Quê hương của bác sĩ Yersin
Mai Thái Lĩnh
Trong
hơn hai thập niên gần đây, ở nước ta đã có nhiều công trình tìm hiểu về
tiểu sử của bác sĩ Alexandre Yersin, về những cuộc thám hiểm của ông
trên vùng cao nguyên Nam Trung phần, về những phát minh của ông trong y
học – nhất là việc phát hiện ra trực khuẩn gây bệnh dịch hạch (Yersinia
pestis) mở ra khả năng khống chế căn bệnh quái ác này.
Thế nhưng, cho đến nay, dường như người Việt còn hiểu biết rất ít về quê hương của ông – nơi ông được sinh ra và lớn lên …
Nơi sinh của Yersin
Theo
tiểu sử chính thức do Viện Pasteur Paris công bố, bác sĩ Yersin là
người Pháp gốc Thụy Sĩ, “sinh ngày 22 tháng 9 năm 1863 tại Lavaux gần
Aubonne - bang Vaud, Thụy Sĩ” (né à Lavaux près d'Aubonne - Canton de
Vaud, Suisse, le 22/09/1863).[1]
Nhưng Lavaux là gì? Một thị trấn, một làng quê hay chỉ là một xóm nhỏ?
Ngày
nay, chúng ta biết rõ hơn về nơi sinh của Yersin nhờ công trình của
Henri H. Mollaret (1923-2008) – bác sĩ y khoa, đồng thời cũng là một nhà
sinh học, một chuyên gia về bệnh dịch hạch của Viện Pasteur Paris.
Mollaret đã bỏ ra nhiều công sức để tìm hiểu tiểu sử của bác sĩ Yersin.
Trong cuốn Alexandre Yersin hay người chiến thắng bệnh dịch hạch,[2] Mollaret
cho biết Yersin được sinh ra tại “xưởng thuốc súng Lavaux” (Poudrerie
de Lavaux) ở gần Aubonne – cách Morges khoảng 10 km.
Tại sao Yersin lại được sinh ra tại một xưởng thuốc súng?
Cha
của Yersin là Jean Marc Alexandre Yersin - một nhà giáo nghèo. Người ta
không rõ lai lịch ông nội của Yersin vì bà nội của Yersin
(Françoise-Suzanne Yersin) bị người yêu bỏ rơi ngay sau khi mang thai.
Bị gia đình đuổi ra khỏi nhà, bà đã đến sinh sống tại thành phố Morges,
mở một cửa hiệu bán kim chỉ và một mình nuôi con khôn lớn. Có thể nói từ
khi chào đời, Jean Marc Alexandre chỉ biết đến mẹ và được khai sinh
theo họ của mẹ (Yersin). Là một học sinh xuất sắc thời tiểu học và trung
học, ông đã theo học hai năm cao đẳng ở Genève trước khi nhận công việc
giảng dạy tại trường trung học Aubonne. Là một nhà khoa học “bẩm sinh”,
ngoài công việc dạy học ông dành trọn thời gian cho nghiên cứu khoa học
- nhất là trong lĩnh vực côn trùng học (entomologie). Nhiều công trình
nghiên cứu của ông đã được đăng trên các tạp chí khoa học tại bang Vaud
(Thụy Sĩ) cũng như tại Pháp. Ngày nay, một bộ sưu tập về côn trùng của
ông vẫn còn được lưu giữ tại Bảo tàng thành phố Genève.
Mẹ
của Yersin (Fanny Isaline Moschell) xuất thân từ một dòng họ theo đạo
Tin Lành gốc ở miền Nam nước Pháp, từ cuối thế kỷ 17 đã phải rời bỏ quê
hương để sang lánh nạn tại Thụy Sĩ để tránh chính sách đàn áp tôn giáo
của vua Louis XIV.[3] Cũng nhờ vào lai lịch này, Yersin đã được nhận vào quốc tịch Pháp vào năm 26 tuổi.
Vào
khoảng năm 1862, cha của Yersin được bổ nhiệm làm quản đốc (intendant)
xưởng thuốc súng của vùng Romandie (tức Suisse romande, vùng Thụy Sĩ nói
tiếng Pháp). Vào lúc này, cha mẹ ông đã có hai người con: con gái đầu
lòng tên là Émilie và kế đến là một người con trai mang tên Franck (về
sau trở thành mục sư Tin Lành).
