Tôi nhận được bài viết nầy của một người đồng hương gởi tới với lời nhắn: đăng cho vui để thư giãn vào ngày chủ nhật. Tôi đọc hết, thấy vui như chuyện tiếu lâm. Nhưng tôi lại băn khoăn, không biết nhân vật Xuân Tóc Đỏ trong bài nầy là ai vì tôi chỉ là người viết báo làng nhàng không được hân hạnh quen biết với giới khoa bảng bằng cấp cao cũng như giới văn nghệ sĩ đáng kính. Tôi điện hỏi lại tác giả thì nghe trả lời : Là ai cần biết làm chi, xã hội ni thì những người như rứa có khắp mọi nơi, ngước mắt nhìn lên là thấy đầy ra đó.
Tôi lại thắc mắc, sao lại nhìn lên nhỉ? Thôi kệ, cứ đăng cho vui.
Thằng Xuân Tóc Đỏ nầy, tôi quen biết nó từ thời nó ở Quảng Bình vào làm giáo viên vật lý tại trường Phan Chu Trinh Đà Nẵng, khoảng năm 80 gì đó. (Xin lỗi là tôi vẫn hay mày tao chi tớ với nó nên quen gọi nó là thằng nên có gì khiếm nhã mong các bạn bỏ qua).
Nó tốt mã, bành bao, ăn nói dẻo miệng luôn làm vừa lòng tất cả mọi người do vậy tôi không hề có gì phải giận ghét nó như bao người khác đối với nó.
Thời đó các xếp lớn tỉnh QNĐN mới từ trên núi xuống, được cấp cho nhà to cửa rộng là chiến lợi phẩm lấy được của "bọn tư sản, ngụy quyền". Nhà nào cũng điện nước, ti vi, tủ lạnh, dàn nhạc, máy lạnh, quạt máy, bồn cầu, vòi sen...tràn hê. Các xếp sử dụng không bao lâu thì hỏng hóc, gọi ai sửa đây? Thợ điện, thợ bồn cầu, thợ điện tử thì đầy ra đó nhưng chúng là người của chế độ cũ làm sao dám cho vào nhà riêng đến từng ngóc ngách bí hiểm của các xếp để sửa. Làm sao biết chúng không phải là CIA cài lại? Thế là phải đi tìm cho ra các loại thợ ấy nhưng phải lý lịch tốt. Có ngay, nó xuất hiện đáp ứng. Nhà xếp nào nghẹt bồn cầu, dạ có em! Nhà xếp nào cháy cầu chì , dạ có em! Nhà xếp nào hư tivi, dạ có em!...Chẳng bao lâu, thần trở thành người quan trọng, đi ra đi vào bất cứ nhà xếp lớn nào, vào bất cứ lúc nào như người nhà. Lại thêm nó có mặt mày sáng sủa, trơn tru như Mã Giám Sinh nên rất được các phu nhân, tiểu thư cưng chiều.
Nhờ vậy, đang là giáo viên vật lý loàng xoàng, dạy dỗ tầm tầm như đa số các giáo viên được chi viện từ khu Bốn vào thời đó, bỗng dưng nổ đùng lên thành tiến sĩ nghiên cứu công trình gì đó về điện đóm gì đó trên cơ thể người được các bệnh viện ở Đà Nẵng (của cái thời mà bệnh gì cũng dùng thuốc "xuyên tâm liên"), ứng dụng để chữa bệnh!
Sau khi bỗng dưng có bằng tiến sĩ, biết đất Đà Nẵng quá hẹp đối với cái tầm cao của mình, nó khăn gói vào Sài Gòn lập nghiệp.
