DẠY HỌC LÀ MỘT NGHỀ VẤT VẢ
Trương Đình Toe
Lên Vacsava kiếm sống, không quen buôn bán, Tam chạy taxi phục vụ bà con cộng đồng. Khách chủ yếu là các quý bà không biết lái xe, sáng từ nhà ra chợ trời „Sân vận động”, chiều từ chợ về nhà.
Trương Đình Toe
Lên Vacsava kiếm sống, không quen buôn bán, Tam chạy taxi phục vụ bà con cộng đồng. Khách chủ yếu là các quý bà không biết lái xe, sáng từ nhà ra chợ trời „Sân vận động”, chiều từ chợ về nhà.
Một dạo Tam thường xuyên chở một bà cực kỳ giầu sang đi chợ. Thấy anh kể đã học
đại học và sống lâu với người Ba Lan, bà khách nhanh trí nẩy ngay ra ý
định thuê anh dạy quý tử nhà bà. Về phía anh cũng cảm thấy hay hay, cho
rằng công việc ấy đỡ nhếch nhác, hợp với sở trường và khả năng của mình.
Song nghĩ thế sai lắm. Dạy học xưa nay vẫn được coi là một nghề vất vả.
Cổ nhân có câu: „Qua sông phải bắc cầu kiều, Muốn con hay chữ phải yêu lấy thày”.
Nhưng đấy là thời xưa, ngày nay người ta không thế. Trước khi mời Tam đến nhà bà chủ hỏi chồng:
- Nên trả cho hắn bao nhiêu?
-
Bọn này công xá cũng rẻ mạt – ông chủ nói. – Nhà chị Hạnh thuê Tây về
dạy, trả mỗi giờ 50 zloty. Mình cứ bảo trả 25 zloty, nếu hắn kỳ kèo thì
tăng thêm.
Tam
đến nhà ông bà chủ được cả hai vợ chồng tiếp đón rất niềm nở. Đến lúc
nói về giá cả, ông chủ đứng dạy sang phòng, để mình vợ ngồi đàm phán.
- Anh định tính em bao nhiêu một giờ? – Bà chủ hỏi.
-
Tôi mới lên đây, giá cả không rõ không rõ – anh trả lời. – Cô xem mọi
người ở đây thế nào rồi liệu mà tính, để cô cũng vừa lòng, mà tôi cũng
bõ công.
- Thôi em cứ trả anh 25 zloty một giờ.
Tam
ngạc nhiên nhìn bà chủ. Nơi anh sống trước đây là một vùng nông thôn
hẻo lánh. Thỉnh thoảng anh cũng được hàng xóm Tây thuê dậy toán cho trẻ,
chẳng mằng cả mằng lẽ gì, người ta cũng tự trả cho đến 35-40 zloty một
giờ. Huống hồ đây là đất thủ đô, cái gì cũng đắt đỏ gấp đôi.
- Cô trả tôi như vậy có thấp quá không?
- Chị Hạnh hàng xóm nhà em thuê Tây hẳn hoi về dạy mà cũng chỉ trả có 30 zloty một giờ!
Nhưng
bà chủ nói thế càng chạm đến lòng tự trọng của Tam. Anh vốn là người
kiêu hãnh, vẫn cho rằng mình chẳng may sa cơ lỡ bước, hay nói theo mê
tín là do cái số, chứ nào có kém cỏi gì. Liền hỏi lại:
- Thế cô cho tôi không bằng Tây hay sao?
-
A, không – bà chủ bị bất ngờ vội chữa. – Tính em bộc tuệch, anh thông
cảm. Thôi anh cứ tính em 40 zloty một giờ, thế là hơn cả Tây. Cháu mới
học lớp sáu, dạy cũng không khó khăn lắm. Anh cố gắng giúp em.
Tam
thấy bà chủ thuộc loại dẻo mồm, nói môi không dính mép, phong cách giả
tạo thì lấy làm khó chịu, đã định từ chối. Nhưng suy đi tính lại, nghĩ
mình nghèo, mới chân ướt chân ráo lên đây, chẳng ai biết đến, được người
ta thuê là may. Sau này nếu dạy tốt, có uy tín, bết đâu đấy chẳng phải
là cái kế để sinh nhai. Chả hơn là lái taxi hầu mấy bà phàm tục? Thế là
anh bắt đầu một nghề mới.