Một
số tài liệu của Thụy Sĩ về xưởng thuốc súng Aubonne (Poudrerie
d’Aubonne) tìm thấy trên Internet cho biết xưởng này được xây dựng vào
năm 1853 để thay thế cho một xưởng cũ đặt tại một địa điểm khác bị đánh
giá là không an toàn. Xưởng thuốc súng mới được đặt tại một thung lũng
nhỏ gần thị trấn Aubonne có tên là Lavaux. Chúng ta có thể nhìn thấy
Lavaux trên bản đồ vùng Aubonne – được ghi là La Vaux chứ không phải là
Lavaux (hình 1). Địa điểm này nằm ở phía nam - đông nam của thị trấn
Aubonne, cạnh một dòng sông nhỏ cũng có tên là Aubonne. Phát nguyên từ
dãy núi Jura ở phía tây Thụy Sĩ, sông Aubonne băng ngang qua phía đông
thị trấn Aubonne và thung lũng La Vaux và chảy vào hồ Léman.
Tại xưởng thuốc súng, gia đình của Yersin được phân một căn nhà lớn có hai tầng lầu (hình 2).[4] Chính tại nơi đây, Yersin đã được sinh ra và mẹ ông đã đặt tên cho ông là Alexandre John Emile Yersin.[5]
Tên riêng Alexandre là để tưởng nhớ đến cha ông – vừa đột ngột qua đời ở
tuổi 38 vì xuất huyết não (hémorragie cérébrale), ba tuần lễ trước khi
Yersin chào đời.
Theo Wikipedia bản
tiếng Pháp, Aubonne là một thị trấn nhỏ, vào năm 1860 chỉ có 1.734
người, ngày nay tuy dân số tăng gần gấp đôi nhưng cũng chỉ xấp xỉ 3 ngàn
người (theo thống kê tháng 12 năm 2011 là 2.978 người). Về mặt hành
chính, Aubonne là trung tâm của xã Aubonne - một xã (commune) nằm trong
quận Morges (district de Morges), một quận của bang Vaud. Chính vì lý do
đó, trong các tiểu sử hiện nay (vd: Wikipedia bản tiếng Anh và
tiếng Pháp) nơi sinh của Yersin cũng được ghi là Aubonne (ý nói xã
Aubonne). Về bang Vaud (canton de Vaud), trước năm 1975 có một số tài
liệu dịch là “hạt Vaud”, nhưng chính xác hơn phải gọi là “bang Vaud”
(canton de Vaud), vì Thụy Sĩ là một Liên bang (Confédération) bao gồm 26
bang.[6]
Xưởng
thuốc súng tại La Vaux hoạt động mãi đến năm 1996 mới đóng cửa. Nhưng
địa điểm này vẫn còn được lưu giữ như một di sản văn hóa có giá trị quốc
gia. Nhìn vào ảnh chụp toàn cảnh (Hình 3), chúng ta thấy địa điểm đặt
xưởng thuốc súng là một thung lũng nhỏ, phía xa là hồ Léman và bên kia
hồ là một rặng núi thuộc dãy núi Alpes nằm trên lãnh thổ của nước Pháp.
Morges - nơi Yersin sống thời niên thiếu
Mặc
dù được sinh ra tại La Vaux, có lẽ Yersin không có nhiều kỷ niệm về
xưởng thuốc súng và cũng không gắn bó với thị trấn Aubonne. Việc cha ông
đột ngột qua đời đã khiến cho gia đình ông không thể tiếp tục ở lại nơi
này. Mẹ của Yersin phải chuyển chỗ ở vì căn nhà tại xưởng thuốc súng bị
đòi lại. Bà đã mua lại ngôi nhà số 22 đường Lausanne - thành phố
Morges, cách Aubonne khoảng 11,5 km đường bộ.[7]
Như vậy, chỉ vài tuần sau khi Yersin chào đời, gia đình ông đã dời đến
Morges, nói cách khác là trở về thành phố mà bà nội và cha ông đã từng
cư trú trước đây.
