà ta chỉ thể nói là “vĩ đại” đến tột độ.
Đối với con người Phạm Duy, thì tôi thấy là ông không những là nhạc sỹ, mà là một vị tư tưởng gia nữa, và rất quan tâm đến tương lai và số mệnh của người Việt Nam.
Điều đó có thể thấy rõ khi đọc bốn quyển Hồi Ký của ông.
Tôi đã được cái may mắn làm quen với nhiều người “không phàm,” nhưng chưa hề gặp một ngưởi nào thông minh hơn, hoặc phức tạp hơn, nhạc sỹ Phạm Duy.
Nếp sống của ông đã bận rộn vô cũng và ông lúc nào cũng phải chuyên tâm về nghề nghiệp của mình—tuy vậy ông luôn luôn đối xử với tôi một cách tử tế, đẹp đẽ không thể tả được.
Tôi không khó mà thấy tại sao những người gọi ông bằng “bố” là nhiều như thế.

Ghét 'lập trường'

BBC: Ông nghĩ tài năng của nhạc sỹ Phạm Duy nhìn trên khía cạnh đóng góp cho âm nhạc thế giới có thể được hiểu như thế nào? Liệu các ca khúc của ông có thể tới được với khán giả quốc tế rộng rãi hơn sau khi ông qua đời?

Nhạc sỹ Phạm Duy trong lần ra mắt ở Hà Nội tháng 1/2009

Ông Phạm Duy được cho là chỉ muốn trung thành với văn hóa dân tộc chứ không phải chính quyền
Tiến sỹ Eric Henry: Để đạt đến mục đích dó thì phải nhờ Hồi Ký (bản tiếng Anh) và các môn học về lịch sử và văn hóa Viet Nam ở những trường học cao cấp ở bên Mỹ và Âu Châu.
Chính tôi đã mở một vài lớp về âm nhạc Việt Nam và âm nhạc Đông Á ở UNC, và đã khiến sinh viên trong những lớp ấy đọc Hồi Ký của Phạm Duy.
BBC: Việc dịch hồi k‎ý của Phạm Duy giúp ông hiểu thêm về nhạc sỹ như thế nào?
Tiến sỹ Eric Henry: Việc dịch Hồi Ký đã giúp tôi hiểu là: suốt đời ông, Phạm Duy đã rất quyết tâm không công nhận là người Việt Nam có một thứ chia lìa nào cả về chính trị, tư tưởng, nếp sống.
Phần đông người khác cảm thế là mình có bổn phận ủng hộ phe nọ phe kia, nhưng Phạm Duy từ chối làm như thế, và trái lại tiếp tục đứng ở trung gian.
Thái độ đó đã khiến nhiều người đâm ra hoài nghi đối với ông.
Họ đều tin tưởng là bổn phận của mỗi con người là có một thứ “lập trường” chính trị.
Họ đều tin tưởng là “thiếu lập trường” giống như không có nguyên tắc ăn ở nào cả. Nhưng đối với Phạm Duy, trên đời này không có gì đáng ghét hơn “lập trường.”