Ở đất Sài Gòn, ban đầu nó cặp kè với một Việt Kiều Đức đang đầu tư một số công trình viễn thông ở VN để kiếm tiền. Rồi sau đó nó cặp kè với các đại gia Phạm Huy Phước- Tamexco, Nguyễn Đăng Quang- sơn mài Lam Sơn, Minh Phụng...Các đại gia đó về sau lần lược hoặc bị lên đoạn đầu đài hoặc phải chạy trốn, riêng nó thì từ đó bỗng dưng phất lên thành đại gia. Nghe đồn, đại gia Minh Phụng bị bất ngờ mang án tử hình chỉ do làm ăn kinh tế bị phá sản cũng có phần nào do nó gây ra. Ấy là thời đó, quan hệ của nó lên tầm với các xếp trung ương rồi nên nó môi giới chạy mánh cho Minh Phụng được tiếp cận với các xếp lớn ở trển. Nó đã sắp xếp cho Minh Phụng vài chuyến đi tháp tùng với một vài xếp ra thăm nước ngoài. Khi Phụng bị bắt ra tòa, vì những quan hệ nhằng nhịt cấp cao nầy sợ gây ra hiểu lầm nên ...bùm một phát cho im chuyện, dù tội của Phụng cũng chỉ là làm ăn nợ nần chứ chẳng lừa đảo cướp giật gì ai (tài sản của Minh Phụng nếu để cho Minh Phụng bán theo giá thị trường thì dư sức trả hết nợ ngân hàng)
Rồi sau đó, bỗng dưng đùng một cái, nó được phong hàm giáo sư, đùng một cái được làm viện trưởng viện khoa học gì đó của nhà nước y như có phép thần.
Mà có phép thần thiệt. Bây giờ cũng đùng một cái, nó thành thần thi sĩ! Chỉ qua một đêm thao thức ở Hoa Lư mộng cùng đế vương Đinh bộ Lĩnh, nó được thần nhập tâm (nên gọi gọn là tâm thần) chỉ trong vài tiếng đồng hồ (từ 1giờ khuya đến 5 giờ sáng), thần phóng bút làm ra đến trên 120 bài thơ đường luật! Bình quân mỗi giờ thần viết ra giấy đến 30 bài thơ, tức là cứ 2 phút, thần xuất ra được một bài thơ. Chỉ riêng chuyện nầy thôi cũng cần phải đưa nó vào "ghi-nét" về kỷ lục viết tay nhanh, chứ đừng nói là kỷ lục làm thơ nhanh. Đúng là như nó nói, thần nhập tâm vào nó thiệt chứ không phải đùa.
Thơ của nó đúng là thơ thần nhập tâm thiệt. Vào tham vấn Gu Gồ tiên sinh (chứ không phải Gúc Gồ chấm tiên lãng như thằng quan chức ngu đần nào đó ờ Hải Phòng đã làm trò cười cho thiên hạ) thì giáo sư, tiến sĩ, viện trưởng khoa học Xuân Tóc Đỏ hiện ra với 1,5 triệu kết quả trong vòng chưa đến nửa giây. Mà chẳng thấy thông tin gì liên quan đến các công trình khoa học của giáo sư viện trưởng cả, chỉ thấy toàn là những thông tin về thơ thần. Mà những thông tin ấy toàn là những bài viết ngợi ca lên tận mây xanh những bài thơ thần nhập tâm của nó đăng trên các báo uy tín của đảng như Báo điện tử Đảng CSVN, SGGP, HNM, Công An Hữu Ước, Văn Nghệ Hữu Thỉnh...chứ không phải các tờ báo mạng lèn quèn đâu. Kinh thật, có tiền, có quan hệ mua gì cũng xong, kể cả mua thần tiên nữa!
Thơ của nó còn được nhà xuất bản Giáo Dục in thành sách tuyệt đẹp, tái bản đi lại nhiều lần. Như vậy thơ thần của nó chắc chắn được đưa vào dạng tham khảo cho sinh viên học sinh rồi, có khi được đưa vào cả chương trình giảng dạy chứ không phải chơi.
Bạn mình là nhà khoa học nay nhờ phép tiên, phép thần...nhập tâm làm được cả thơ thần được báo đảng ca ngợi, được nhà xuất bản giáo dục phát hành nên tôi không khỏi không mừng, vội tìm đọc thử vài bài thì thấy rằng thần tiên mà làm thơ như thế thì 85 triệu dân VN ai cũng có thể là thần thi sĩ hết và tôi không ngạc nhiên khi VN được tôn vinh là siêu cường quốc về thơ.