Xa
đất nước đã lâu, Tam nghiệm ra rằng, nếu ai đã trót sinh ra và lới lên ở
nước Việt, dẫu sang Tây sống 100 năm cũng không thể trở thành Tây được.
Dạy học anh vẫn theo cái lối cổ hủ của cha ông: „tiên học lễ, hậu học
văn”. Lần đầu tiên đến dạy, anh theo ba chủ vào phòng thằng nhỏ, gặp lúc
nó đương chơi máy tính. Thấy mẹ và khách vào, nó quay ra trố mắt nhìn, miệng câm như hến.
- Cháu tên là gì? – Thày hỏi.
- Hùng Phi.
- À, vậy là vẫn tên Việt Nam. Người Việt Nam ta gặp nhau bao giờ trẻ cũng phải chào già. Cháu có hiểu không?
- Chào bác đi chứ! – Bà chủ quát con.
Bấy giờ thằng nhỏ mới lí nhí không rõ tiếng. Nhưng Tam đoán là nó chào.
Đi
lại nhà học trò, Tam để ý thấy nó gặp hàng xóm láng giềng thì chớn mắt
lên. Một lần tình cờ hắn cùng trò ra khỏi cửa, gặp lũ trẻ Tây thì chúng
lại chào. Anh liền lưu ý:
- Cháu thấy chưa? Các bạn ngoan thế sao cháu không học?
Thằng nhỏ không nói gì. Nhưng lần sau có dịp, hắn hỏi lại: bây giờ gặp hàng xóm có chào không? Nó trả lời là có.
Lại
nhớ đến câu châm ngôn: „nhập gia tùy tục”, và người Ba Lan cũng có câu:
„vào giữa đàn quạ hãy kêu như quạ”, Tam lưu ý trò từ cách ăn, nói, thưa
gửi, cám ơn, xin lỗi, đi đứng… theo phong tục bản xứ. Anh thường nhắc
trò: đàn ông ngồi ăn không được đội mũ, nơi công cộng không thò tay vào
mũi mà ngoáy, không được khạc nhổ lung tung, nói chuyện với người lớn
hay phụ nữ không thò tay vào túi quần, ngồi chỗ đông người không được
ghé tai ai đó nói thầm, vì người khác có thể tưởng nói xấu họ…
Học
trò của Tam có cái tật ngồi miệng cứ há hốc ra, trông vừa ngớ ngẩn lại
vừa buồn cười. Bảo nó ngậm lại thì nó nghe, nhưng được một tý lại há ra.
Cuối cùng Tam hỏi:
- Cháu có biết tại sao bác bảo cháu ngậm miệng lại không?
- Không thì… – trò trả lời – ruồi nó bay vào!
Tam bị bất ngờ với câu trả lời, nhưng không lỡ để trò xấu hổ, hắn giải thích:
-
Ừ, cháu nói cũng có lý. Việt Nam ta có câu :”chó ngáp phải ruồi”. Bên
này không sẵn ruồi như bên ta, nhưng cứ há mãi thể nào cũng có con bay
vào.
Nhà
ông ba chủ rộng mênh mông. Thày trò Tam mỗi hôm học một phòng. Một hôm
vào một phòng rộng rãi, bàn ghế cực đẹp, tường sơn mầu xanh da trời nhàn
nhạt, trần trắng toát, nhưng lại có những vết gì đó văng vít lung tung.
Tam ngạc nhiên hỏi:
- Vết gì thế kia?
- Cà phê. – Trò trả lời.
- Sao cà phê lại bắn cả lên trần nhà được?
- Vì… thằng nhỏ ấp úng – bố mẹ cháu cãi nhau.
-
Mày nói dối. Có ai cãi nhau lại ngậm cà phê vào miệng mà phun lên trần
nhà bao giờ? Bác không thích bị người nói dối. Nhưng thôi, có lúc bác
cũng châm chước được.