Tại ngôi nhà trên đường Lausanne (thường được gọi tên là Maison des Figuiers - Ngôi nhà của những cây sung),
bà Fanny mở một ký túc xá (pension) dành cho nữ sinh, với độ hơn một
chục học sinh nữ từ Đức hay từ các bang khác của Thụy Sĩ đến trọ học.
Ngoài những giờ học chính khóa tại trường, các nữ sinh lưu trú được bà
Fanny dạy thêm về phép lịch sự, nhạc, họa, nấu nướng , v.v. - tương tự
như các môn “nữ công gia chánh” ở nước ta. Là một đứa trẻ mồ côi cha,
Yersin sống khá khép kín giữa một môi trường phần đông là nữ giới. Ngay
từ nhỏ, ông tỏ ra không có cảm tình với phái nữ, thường gọi các nữ sinh
trọ học là những “con khỉ cái” (les guenons). Chỉ có hai người phụ nữ mà
ông yêu mến và thân thiết suốt đời là mẹ ông (bà Fanny) và người chị
(Émilie). Những lá thư mà ông gửi đều đặn cho mẹ và sau đó là chị (sau
khi mẹ ông qua đời) ngày nay trở thành nguồn tài liệu quý giá giúp cho
các nhà viết tiểu sử hiểu thêm rất nhiều về nhà bác học nổi tiếng là “cô
độc”, “xa lánh người đời” này.
Có thể nói suốt thời tuổi trẻ - cho đến năm 21 tuổi, Yersin gắn bó với Morges nhiều hơn là với La Vaux – Aubonne. Và nếu hiểu quê hương
là nơi để lại nhiều kỷ niệm nhất của thời niên thiếu trong cuộc đời của
một con người thì phải xem Morges mới thật sự là “quê hương” của
Yersin.
Morges
là một thành phố nhỏ, thủ phủ của quận Morges (district de Morges) –
một trong 19 quận của bang Vaud (từ 2008 đến nay, chỉ còn có 10 quận).
Vào năm 1860 (3 năm trước khi Yersin chào đời), thành phố này chỉ có
3.627 người. Dân số của thành phố hiện nay đã tăng cao, nhưng cũng chưa
đạt được đến con số 15 ngàn (thống kê tháng 12 năm 2011: 14.896 người).
Thành phố nằm trên bờ phía bắc của hồ Léman, và ngay từ thời Yersin còn
cư trú, đã là một thành phố cảng với thuyền bè tấp nập: những thuyền
buồm chở hàng hóa cũng như những chiếc tàu thủy chạy bằng hơi nước dùng
để chở khách. Mặc dù vào thời đó, tiện nghi còn rất kém (chưa có nước
máy, chưa có điện, chưa có điện thoại mắc đến từng nhà), phương tiện du
hành đường bộ chủ yếu là xe hỏa và xe ngựa chở khách (diligence,
stagecoach), nhưng ngành du lịch đã bắt đầu phát triển. Điều đáng chú ý
là đường Lausanne – nơi cư trú của gia đình Yersin cư trú, là một con
đường chạy song song với bến thuyền dọc bờ hồ Léman (trên bản đồ hiện
nay đường bến thuyền có tên là Quai Igor-Strawinsky).
Hồ Léman và dãy núi Alpes
Từ
nhỏ cho đến cuối bậc trung học, Yersin vẫn học tại Morges. Mãi đến năm
19 tuổi, ông mới rời Morges để đến Lausanne hoàn tất chương trình phổ
thông và sau đó, theo học năm đầu của ngành y khoa. Lausanne là thủ phủ
của bang Vaud và là thành phố lớn thứ 4 của Thụy Sĩ. Dân số ngày nay là
129.383 người (2011), nhưng vào năm 1880 (vài năm trước khi Yersin đến
trọ học) dân số chỉ có 29.356 người. Trong thực tế, Morges chỉ cách
Lausanne 13,5 km (tính theo đường bộ), cho nên có thể nói cho đến năm 21
tuổi Yersin vẫn sống quanh quẩn xung quanh thành phố quê nhà, nghĩa là
trong địa phận của bang Vaud. Vào thời đó, trường cao đẳng tại Lausanne
(thường được gọi là Ancienne Académie) chưa có khoa Y hoàn chỉnh
cho nên đến tháng 10 năm 1884, ông phải sang Marburg (Đức) và sau đó qua
Paris (Pháp) để tiếp tục hoàn tất chương trình y khoa.