Tôi là bạn nó thuở xưa, bây giờ nó lên tầm cao nên cũng hết chơi với nhau từ lâu rồi, có khi nó cũng không còn nhớ tôi là ai. Chuyện bình thường thôi, tôi không có chút gì phiền lòng về chuyện nầy. Tuy nhiên tôi vẫn từ xa theo dõi những bước đi lên của nó để mừng cho nó. Bây giờ thì nó bạn với toàn những nhân vật nổi tiếng. Trước đây cần đi lên, nó quen biết toàn cấp ủy của QNĐN. Khi vào SG, cần tiền, bạn nó toàn các đại gia như Tamexco, Minh Phụng, Lam Sơn...
Và bây giờ cần tiếng tăm, bạn mới của nó toàn là những người đáng kính, nắm những cơ quan truyền thông quan trọng của đảng như đại nhà thơ Hữu Thỉnh, Trung Tướng nhà báo nhà văn nhà thơ nhà viết kịch nhạc sĩ họa sĩ vâng vâng và vâng vâng Hữu Ước, thi sĩ hoa hậu Dương Kỳ Anh, thi sĩ Trần Gia Thái....Nhìn vào danh sách bạn bè của nó, biết nó không phải là người bình thường rồi.
Tôi viết ra những dòng nầy về người bạn cũ không phải để kích bác nó mà để phê phán cái xã hội nầy. Xã hội như thế nầy thì phải có những Xuân Tóc Đỏ như thế tương thích. Nhưng tôi cũng không phê phán cái xã hội nầy vì đã tạo ra những Xuân Tóc Đỏ thành đạt như bạn cũ của tôi. Cái tôi phê phán là tại sao một người trí tiên, tâm thần, lý lịch đỏ chót như nó mà chỉ mới lên làm đến chức viện trưởng viện công nghệ lèn quèn? Ít ra nó cũng phải lên đến thủ tướng hoặc cao hơn nữa, hoặc có thấp đôi chút thì cũng bằng cỡ với ông Nguyễn Thiện Nhân kia. Cái tôi đả kích và phê phán là cái xã hội vạn lần công bằng và dân chủ nầy còn bất công với nó quá.
Đà Nhân
Thằng Xuân Tóc Đỏ nầy, tôi quen biết nó từ thời nó ở Quảng Bình vào làm giáo viên vật lý tại trường Phan Chu Trinh Đà Nẵng, khoảng năm 80 gì đó. (Xin lỗi là tôi vẫn hay mày tao chi tớ với nó nên quen gọi nó là thằng nên có gì khiếm nhã mong các bạn bỏ qua).
Nó tốt mã, bành bao, ăn nói dẻo miệng luôn làm vừa lòng tất cả mọi người do vậy tôi không hề có gì phải giận ghét nó như bao người khác đối với nó.
Thời đó các xếp lớn tỉnh QNĐN mới từ trên núi xuống, được cấp cho nhà to cửa rộng là chiến lợi phẩm lấy được của "bọn tư sản, ngụy quyền". Nhà nào cũng điện nước, ti vi, tủ lạnh, dàn nhạc, máy lạnh, quạt máy, bồn cầu, vòi sen...tràn hê. Các xếp sử dụng không bao lâu thì hỏng hóc, gọi ai sửa đây? Thợ điện, thợ bồn cầu, thợ điện tử thì đầy ra đó nhưng chúng là người của chế độ cũ làm sao dám cho vào nhà riêng đến từng ngóc ngách bí hiểm của các xếp để sửa. Làm sao biết chúng không phải là CIA cài lại? Thế là phải đi tìm cho ra các loại thợ ấy nhưng phải lý lịch tốt. Có ngay, nó xuất hiện đáp ứng. Nhà xếp nào nghẹt bồn cầu, dạ có em! Nhà xếp nào cháy cầu chì , dạ có em! Nhà xếp nào hư tivi, dạ có em!...Chẳng bao lâu, thần trở thành người quan trọng, đi ra đi vào bất cứ nhà xếp lớn nào, vào bất cứ lúc nào như người nhà. Lại thêm nó có mặt mày sáng sủa, trơn tru như Mã Giám Sinh nên rất được các phu nhân, tiểu thư cưng chiều.