Nhưng đấy là „học lễ”, „học văn” thì vất vả hơn nhiều.
Phải
thừa nhận là ông bà chủ rất quan tâm đến việc học hành của của con cái.
Mấy năm trước đã xin cho anh em Hùng Phi vào trường Mỹ. Bọn trẻ về nhà
không nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt. Cha mẹ chẳng hiểu gì nhưng
cũng lấy đó làm mừng. Một hôm có ông khách đến chơi, thấy hai đứa lia
láu thì ngạc nhiên hỏi:
- Chúng nó nói với nhau bằng tiếng gì thế?
- Bằng tiếng Anh bác ạ. – Bà chủ không giấu nổi vẻ tự hào.
- Tiếng Anh đâu mà tiếng Anh!
- Ô, thật đấy mà. Các cháu học trường Mỹ, nên nói tiếng Anh.
- Khổ – ông khách gắt. – Tiếng Anh thì tôi biết. Đây không phải là tiếng Anh.
- Thế nó là cái tiếng gì?
- Đây có lẽ là tiếng… Ma-sai bên Phi châu!
- Ma-sai nghĩa là thế thế nào? Sao lại tận bên Phi châu? – Bà chủ ngơ ngác.
-
Ma-sai là một bộ lạc người da đen rất nổi tiếng vì lòng dũng cảm và yêu
tự do. Họ du mục trên thảo nguyên vùng xích đạo. Sống chủ yếu bằng nuôi
gia cầm, nhà cửa làm tạm bợ bằng cành cây, lá cọ, nhiên liệu nấu nướng
thì dùng phân bò phơi khô…
Nguyên
ở trường Mỹ có nhiều con nhà ngoại giao, trong đó có mấy đứa trẻ da
đen. Ngoài giờ học chúng nói với nhau bằng tiếng mẹ đẻ. Anh em Hùng Phi
thích chơi với chúng, và thay vì tiếng Anh lại học được một thứ tiếng
thổ dân châu Phi chính cống.
Bà
chủ nghe ông khách giải thích mọi lẽ thì ngã ngửa người ra. Đợi chồng
về, bà bắt đầu hạch sách. Tất cả cố nhiên là tại ông. Lại đua đòi trường
Anh mới chả Mỹ. Ngay từ đầu bà đã phản đối kịch liệt. Bao
nhiêu tiền của thành ra đổ xuống sông xuống biển. Chả lẽ sau này lại
gửi con sang thảo nguyên bên Phi châu mà du mục. Rồi bà ép ông phải xin
cho con ra trường phổ thông thông thường của Ba Lan. Các quý tử của ông
bà đâm ra bị nhỡ. Biết đến bốn năm thứ tiếng, nhưng chẳng tiếng nào ra
hồn. Thành thử việc học hành khó khăn vô cùng.
Đầu tiên theo kế hoạch, Tam chỉ dạy
môn toán. Rốt cuộc thì môn nào anh cũng phải giúp trò, chỉ trừ có môn
văn (thực ra người ta không gọi là môn văn như ta, mà gọi là môn „tiếng
Ba Lan”). Môn này thì anh khuyên cha mẹ thằng nhỏ thuê cô giáo người bản
xứ. Và đây tiết học toán đầu tiên:
- Bố cháu bao nhiêu tuổi?
- 44.
- Mẹ cháu?
- 38.
- Cháu?
- 13.
- Thế còn em cháu?
- Em cháu lên 9.
- Vậy cháu hãy tính tuổi trung bình của gia đình cháu.
Học
trò không hiểu thế nào là giá trị trung bình. Thày lại giảng giải, rằng
giá trị trung bình là giá trị nằm đâu đó ở giữa, chắc chắn không thể
nhỏ hơn giá trị bé nhất, không lớn hơn giá trị lớn nhất. Giá trị trung
bình các cháu học bây giờ là trung bình cộng. Nhà cháu có bốn người thì
cứ cộng tuổi tất cả lại, chia cho bốn. Thằng nhỏ tính toán một hồi rồi
thông báo:
- Tuổi trung bình nhà cháu là 2 phẩy 6!