Tóm
lại, trong 21 năm đầu tiên của cuộc đời, Yersin sống ở vùng
Morges-Lausanne, một vùng có liên quan đến hai “kỳ quan thiên nhiên” nổi
tiếng: hồ Léman và dãy núi Alpes.
Trước hết là
hồ Léman. Ngày nay, trên thế giới, người ta thường gọi hồ này là hồ
Genève (Lac de Genève, tên trong tiếng Anh là Lake of Geneva), nhưng
trong tiếng Pháp và đối với những người dân sống ở xung quanh (kể cả ở
Thụy Sĩ và Pháp), hồ này thường được gọi là hồ Léman.
Hồ
Léman là hồ tự nhiên lớn nhất của Thụy Sĩ và Pháp (diện tích mặt nước
582 km²), chỉ nhỏ hơn một chút so với hồ nước lớn nhất vùng Trung Âu,
tức hồ Balaton ở Hungary (592 km²). Hồ có hình trăng lưỡi liềm, nằm ngay
trên dòng chảy của dòng sông Rhône – một con sông lớn của châu Âu chảy
ngang qua hai quốc gia Thụy Sĩ và Pháp. Bắt nguồn từ băng hà Rhône
(glacier du Rhône) - ở độ cao trên 2 ngàn mét, dòng sông này chảy len
lỏi theo những thung lũng trong dãy núi Alpes thuộc Thụy Sĩ (Alpes
suisses, Swiss Alpes), và nhập vào hồ Léman ở một điểm gần làng Le
Bouveret (thuộc xã Port-Valais, bang Valais) – hiện nay là một điểm du
lịch hấp dẫn du khách. Ở phía cuối hồ về phía tây-nam là thành phố
Genève, thành phố lớn thứ hai của Thụy Sĩ. Từ Genève, dòng sông Rhône
chảy một quãng ngắn (chừng 16 km) trước khi rời đất Thụy Sĩ để đi vào
đất Pháp, đến thành phố Lyon thì chuyển hướng về phía nam để chảy vào
Địa Trung Hải.
Hồ Léman có tổng dung tích 89 tỷ m3
nước, cao độ trung bình là 372 m so với mặt biển. Chiều dài tính theo
trục thẳng là 73 km, chiều rộng tối đa là 14 km. Độ sâu tối đa gần 310 m
– nghĩa là đáy hồ chỉ cao hơn mặt nước biển khoảng 62 m. Phần lớn chiều
dài của hồ làm thành biên giới tự nhiên của hai quốc gia Thụy Sĩ và
Pháp: đường chu vi chạy vòng quanh hồ dài 156 km, trong đó 113 km nằm
trên bờ thuộc địa phận Thụy Sĩ và trong tổng diện tích mặt nước, có 41%
thuộc lãnh thổ của Pháp.[8]
Như
chúng ta thấy trên bản đồ, Morges nằm trên bờ phía bắc của hồ Léman,
gần với Lausanne (cách 13,5 km) so với Genève (cách 52,5 km). Nhìn về
phía nam là hồ Léman và xa xa là dãy núi Alpes trùng điệp. Đối diện với
Lausanne là Évian-les-Bains - thành phố nghỉ mát miền núi nổi tiếng của
nước Pháp.