"Suốt Hồi Ký ông nhắc lại nhặc đi là hai chữ “yêu nước” không thể có nghĩa là “trung thành với một nhóm người cầm quyền nào đó,” “hoặc “trung thành với một nền chính quyền nào đó” hoăc “trung thành với một lý thuyết chính trị nào đó.”"
Tiến sỹ Eric Henry
Suốt Hồi Ký ông nhắc lại nhặc đi là hai chữ “yêu nước” không thể có nghĩa là “trung thành với một nhóm người cầm quyền nào đó,” “hoặc “trung thành với một nền chính quyền nào đó” hoặc “trung thành với một lý thuyết chính trị nào đó.”
Theo ông, hai chữ “yếu nước” chỉ thể mang một ý nghĩa thôi; đó là: “trung thành với văn hóa, ngôn ngữ, và cảnh vật của nước mình.” Tôi thấy là cách suy nghĩ đó rất là có lý.
BBC: Ông mất bao nhiêu lâu để dịch hồi k‎ý và liệu nó sẽ được đón nhận ra sao trong thế giới nói tiếng Anh?
Tiến sỹ Eric Henry: Việc dịch Hồi Ký đã kéo dài 13 tháng—từ tháng 5, 2004 đến tháng 6 năm 2005.
Và vài năm sau đó tôi đã tạo ra khoảng 1.500 chú thích về những nhân vật, địa điểm, điển cố...trong sách. Việc đó cũng đã kéo dài gần một năm.
Chưa biết chừng nào bản tiếng Anh sẽ được xuất bản—bản thảo hiện giờ nằm trong tay công ty Phương Nam bên Sài Gòn.
Họ nói là muốn xuất bản, nhưng các điều kiện chính trị trong nước chắc là sẽ làm cho việc này rất khó mà thực hiện.
BBC: Xin ông chia sẻ những kỷ niệm của ông với nhạc sỹ!
Tiến sỹ Eric Henry: Ông Phạm Duy lúc nào cũng có óc khôi hài, cho nên tôi kể lể được nhiều giai thoại đối với ông.
Ở đây tôi chỉ nhắc đến một việc thôi.
Mỗi lần tôi gửi email đến ông để đặt ra vài câu hỏi đối với Hồi Ký, thì ông đều gửi hồi âm rất nhanh—có khi chỉ cần đợi một hai tiếng đồng hồ thôi.
Có lần tôi đã gửi một số câu hỏi đến ông, và trên email đó nói là tôi biết rằng ông lúc ấy rất bận với việc tổ chức một cái sô—cho nên tôi thấy là ông không cần trả lời nhanh—tôi chờ đợi được, không sao.
Sau một hai tiếng, tôi nhận được thư hồi âm của ông. Trên đó ông nói “Đúng như anh nói, tôi hiện giờ bận lắm, nhưng tôi vẫn trả lời nhanh được, tại vì tôi là… TARZAN!!”
Sau đó, trên một bức thư khác cuối ông có câu: “Anh thấy không? TARZAN vẫn đong đưa trong rừng!!"


Phạm Duy: Giấc mơ hòa hợp chưa thành 




Jason Gibbs và Phạm Duy
"Mày phải bỏ cái tính "chơi" của mày đi."
Phạm Duy kể lại những lời này của nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát nói với ông năm 1950 lúc ông lên Việt Bắc tham dự Đại hội Văn nghệ Nhân dân. Điều may cho chúng ta, những người yêu nhạc Việt, là Phạm Duy đã biết rằng mình không thể nào bỏ "tính chơi" ấy.