Tài
thật. Chẳng hiểu tại sao nó lại nhét được dấu phẩy vào giữa? Nhưng toán
vẫn là môn thằng nhỏ giỏi nhất. Còn những môn khác thì khổ bằng mười. Ở
Việt Nam chỉ cần giỏi toán, lý, hóa là được. Những môn khác không cần
lắm. Bên này khổ nỗi, văn, sử địa, môi trường, mối sinh… môn nào cũng
quan trọng cả. Môn văn (tức tiếng Ba Lan) người ta còn trọng hơn toán.
Lại
kể đến việc học văn (hay tiếng Ba Lan). Một hôm cô giáo Tây nghỉ, Tam
phải dạy thay, vì có bài tập làm văn như sau: „Em hãy viết thư cho người
bạn ở xa, kể về nơi em sống và mời bạn đến tham quan. Để khuyến khích,
em hãy giới thiệu ít nhất hai địa điểm đáng quan tâm”. Tam giải thích ý
tưởng, rằng phải viết như thế như thế… và bảo thằng nhỏ tự viết. Nó cặm
cụi hai mươi phút, rồi trình tờ giấy có đúng hai câu, lại còn sai văn
phạm, đại khái: Mời bạn đến thăm Vacsava. Đây có siêu thị Makro và
Arkadia hay lắm – chấm hết.
- Thủ
đô Vacsava rộng lớn – thày cau mày – mà lại không có chỗ nào đáng thăm
thú ngoài hai cái siêu thị hay sao? Nếu đến Vacsava chỉ để vào siêu thị
thì ai người ta đến làm gì? Sao thế giới quan của cháu hạn hẹp đến thế?
Lúc
đó hắn mắng mỏ trò, sau lại cảm thấy hối tiếc. Thế giới quan của thằng
nhỏ hạn hẹp đâu phải tại nó; thế giới quan của anh rộng lớn thì đã được
tích sự gì. Anh đã lấy tiền công của bố mẹ nó thì nhiệm vụ của anh là
dạy bảo nó, nhất là chẳng hiểu tại sao, nó là đứa trẻ rất ngoan. Nhưng
nhiều lúc nói khản cả tiếng mà trò cứ ngơ ngác chẳng hiểu gì. Tiếc rằng
nhân loại chưa nghĩ được cách bổ đầu người ra để đổ kiến thức vào. Nhiều
khi bực vô cùng, nhưng chửi không chửi được, đánh không đánh được. Cái
thời ông trạng Lợn đánh trò thừa sống thiếu chết đã vĩnh viễn qua rồi.
Có lần anh hỏi trò:
- Cháu có biết thế nào là „nước đổ lá khoai không”?
Khoai ở đây là khoai nước của ta. Trò cả đời thấy lá khoai nước bao giờ mà hiểu.
Lại có lần anh chán ngán, tỷ tê vẽ ra giấy chữ A, xóa đi một nửa rồi hỏi:
- Đây là chữ gì?
- Không biết.
-
Đây là chữ A bẻ đôi! Một chữ bẻ đôi cũng không biết thì học hành kiểu
gì? – Rồi thày nhếch mép cười, tự hào nghĩ ra được một câu hỏi thâm nho.
Hỏi thế thì đến bố nó cũng chẳng trả lời được.
Một
hôm Tam giúp thằng nhỏ về môn „thiên nhiên”. Có một câu hỏi: „Em hãy
giải thích tại sao chim cu-cu được gọi là loài ăn bám”? (Chim cu-cu là
loài chim sống ở châu Âu và Bắc Phi, sẽ nói ở dưới). Thực
ra trong sách giáo khoa người ta đã giải thích rành mạch. Bảo trò đọc
thì nó đọc thông, phát âm chuẩn như người bản xứ, chỉ khác họ một điểm
là đọc xong chẳng hiểu gì.
- Cháu có biêt thế nào là loài ăn bám? – Thày hỏi.
- Không.