Từ
Morges, vào những lúc thời tiết tốt, người ta có thể nhìn thấy rõ ngọn
Mont Blanc (Bạch Sơn) – ngọn núi cao nhất của dãy Alpes (4.810 m). Điều
đáng chú ý là ngôi nhà của gia đình Yersin nằm trên đường Lausanne, song
song với bến thuyền chạy dọc bờ hồ Léman. Trong lá thư đề ngày 8-4-1879
gửi cho người chị của ông là Émilie – lúc đó đang theo học ở Đức,
Yersin kể rằng ông thường trèo lên căn gác sát mái nhà để nhìn ngắm cảnh
rạng đông. Vì thế, hình ảnh của dãy núi Alpes và ngọn Mont Blanc phía
bên kia hồ Léman có lẽ đã in dấu trong tâm hồn ông ngay từ những ngày
còn thơ ấu. Mặt khác, như Giáo sư Jacques-Henri Penseyres đã lưu ý,
Morges là một thành phố cảng trên hồ Léman; nghề chuyên chở đường sông
và nghề chài lưới là những đặc điểm gắn liền với Morges. Đó có thể là lý
do khiến Yersin chọn Nha Trang làm điểm dừng chân trong gần nửa thế kỷ
cho đến tận cuối đời. Trong một bài viết công bố vào năm 2011, vị giáo
sư đã từng làm việc tại thành phố Morges này nhận xét: “Lần đầu tiên đến
Nha Trang vào năm 2006, chúng tôi hiểu ngay rằng Yersin đã tìm thấy nơi
đó một chút gì của quê hương ông: nước, mặt trời, những ngọn núi, những
người dân chài và những chiếc thuyền buồm...”[9]
Có
thể nói suốt thời niên thiếu, Yersin đã luôn luôn nhìn thấy một hồ nước
khổng lồ ở phía trước cũng như dãy núi Alpes hùng vĩ phía bên hồ. Đó là
chưa kể đến dãy núi Jura ở phía sau lưng (hướng tây-bắc) của Morges,
hoặc dãy núi Alpes nằm ngay trên phần đất của Thụy Sĩ ở phía đông của
Lausanne (thường được gọi là Alpes thuộc bang Vaud – Alpes vaudoises).
Mặc
dù sống xa Thụy Sĩ trong phần lớn cuộc đời, vùng Morges-Lausanne vẫn
còn in dấu ấn sâu đậm trong tâm trí của Yersin. Thỉnh thoảng, trong các
bài viết hay thư từ của ông, người ta vẫn có thể tìm thấy hình ảnh của
quê hương:
Trong chuyến thám hiểm vùng cao
nguyên Nam Trung phần - tháng 6 năm 1893, khi trèo lên ngọn núi Tadoum
(tức Ta Dung – nằm ở ranh giới của hai tỉnh Dak Nong - Lâm Đồng ngày
nay), ông viết: “Ngọn núi đó nhìn từ xa trông giống như một cái mũ lớn
nhọn đầu dựng trên cao nguyên, khi đến gần lại bày ra một “mê lộ” với
những đỉnh cao và những thung lũng sâu, dưới đáy của các thung lũng là
những dòng nước chảy xiết gầm gừ và lạnh buốt. Người ta tưởng chừng đang
ở trong dãy núi Alpes”.[10]
Tháng
5 năm 1898, sau một chuyến lên cao nguyên Lang Bian để chuẩn bị cho
việc Toàn quyền Paul Doumer trực tiếp lên khảo sát vùng đất này, ông
viết cho mẹ: “Con vừa trở về từ Lang Bian và con chỉ ở đây khoảng 7 hay 8
ngày trước khi trở lại trên đó để hộ tống ông Toàn quyền – vì ông ấy đã
phải hoãn chuyến du hành lại một chút. Ở Lang Bian, nhiệt độ trung bình
vào mùa này là 18°. Thật là tuyệt vời, người ta tưởng như đang ở vùng
núi Alpes vào mùa hè.”[11]
Cách
đây 120 năm, vào ngày 21 tháng 6 năm 1893, trong một chuyến thám hiểm,
Yersin đã đặt chân đến cao nguyên Lang Bian. Từ thung lũng sông Da Tam
(dòng nước có thác Prenn nổi tiếng), trèo lên một điểm ở đầu ngõ vào Đà
Lạt ngày nay, nhìn thấy toàn bộ vùng đất sau này được đặt tên là Dalat
và xa xa là dãy núi Lang Bian, ông tưởng chừng như nhìn thấy quê hương
của mình. Vào ngày 28 tháng 6 năm 1935, nói chuyện với các học sinh của