Lãnh đạo văn nghệ của Việt Minh đã nhận ra tài năng của ông và muốn khai thác tài năng ấy. Họ ưu đãi Phạm Duy cho kết nạp Đảng, làm đại diện liên hoan ở nước ngoài, được thưởng huân chương và thành một cán bộ văn nghệ đàng hoàng. Lúc ấy Phạm Duy đang ăn lương của Việt Minh. Ông đã lưu diễn và đi thực tế nữa để sáng tác những tác phẩm xuất sắc nhất của cuộc kháng chiến ấy. Song, mặc dù ông là người của cơ chế, Phạm Duy có cá tính độc lập.
Còn tính chơi ấy có thật. Lãnh đạo bảo phải "khai tử" một bài ca "chơi" nói về một cuộc tình là "Bên cầu biên giới" nhưng Phạm Duy thấy khó chịu và không chấp nhận. Tất nhiên chỉ nói đến "tính chơi" không thể nào đủ và xứng đáng khi nghĩ đến ông. Ông tôn trọng nghệ thuật của mình, tôn trọng dân Việt Nam và nhân loại nữa. Tôi nghĩ như thế thực sự phải gọi là tính nghiêm túc.
Lúc bấy giờ mọi người ở vùng kháng chiến đều biết đến ca khúc của Phạm Duy. Vì các bài ca của ông viết hay và kịp thời, và còn nữa vì ông là một diễn viên rất hấp dẫn đi lưu diễn khắp miền Bắc. Dù không mở lớp, Phạm Duy đã thành một thầy giáo dạy môn sáng tác cho bao nhiêu thanh niên thời kháng chiến (và các thế hệ sau). Chính Phạm Duy tìm cách khai thác kho nhạc dân gian làm cho nền nhạc kháng chiến có "tính dân tộc" theo chủ trương của lãnh đạo văn nghệ. Cùng thời với Phạm Duy đa số nhạc sĩ Việt chỉ viết hành khúc, hay ca khúc nửa cổ điển. Tôi nghĩ rằng Phạm Duy dễ gần với nhạc dân gian vì ông dễ hòa với dân, và vì ông có sức quan sát rất tinh tế. Hồi đó, ông chưa thực sự nghiên cứu nhưng được thâm nhập văn hóa dân gian một cách rất tự nhiên.
Chắc vì biết mình có tiếng ham chơi nên ông nhận đi một chuyến đi mạo hiểm vào miền Trung Bắc, khu mà Pháp từng gọi là "la rue sans joie." Điều lạ là người "chịu chơi" này (tôi nói đùa vì biết Phạm Duy không bia rượu chè) sắp lấy vợ nhưng hoãn lại đám cưới của mình để đi thực tế. Trong Hồi ký, Phạm Duy cũng nói rằng ông đã muốn chứng tỏ sự "can đảm" và "vinh dự" của mình cho người vợ tương lai.
Trong vùng miền Trung ấy, Pháp đàn áp quân và dân rất khốc liệt. Trong cuộc chiến chống Pháp không có phóng viên nào vào chiến khu để kể đến nỗi đau khổ ấy. Chỉ có nghệ sĩ với cây đàn.

"Phạm Duy sống cuối đời ở Việt Nam để các ca khúc của ông được cấy lại trong đất phù sa nơi quê hương"
Nhắc đến chuyến đi này Phạm Duy mô tả một cảnh tượng "không một bóng trai." Bài ca "Mười hai lời ru" vẽ hình ảnh các mẹ ôm các con trai bị giết trong lòng. Lúc bấy giờ chính sách văn hóa của Việt Minh là chủ nghĩa thực tế xã hội. Nghĩa là phản ánh thực tế nhưng tô điểm thêm để làm thông điệp theo nhu cầu thời đại. Nhạc Phạm Duy không son phấn. Ông soạn những lời mộc mạc để diễn tả hành động của một "Bà mẹ Gio Linh."
Quân thù đã bắt được con
Đem ra giữa chợ cắt đầu
Nghẹn ngào không nói một câu
Mang khăn gói đi lấy đầu
Bài ca này có quân thù nhưng không có hận thù - và không có lời chiến đấu và căm hờn nữa. Phạm Duy viết về cử chỉ nhân đạo và dũng cảm của bà mẹ này. Tác dụng của lời ca cảm động này quá mãnh liệt và gây được ấn tượng sâu sắc đến bây giờ. Tôi đã nói về bài hát này với một người ái mộ nhạc Phạm Duy mà cũng đã theo Việt Minh đến cùng. Ông ấy nói "ai nghe cũng phải khóc".
Nhưng đây không phải là giọt lệ đầu hàng mà là giọt lệ đồng cảm và thúc đẩy. Trong Hồi ký, Phạm Duy viết rằng bài ca "Bà mẹ Gio Linh" "bị phê bình là tiêu cực." Nhưng ông cũng bị phê bình nữa khi về thành (dinh tê) và đặt lời ca mới với chủ đề "Bà mẹ nuôi." Ông bảo với tôi là lúc về thành nếu hát lời ca nguyên bản ông sẽ bị bắt đi tù. Ông tự hào với giai điệu của mình phản ánh nhạc miền Trung và đặt lời mới vì rất thích giai điệu ấy. Còn bài ca ấy phản ánh thời vẻ vang nhất của ông.
"Bà mẹ Gio Linh" là một trong những tác phẩm sớm nhất của ông được cấp phép phổ biến ở nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày 21 tháng 7 2005 theo Quyết định 47 của Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn. Có người ở hải ngoại phê bình Phạm Duy vì ông về quê ở. Song Phạm Duy, dù yêu hòa bình, đã về Việt Nam để tranh đấu - tranh đấu cho sự nghiệp của mình.
Gặp ông ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2009 tôi không thể nào quên Phạm Duy tâm sự với tôi bằng tiếng Anh - "How I suffer!" (Tôi đau khổ biết bao!). Được về quê là một niềm hạnh phúc, nhưng ông cũng phải xa cháu chắt yêu quý của ông, không được hưởng niềm an ủi của tổ ấm gia đình. Ông hiến thân cho các con tinh thần của mình.
Con đường cái quan