Nhờ vậy, đang là giáo viên vật lý loàng xoàng, dạy dỗ tầm tầm như đa số các giáo viên được chi viện từ khu Bốn vào thời đó, bỗng dưng nổ đùng lên thành tiến sĩ nghiên cứu công trình gì đó về điện đóm gì đó trên cơ thể người được các bệnh viện ở Đà Nẵng (của cái thời mà bệnh gì cũng dùng thuốc "xuyên tâm liên"), ứng dụng để chữa bệnh!
Sau khi bỗng dưng có bằng tiến sĩ, biết đất Đà Nẵng quá hẹp đối với cái tầm cao của mình, nó khăn gói vào Sài Gòn lập nghiệp.
Ở đất Sài Gòn, ban đầu nó cặp kè với một Việt Kiều Đức đang đầu tư một số công trình viễn thông ở VN để kiếm tiền. Rồi sau đó nó cặp kè với các đại gia Phạm Huy Phước- Tamexco, Nguyễn Đăng Quang- sơn mài Lam Sơn, Minh Phụng...Các đại gia đó về sau lần lược hoặc bị lên đoạn đầu đài hoặc phải chạy trốn, riêng nó thì từ đó bỗng dưng phất lên thành đại gia. Nghe đồn, đại gia Minh Phụng bị bất ngờ mang án tử hình chỉ do làm ăn kinh tế bị phá sản cũng có phần nào do nó gây ra. Ấy là thời đó, quan hệ của nó lên tầm với các xếp trung ương rồi nên nó môi giới chạy mánh cho Minh Phụng được tiếp cận với các xếp lớn ở trển. Nó đã sắp xếp cho Minh Phụng vài chuyến đi tháp tùng với một vài xếp ra thăm nước ngoài. Khi Phụng bị bắt ra tòa, vì những quan hệ nhằng nhịt cấp cao nầy sợ gây ra hiểu lầm nên ...bùm một phát cho im chuyện, dù tội của Phụng cũng chỉ là làm ăn nợ nần chứ chẳng lừa đảo cướp giật gì ai (tài sản của Minh Phụng nếu để cho Minh Phụng bán theo giá thị trường thì dư sức trả hết nợ ngân hàng)
Rồi sau đó, bỗng dưng đùng một cái, nó được phong hàm giáo sư, đùng một cái được làm viện trưởng viện khoa học gì đó của nhà nước y như có phép thần.
Mà có phép thần thiệt. Bây giờ cũng đùng một cái, nó thành thần thi sĩ! Chỉ qua một đêm thao thức ở Hoa Lư mộng cùng đế vương Đinh bộ Lĩnh, nó được thần nhập tâm (nên gọi gọn là tâm thần) chỉ trong vài tiếng đồng hồ (từ 1giờ khuya đến 5 giờ sáng), thần phóng bút làm ra đến trên 120 bài thơ đường luật! Bình quân mỗi giờ thần viết ra giấy đến 30 bài thơ, tức là cứ 2 phút, thần xuất ra được một bài thơ. Chỉ riêng chuyện nầy thôi cũng cần phải đưa nó vào "ghi-nét" về kỷ lục viết tay nhanh, chứ đừng nói là kỷ lục làm thơ nhanh. Đúng là như nó nói, thần nhập tâm vào nó thiệt chứ không phải đùa.