trường trung học Yersin tại Đà Lạt, ông nhắc lại cảm tưởng của “lần đầu
gặp mặt cao nguyên Lang Bian” 42 năm trước:
“Các
bạn làm tôi nhớ lại lần khám phá ra cao nguyên Lang-Bian – vào tháng 6
năm 1893, trong một chuyến thám hiểm được tiến hành nhằm mục đích khảo
sát một vùng núi ở Nam Trung kỳ - một vùng mà cho đến lúc ấy vẫn còn
hoàn toàn xa lạ. Cảm tưởng của tôi rất sống động khi, vừa ra khỏi khu
rừng thông, tôi đi đến bờ của cao nguyên rộng lớn trơ trụi và mấp mô đó -
bị chế ngự bởi ba ngọn núi của dãy Lang-Bian. Những gợn sóng nhấp nhô
của cao nguyên gợi nhớ đến một mặt biển xao động bởi một cơn sóng khổng
lồ - như đôi khi chúng ta có thể nhìn thấy trên bờ biển miền Trung Việt
Nam khi cận kề một cơn bão lớn. Làn gió mát khiến tôi quên đi sự mệt
nhọc và tôi chợt nhớ đến niềm vui mà tôi đã từng cảm thấy lúc trèo lên,
chạy xuống hết tốc lực trên những ngọn đồi xanh cỏ – khi còn là một cậu
học sinh trung học.”[12]
Vào
lúc phát biểu những ý tưởng này, Yersin đã 72 tuổi. Rõ ràng khung cảnh
hùng vĩ mà thơ mộng của cao nguyên Lang Bian đã gợi nhớ đến những vùng
đồi núi ở Thụy Sĩ và những kỷ niệm tuổi thơ của ông.
Vào
năm 41 tuổi (tháng 9 năm 1904), Yersin quyết định chọn Nha Trang làm
nơi định cư lâu dài. Những tưởng nhà bác học tài ba này - một người sinh
ra và lớn lên từ một quốc gia “lục địa”, đã quyết định từ bỏ núi rừng
để đến với biển cả. Thế nhưng trong thực tế, mặc dù cư trú cạnh bờ Biển
Đông, Yersin vẫn không hoàn toàn từ bỏ cao nguyên và rừng núi. Trong gần
bốn thập niên, ngoài thời gian làm việc tại Viện Pasteur Nha Trang và
trại chăn nuôi tại Suối Dầu, ông vẫn thường xuyên lui tới những cơ sở
thực nghiệm được thiết lập tại vùng cao nguyên xung quanh Đà Lạt như:
Dran (Đơn Dương), Djiring (Di Linh) hay Tiểu Lang Bian (Le Petit Lang-Bian,
tức xã Xuân Thọ ở vùng phụ cận Đà Lạt ngày nay). Gần hơn nữa là núi Hòn
Bà (cao 1.574 m) cách Nha Trang khoảng 47 km đường bộ, là nơi Yersin
thành lập một trạm thực nghiệm từ năm 1917. Căn nhà gỗ (chalet) mà ông
xây dựng tại đây cũng là nơi ông thường xuyên lui tới trong những năm
cuối đời. Không trở về Pháp, cũng không trở về quê hương Thụy Sĩ, Yersin
chọn mảnh đất Suối Dầu – gần Nha Trang và gần đỉnh Hòn Bà, để làm nơi
yên nghỉ cuối cùng.
Cuốn
tiểu sử của Henri Mollaret và Jacqueline Brossollet viết về Yersin được
kết thúc bằng câu : “Ông yên nghỉ như ông đã từng thích sống: một mình,
hoàn toàn một mình”. Nhưng phải chăng trong cuộc sống “cô đơn” mà “hạnh
phúc” đó, “nhà bác học – nhà thám hiểm – con người tiền phong”[13]
Alexandre Yersin đã luôn tìm thấy niềm vui, nguồn an ủi, sự giải tỏa
những ưu tư phiền muộn trong những nét đẹp của thiên nhiên: núi cao,
rừng cây, những bãi cỏ xanh, dòng nước mát lạnh, tiếng suối róc rách và
tiếng chim muông? Cùng với biển cả, núi rừng cao nguyên là môi trường
thân thiết đối với ông – một con người luôn đi đầu trong tìm tòi, khám
phá, luôn tìm cách hoàn thiện công việc của mình một cách thật sự nghiêm
túc, thật sự khoa học, nhưng cũng luôn tìm cách xa lánh những tiếng vỗ
tay, những cuộc tiếp tân chiêu đãi. Một con người luôn cố gắng đáp ứng
tính chính xác của khoa học, nhưng cũng biết say sưa chiêm ngưỡng vẻ đẹp
của tự nhiên.