Phạm Duy có trường ca Con đường cái quan mô tả đất nước thống nhất trong âm thanh
Trước khi qua đời, tin tức mới nhất về Phạm Duy được đăng là bài "Cấp phép thêm 8 ca khúc của nhạc sĩ Phạm Duy" trên báo Người Lao Động ngày 16 tháng 1 2013. Tin đáng mừng là tám trong mười bài Đạo Ca của ông được biểu diễn trong nước Việt. Phạm Duy phát biểu trong bài báo rằng đây "là những ca khúc nói về đạo làm người, về tình thương, lòng nhân ái và sự tu tâm dưỡng tính." Điều đáng buồn là chưa có quyết định nào về hai bài Đạo ca bỏ sót lại là "Quan Thế Âm" và "Một cành mai."
Một bạn của Phạm Duy là Phạm Thiên Thư soạn lời ca cho bài "Một cành mai" nói về Nhất Chí Mai (tức Phan Thị Mai). Nhất Chí Mai là một trong những đệ tử ban đầu của Dòng tu Tiếp Hiện của Thích Nhất Hạnh sáng lập. Là tín đồ của Phật giáo nhập giới, cô theo gương mẫu của người Mỹ phái Quaker Norman Morrison và tự thiêu để đòi hòa bình. "Sống mình không thể nói / Chết mới được ra lời!" là lời di chúc của cô.
Phạm Thiên Thư soạn lời ca cho Phạm Duy viết bài ca này (và bài ca này nói) về sự bắt nguồn của tàn phá trong chiến tranh là nằm ở trong thái độ mỗi chúng ta.
Ôi máu đã thành sông, xương người đã thành non
Hận thù như trời bể, hờn căm vẫn còn nghe.
Loài người chỉ tìm được ân tình và hòa bình khi không còn "hận thù" và "hờn căm" với nhau. Như thế thật sự là "đạo làm người." Hai ông sử dụng đến ngôn ngữ và hòa âm với ý giúp người được hòa với người.
Đền nhau chỉ có chút lệ thôi!
Có lẽ tác phẩm kiệt tác của Phạm Duy là bản cantata (trường ca) Con Đường Cái Quan. Một kỷ niệm khó quên là lúc cách đây hơn 15 năm tôi được xem các sinh viên của University of California at Berkeley Vietnamese Student Association (Hội Sinh Viên Việt Nam Đại Học California tại Berkeley) làm một Chương trình Văn nghệ theo tác phẩm này. Đại học California tại Berkeley là một trong những trường đại học uy tín nhất trên thế giới. Các sinh viên trường này rất giỏi, nhưng tất nhiên các sinh viên gốc Việt được "Mỹ hóa" khá nhiều rồi. Họ (các diễn viên và tổ chức chương trình ấy) chắc đã thành những bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, nhà khoa học và nhà doanh nghiệp trong xã hội Mỹ. Họ làm các chương trình này để tỏ sự tự hào về quê mình và văn hóa mình, và để chia sẻ với các bạn hữu, nhất là bạn hữu người Mỹ chính gốc.