- Những loài động hay thực vật sống nhờ loài khác, ví dụ như cây tầm cửi sống trên cây khác, giun sán sống trong ruột người… Cháu hiểu chưa?
- Hiểu rồi.
- Cháu có biết chim cu-cu la chim gì không?
- Không.
Đây
lại kể đến chim cu-cu, tên khoa học của nó là Cuculus canorus. Tên ấy
chắc người ta đặt theo tiếng hót. Lần đầu tiên Tam nghe đến loại chim
này khi còn nhỏ ở Việt Nam. Bấy giờ chỉ nhỉnh hơn trò bây giờ một tý,
cậu bé Tam có đọc một bài thơ của Nga dịch sang tiếng Việt như sau:
„Bên sông xa vắng mênh mông
Chim cu-cu mẹ nép mình bóng cây.
Nỗi niềm thương nhớ bấy nay
Khóc thương thảm thiết tháng ngày mất con”.
Vì
người ta chỉ dịch thơ, không chú giải gì, nên tưởng đấy là chim gáy và
không hiểu tại sao cu-cu mẹ lại mất con? Tuy tuổi còn thơ, cậu bé cũng
hiểu rằng, ở đời này người ta chẳng yêu ai bằng yêu con, vì thế thương
cho cu-cu mẹ lắm. Nhưng số phận buồn tủi của cu-cu mẹ do nhà thơ hạy
dịch giả mường tưởng mà ra, thực tế nó không đến nỗi bất hạnh như vậy.
Loài chim này không bao giờ xây tổ. Đến mùa sinh sản, cu-cu mẹ đẻ trộm
vào tổ của các loài khác như sơn ca, dạ oanh… một quả trứng, lẫn với
trứng chim chủ nhà, và chẳng bao giờ quan tâm đến nữa. Chim chủ nhà
không phân biệt được thực giả, ấp cho trứng nở, rồi nuôi cả con đẻ lẫn
con nuôi. Cu-cu con khỏe, lớn nhanh, nhiều khi to hơn cả bố mẹ nuôi. Đến
khi đủ sức, lập tức hất anh chị em ra khỏi tổ, để một mình tận hưởng sự
chăm sóc của bố mẹ. Đủ lông đủ cánh rồi thì bay thẳng, chẳng thèm ngoái
cổ lại.
Tam giải thích cặn kẽ rồi hỏi trò:
- Bây giờ cháu đã hiểu tại sao chim cu-cu được gọi là loài ăn bám?
- Hiểu rồi.
- Vậy thì cháu thử nói lại bác nghe!
Thằng nhỏ đăm đăm nhìn qua cửa sổ, vẻ nghĩ ngợi vất vả hột hồi rồi thốt:
- Tại vì… nó hót cu-cu!
- Tao cũng đến chết với mày thôi – Tam thở
dài ngao ngán, nhìn học trò mà không biết nên cười hay nên khóc. Kiểu
này thì cũng đến khuyên nó theo mẹ đi buôn, chứ theo thày học chữ không
được. Ngày sau sẵn tiền, muốn có bằng tiến sĩ hay cử nhân cứ về nước mua
thoải mái. Học làm gì cho mệt sức.
Hết giờ, bà chủ thanh toán tiền. Trả xong bà hỏi:
- Cô giáo dạy văn bảo cháu nói tiếng Ba Lan bây giờ rất tốt. Không hiểu chỗ bác nó học hành thế nào?
- Cũng tốt lắm! – Tam trả lời – Nhưng từ tuần sau tôi không có thời gian dạy cháu nữa. Cô tìm cho cháu thày khác.
Và anh cạch dạy học từ đấy, lại quay về với nghề lái taxi.
nguồn:http://zung.zetamu.net/2012/08/d%E1%BA%A1y-h%E1%BB%8Dc-la-m%E1%BB%99t-ngh%E1%BB%81-v%E1%BA%A5t-v%E1%BA%A3/
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để
xả stress
Sẽ xóa những comment nói tục
Thinhoi001
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Chú ý: Điền vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
Sẽ xóa những comment không phù hợp
Thinhoi001