Đà Lạt, viết nhân kỷ niệm 120 năm ngày bác sĩ Yersin đặt chân đến cao nguyên Lang Bian
( 1893 – 2013)
M.T.L.
[1] Service des Archives de l'Institut Pasteur, Repères chronologiques : Alexandre Yersin (1863-1943): http://www.pasteur.fr/infosci/archives/yer0.html
[2] Henri H. Mollaret et Jacqueline Brossolet, Alexandre Yersin ou le vainqueur de la peste, Fayard, Paris 1985.
[3]
Theo tài liệu của Viện Pasteur, tổ tiên bên ngoại của Yersin có một
người tên là Etienne Doumergue gốc ở giáo phận Uzès (nay thuộc tỉnh
Gard, vùng Languedoc-Roussillon), vì không muốn bỏ đạo đã trốn sang
Sezegnin, thuộc vùng Gex ở biên giới nước Pháp. Các thế hệ sau đó dời
sang Chancy, Cartigny – thuộc địa phận của Genève.
[4] Jacques-Henri Penseyres, La vie d’Alexandre Yersin en 20 tableaux, Morges, 22 septembre 2013:
[5] Theo tài liệu của Viện Pasteur Nha Trang. Một số tài liệu khác (vd: Wikipedia) lại ghi là Alexandre Emile Jean Yersin.
[6]
Trong tiếng Pháp, “canton” thường để chỉ một “tổng”, nhưng trong trường
hợp của Thụy Sĩ, dùng để chỉ một “bang”. Trước khi gia nhập vào Liên
bang, các bang của Thụy Sĩ là những “quốc gia”riêng biệt, có nghị viện
riêng và cơ quan hành pháp riêng.
[7]
Theo giáo sư Jacques-Henri Penseyres, căn nhà này nằm ở vị trí của số
11 đường Lausanne hiện nay, nhưng ngôi nhà cũ đã bị phá hủy vào năm
2010.
[8] Jean-François Bergier, “Lac Léman”, Dictionnaire historique de la Suisse:
Tham khảo thêm: Wikipédia bản tiếng Pháp.
[9] Jacques-Henri Penseyres, La destinée d'Alexandre Yersin à la lumière de son origine suisse:
[10] Alexandre Yersin, “Sept mois chez les Moïs”, in Variétés sur les pays Moïs, Gouvernement de la Cochinchine, Saigon, 1935, p. 182.
[11] Thư của Yersin gửi cho mẹ, 12-5-1898 (Tài
liệu của bác sĩ Henri Mollaret tặng thành phố Đà lạt). Trong thực tế,
chuyến khảo sát của Toàn quyền Decoux đã phải hoãn lại đến năm sau – tức
tháng 3 năm 1899.
[12] Noël Bernard, Yersin: Pionnier – Savant – Explorateur 1863-1943, La Colombe, Paris 1955, p. 77.
[13]
Nhan đề cuốn tiểu sử của Yersin do Noël Bernard viết: “Yersin, người
tiền phong – nhà bác học – nhà thám hiểm”. Noël Bernard (1875-1971) là
bác sĩ y khoa, nhà sinh học, đã từng kế nhiệm bác sĩ Yersin trong chức
vụ Giám đốc Viện Pasteur Sài-Gòn (1919-1922) và sau đó là Giám đốc của
các viện Pasteur tại Đông Dương (1923-1935), Giám đốc của các viện
Pasteur tại hải ngoại (1938-1958).
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN
Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 00:40
nguồn:http://boxitvn.blogspot.com/2013/12/que-huong-cua-bac-si-yersin.html
=======================================================================
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Chú ý: Điền vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
Sẽ xóa những comment không phù hợp
Thinhoi001