"Chính chúng ta cũng phải lên tiếng cho quyền nghe các tác phẩm của Phạm Duy"
Con Đường Cái Quan là một tác phẩm rất xứng đáng cho chương trình của các sinh viên Mỹ gốc Việt. Các sinh viên toàn là tài tử lên sân khấu với sự giúp đỡ của một vài nghệ sĩ cổ nhạc từ San Jose ra. Qua các tiết mục của tác phẩm này họ được hiểu biết đến từng miền quê, đến phong tục tập quán, cách nói, âm nhạc của các miền. Phạm Duy viết tác phẩm này lúc mà người Việt chưa được sống chung với nhau trong hòa bình. Ý chính của Phạm Duy lúc viết Con Đường Cái Quan là tìm cách để làng quê của ông được thống nhất trong âm thanh và hòa âm mặc dù hòa bình chưa được đến.
Hòa bình đến cũng đã khá lâu rồi, nhưng chưa chắc hận thù và căm hờn đã hết. Con Đường Cái Quan đã được cấp phép được phổ biên ở xứ Việt theo Quyết định số 8 ngày 21 tháng 11 2005 (tất nhiên tác phẩm này đã được hát thoải mái ở không biết mấy chục nước khác rồi). Rồi tác phẩm này bị rút phép vài tháng sau với Quyết định số 35 ngày 8 tháng 5 năm 2006.
Đã có những người với tấm hiểu biết sâu rộng về lịch sử và văn hóa Việt Nam như các giáo sư Trần Văn Khê và Dương Trung Quốc viết thư cho Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thông tin và Du lịch xin kiệt tác của Phạm Duy được đến với quần chúng trên quê hương là nơi chôn rau cắt rốn của tác giả. Tôi thì đề nghị Bộ Văn hóa, Thông tin và Du lịch làm một chương trình truyền hình Con Đường Âm Nhạc để tưởng niệm Phạm Duy và biểu diễn toàn bộ tác phẩm này.
Người rong chơi

"Ngôn ngữ dung tục của vỉa hè, các hẻm, các ngõ thuộc văn hóa dân gian của thời đại này mà chỉ dược nghe trong những tác phẩm rap hiện nay. Phạm Duy một lần nữa là kẻ tiền phong mặc kệ các "đạo đức giả.""
Ở trên đây, tôi đã viết nhiều về một Phạm Duy nhà sáng tác nghiêm túc và đã sáng tác những tác phẩm đích thực với ý nghĩa sâu xa. Nhưng tôi cũng nghĩ rằng chúng ta không nên quên "tính chơi" của ông Phạm Duy. Chắc ông Nguyễn Xuân Khoát muốn nói đến quan hệ Phạm Duy với phái nữ - một mối quan hệ đa dạng đã để lại cho chúng ta vô số những tình khúc sẽ sống mãi với thời gian.
Chữ "chơi" thường có nghĩa như giải trí hay nghỉ ngơi thì cũng dễ bị coi như lười biếng hay vô tích sự. Phạm Duy lại là một người sống và làm việc hết mình và suốt đời vì nghệ thuật mình. Song chữ "chơi" cũng kết hợp với sự gần gũi của người với người, với sự vui chung. Là thêm một kiểu để loài người được hòa hợp với nhau.
Phạm Duy đã sáng tạo hai thể loại nhạc chơi đặc biệt phải gọi là "thí nghiệm" vì hình như chưa được nhiều nhạc sĩ khác khai thác là các Vỉa Hè Ca và Tục Ca. Việt Nam cần đến những ca khúc như thế vượt qua cái khuôn khổ thiên nhiên - rừng, gió, mưa, sông / mây trôi và không đề cập đến đời thực của các thành phố. Tất nhiên chắc phải đợi lâu đến khi các Vỉa Hè Ca và Tục Ca được cấp giấy phép ở xứ Việt. Nhưng ngôn ngữ dung tục của vỉa hè, các hẻm, các ngõ thuộc văn hóa dân gian của thời đại này mà chỉ dược nghe trong những tác phẩm rap hiện nay. Phạm Duy một lần nữa là kẻ tiền phong mặc kệ các "đạo đức giả."
Phạm Duy sống cuối đời ở Việt Nam để các ca khúc của ông được cấy lại trong đất phù sa nơi quê hương. Hiện nay, ai sẽ nuôi trồng các ca khúc của ông? Nhạc của Phạm Duy chủ yếu còn sống và sẽ sống trong trái tim của mọi người yêu nhạc Việt. Tình yêu đó được chứng minh qua thị trường âm nhạc. Về nước Phạm Duy làm một việc rất khôn là bán tác phẩm của mình cho một công ty đủ vốn để đầu tư và đấu tranh cho sự nghiệp ông. Còn các ca sĩ làm một vai trò rất quan trọng để nuôi trồng vườn âm nhạc này lúc nào họ xin phép sử dụng đến các tác phẩm. Nhưng chính chúng ta cũng phải lên tiếng cho quyền nghe các tác phẩm của Phạm Duy. Dù đã xa khuất ông để lại một kho tàng âm thanh sẽ lưu lại mãi với chúng ta.
Bài viết được viết tác giả viết thẳng bằng tiếng Việt. Ông là một tiến sĩ âm nhạc người Mỹ, nghiên cứu âm nhạc Việt Nam từ thời tiền chiến cho tới nay. Tác phẩm Rock Hà Nội và Rumba Cửu Long – Câu chuyện âm nhạc Việt Nam được dịch và in ở Việt Nam năm 2008.


'VN hai câu nói sau cùng khi lìa đời'


Cuối tháng Tư 1975, tôi rời Việt Nam trên một con tàu không máy được kéo ra khỏi bờ sông Sài Gòn từ bến kho 5. Khi tàu tách bến, nhìn thành phố bập bùng khói lửa, nước mắt rưng rưng và lòng thầm hát:

Chiều nay sương khói lên khơi
Thùy dương rũ bến tơi bời
Làn mây hồng pha rán trời
Sóng Đà giang thuyền qua xứ người…
Lời ca theo tôi trên một hành trình vô định. Cho đến khi tới được Hoa Kỳ và biết rằng nhạc sĩ Phạm Duy, tác giả của “Thuyền viễn xứ”, cũng đã bỏ nước ra đi.
Với ông, đó là một lần nữa bỏ quê hương, sau lần rời Bắc vào Nam sinh sống hơn 20 năm trước đó. Lần xa quê này ông chỉ mang theo được người bạn đời là ca sĩ Thái Hằng và những cô con gái là Thái Hiền, Thái Thảo và Thái Hạnh, còn các con trai Duy Quang, Duy Minh, Duy Hùng, và Duy Cường đều kẹt lại.
Nơi quê người, khởi đầu định cư ở Pensacola, tiểu bang Florida. Sau một thời gian ngắn Phạm Duy đưa gia đình về Midway City – mà ông gọi là “Thị trấn Giữa đàng” – nằm ngay cạnh Westminster, thủ phủ của người Việt ở miền nam California. Ở đó gia đình Phạm Duy thường đi rong hát xẩm, là cách gọi của ông khi nói về những chuyến ôm đàn đi hát cho đồng hương ở Mỹ nghe.
Những năm ở nước ngoài Phạm Duy viết được một số ca khúc và đã thu âm vào những băng, đĩa nhạc: Ngục ca, Bầy chim bỏ xứ, Rong ca, Thiền ca, Hàn Mặc Tử ca.
Sống đời lưu vong ông luôn hướng về quê nhà. Năm 1978 ông viết lên ca khúc “Ở bên nhà em không còn đứng chờ đợi anh” là những cảm xúc sâu lắng được nhiều người tị nạn chia sẻ:

Ở bên nhà đôi tay ngà em vục bùn đen
Ở bên nhà đôi môi mềm thu vạn tủi oán
Ở bên này sống với ác mộng
Từng đêm ngày anh ra biển rộng khóc thương em.
Hai lần phải bỏ quê hương ra đi được ông ghi lại trong ca khúc: “54 cha bỏ quê, 75 con bỏ nước”:
Một ngày 54, cha lìa quê hương
Lánh Bắc vô Nam, cha muốn xa bạo cường
Một ngày 75, đứng ở cuối đường
Loài quỷ dữ xua con ra đại dương!...
Một ngày 75, con bỏ hết giang sơn
Hai mươi năm tình, yêu người yêu cuộc sống
Giờ nơi nước mình niềm đau thay nỗi vui
Sài Gòn đã chết rồi, phải mang tên xác người…
Đời hai lần ta bỏ quê bỏ nước
Phải nuôi ngày sau về ôm Tổ Quốc.
Đầu năm 2004 trong một cuộc phỏng vấn dành cho người viết bài này, khi hỏi cảm nhận và so sánh giữa bỏ quê hương ra đi trong “Thuyền viễn xứ” và “54 cha bỏ quê, 75 con bỏ nước”, Phạm Duy từ chối trả lời câu hỏi này như để tránh rắc rối cho việc nhạc sĩ đang chuẩn bị chuyến trở về sống hẳn ở cố hương.
Sau ba mươi năm lưu vong, tháng 5-2005 Phạm Duy đã “về ôm tổ quốc”. Quyết định của ông được nhà nước Việt Nam hoan nghênh. Một số người Việt hải ngoại lên án ông.

"Một ngày 54, cha lìa quê hương Lánh Bắc vô Nam, cha muốn xa bạo cường Một ngày 75, đứng ở cuối đường Loài quỷ dữ xua con ra đại dương!..."
Phạm Duy, lời bài hát '54 cha bỏ quê, 75 con bỏ nước'
Từ khi ông trở về, trong nước thỉnh thoảng có những chương trình nhạc Phạm Duy tổ chức tại Hà Nội và Sài Gòn. Một vài đầu sách và đĩa chương trình ca nhạc của ông cũng được phát hành. Tuy nhiên vẫn có những văn nghệ sĩ, nhà báo trong nước chỉ trích quá khứ của Phạm Duy, nào là đã bỏ kháng chiến về thành, vào nam sinh sống, đã ca ngợi chế độ Việt Nam Cộng hoà, rồi lại bỏ nước ra đi khi chiến tranh chấm dứt, như thế Phạm Duy – “tên phù thủy âm nhạc” như cán bộ văn hoá từng đặt cho ông – không xứng đáng được vinh danh là một nhạc sĩ tài ba của nền âm nhạc Việt Nam.
Với cả ngàn bài ca, núi nhạc của Phạm Duy sừng sững như dãy Trường Sơn mà người Việt nào cũng thấy bóng hình mình ẩn hiện trên đó. Đó là “Bà mẹ quê”, “Em bé quê” là “Tuổi ngọc”, Tuổi biết buồn”. Đó là đồng lúa, là tà áo dài, vòng quay xe đạp, là mảnh áo nâu, là quang gánh trên vai. Không như Trịnh Công Sơn viết về thân phận và huyền thoại quê hương trong một giai đoạn chiến tranh nhất định, nhạc Phạm Duy dạt dào tình yêu quê hương, nổi bật với những hình ảnh thật gần gũi với mọi người. Hãy nghe ông viết về đất nước:
Quê hương tôi có con sông đào xinh xắn
Nước tuôn trên đồng vuông vắn
Lúa thơm cho đủ hai mùa
Dân trong làng trời về khuya vẳng tiếng lúa đê mê.
Quê hương ơi bóng đa ôm đàn em bé
Nắng trưa im lìm trong lá
Những con trâu lành trên đồi nằm mộng gì
Chờ nghe tôi thổi khúc sáo chơi vơi…
Không nhạc sĩ nào đã đưa sông nước, đồng lúa, trâu cày, bóng đa đầu làng vào lòng người một cách êm đềm và tình tự như Phạm Duy để rồi những ai sống xa quê hương khi nghe mà không thương, không nhớ.
Hay như hình ảnh tà áo dài, chiếc xe đạp của tuổi thơ sao thật dễ thương:

Xin cho em một chiếc áo dài
Cho em đi mùa xuân tới rồi
Mặc vào người rồi ra
Ngồi lạy chào mẹ cha
Hàng lụa là thơm dáng tiểu thơ.
Xin cho em môt chiếc xe đạp
Xe xinh xinh để em đi học
Từng vòng từng vòng xe
Là vòng đời nhỏ bé
Đạp bằng bàn chân gót đỏ hoe.
Ca từ của ông vẽ lên quê hương, lịch sử nước nhà như một bức hoạ đẹp tuyệt vời qua trường ca “Con đường cái quan”:
Tôi đi từ Ải Nam Quan sau vài ngàn năm lẻ
Chia đôi một họ trăm con đã lên đường…
Về Hà Tiên ta tiễn Chúa ra đảo khơi
Về Cà Mau ta đốt biết bao lửa vui.
Nhạc Phạm Duy đến với tôi vào những năm giữa thập niên 1960 khi còn học cấp 2. Đầu tiên là tiếng dân ca “Qua cầu gió bay” với nét vui đùa, là “Giọt mưa trên lá” mang mang buồn, trước khi biết rung động theo những bóng hình ở sân trường, biết mơ mộng một mối tình vu vơ qua “Nghìn trùng xa cách”, “Thà như giọt mưa”, “Trả lại em yêu”, “Còn chút gì để nhớ”, “Con đường tình ra đi”, “Nha Trang ngày về”, “Tóc mai sợi vắn sợi dài”…
Khi có nhận thức và hiểu biết về lịch sử nước nhà, về văn hoá dân tộc thì nhạc Phạm Duy như xoáy xoay vào hồn với trường ca “Mẹ Việt Nam”, trường ca “Con đường cái quan” với 10 bài “Đạo ca” với bài “Tình ca” bất hủ:
Tôi yêu tiếng nước tôi
Từ khi mới ra đời người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời…

Tiếng nước tôi
Bốn nghìn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi…
Trong nửa thế kỉ qua, nhạc Phạm Duy đã theo bước chân người Việt đi khắp nơi với yêu thương qua những cuộc tình, với quê hương biết bao niềm nhớ, với tình tự dân tộc nơi quê người hay ngay cả trên quê hương đã sinh ra ông, dù vẫn còn những ngăn cấm.
Nhạc sĩ Phạm Duy tên thật Phạm Duy Cẩn, sinh ngày 5-10-1921 tại phố Háng Cót, Hà Nội và qua đời tại Sài Gòn hôm 27-1-2013, thọ 93 tuổi.
Như thế ông đã trọn vẹn với ước nguyện thể hiện khi ông viết bản đồng ca – mà ông gọi là chung khúc “Việt Nam, Việt Nam” – trong trường ca “Mẹ Việt Nam” đã được rất nhiều người Việt biết đến:
Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời
Việt Nam, hai câu nói bên vành nôi
Việt Nam nước tôi…
Việt Nam, Việt Nam tên gọi là người
Việt Nam hai câu nói sau cùng khi lìa đời.
Năm 1995, trong dịp đến Đại học Berkeley nói chuyện với sinh viên nhạc sĩ Phạm Duy đã phát biểu: "Nhạc của tôi đi vào lòng người thì dễ, nhưng đi vào lòng ông Đỗ Mười sao khó thế!”. Lúc đó ông Đỗ Mười là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.
Mười tám năm sau, hầu hết nhạc của ông dường như vẫn chưa dễ gì lọt được vào lòng giới lãnh đạo Hà Nội.
Dù ông đã hồi tịch, được cấp chứng minh nhân dân, mua nhà ở. Dù ông đã nhiều lần phát biểu hết lòng ca ngợi chính sách hoà giải của nhà nước, nhưng cho đến lúc nhắm mắt lìa trần, gia tài âm nhạc của Phạm Duy với cả ngàn bài ca cũng mới chỉ có chưa đến 100 bài được phép phổ biến trong nước.
Tác giả hiện dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do sống tại vùng Vịnh San Francisco. Độc giả có thể đọc bài phỏng vấn nhạc sĩ Phạm Duy trên Blog Buivanphu.
nguồn:http://tranhung09.blogspot.com/2013/02/pham-duy-tren-oi-nay-khong-co-gi-ang.html
======================================================================
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
          Sẽ xóa những comment nói tục
          Thinhoi001