Thơ của nó đúng là thơ thần nhập tâm thiệt. Vào tham vấn Gu Gồ tiên sinh (chứ không phải Gúc Gồ chấm tiên lãng như thằng quan chức ngu đần nào đó ờ Hải Phòng đã làm trò cười cho thiên hạ) thì giáo sư, tiến sĩ, viện trưởng khoa học Xuân Tóc Đỏ hiện ra với 1,5 triệu kết quả trong vòng chưa đến nửa giây. Mà chẳng thấy thông tin gì liên quan đến các công trình khoa học của giáo sư viện trưởng cả, chỉ thấy toàn là những thông tin về thơ thần. Mà những thông tin ấy toàn là những bài viết ngợi ca lên tận mây xanh những bài thơ thần nhập tâm của nó đăng trên các báo uy tín của đảng như Báo điện tử Đảng CSVN, SGGP, HNM, Công An Hữu Ước, Văn Nghệ Hữu Thỉnh...chứ không phải các tờ báo mạng lèn quèn đâu. Kinh thật, có tiền, có quan hệ mua gì cũng xong, kể cả mua thần tiên nữa!
Thơ của nó còn được nhà xuất bản Giáo Dục in thành sách tuyệt đẹp, tái bản đi lại nhiều lần. Như vậy thơ thần của nó chắc chắn được đưa vào dạng tham khảo cho sinh viên học sinh rồi, có khi được đưa vào cả chương trình giảng dạy chứ không phải chơi.
Bạn mình là nhà khoa học nay nhờ phép tiên, phép thần...nhập tâm làm được cả thơ thần được báo đảng ca ngợi, được nhà xuất bản giáo dục phát hành nên tôi không khỏi không mừng, vội tìm đọc thử vài bài thì thấy rằng thần tiên mà làm thơ như thế thì 85 triệu dân VN ai cũng có thể là thần thi sĩ hết và tôi không ngạc nhiên khi VN được tôn vinh là siêu cường quốc về thơ.
Tôi là bạn nó thuở xưa, bây giờ nó lên tầm cao nên cũng hết chơi với nhau từ lâu rồi, có khi nó cũng không còn nhớ tôi là ai. Chuyện bình thường thôi, tôi không có chút gì phiền lòng về chuyện nầy. Tuy nhiên tôi vẫn từ xa theo dõi những bước đi lên của nó để mừng cho nó. Bây giờ thì nó bạn với toàn những nhân vật nổi tiếng. Trước đây cần đi lên, nó quen biết toàn cấp ủy của QNĐN. Khi vào SG, cần tiền, bạn nó toàn các đại gia như Tamexco, Minh Phụng, Lam Sơn...
Và bây giờ cần tiếng tăm, bạn mới của nó toàn là những người đáng kính, nắm những cơ quan truyền thông quan trọng của đảng như đại nhà thơ Hữu Thỉnh, Trung Tướng nhà báo nhà văn nhà thơ nhà viết kịch nhạc sĩ họa sĩ vâng vâng và vâng vâng Hữu Ước, thi sĩ hoa hậu Dương Kỳ Anh, thi sĩ Trần Gia Thái....Nhìn vào danh sách bạn bè của nó, biết nó không phải là người bình thường rồi.
Tôi viết ra những dòng nầy về người bạn cũ không phải để kích bác nó mà để phê phán cái xã hội nầy. Xã hội như thế nầy thì phải có những Xuân Tóc Đỏ như thế tương thích. Nhưng tôi cũng không phê phán cái xã hội nầy vì đã tạo ra những Xuân Tóc Đỏ thành đạt như bạn cũ của tôi. Cái tôi phê phán là tại sao một người trí tiên, tâm thần, lý lịch đỏ chót như nó mà chỉ mới lên làm đến chức viện trưởng viện công nghệ lèn quèn? Ít ra nó cũng phải lên đến thủ tướng hoặc cao hơn nữa, hoặc có thấp đôi chút thì cũng bằng cỡ với ông Nguyễn Thiện Nhân kia. Cái tôi đả kích và phê phán là cái xã hội vạn lần công bằng và dân chủ nầy còn bất công với nó quá.
Đà Nhân
Được đăng bởi
HUYNH NGOC CHENH
vào lúc
11:17
nguồn:http://huynhngocchenh.blogspot.com/2012/08/than-tho-si-tien-si-vien-truong-giao-su.html
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Thơ nhái mà cũng khen nức nở
Thơ nhái mà cũng khen nức nở
Nghe anh em kể lại, trong cuộc hội thảo về thơ giáo sư tiến sĩ Hoàng
Quang Thuận do Hội nhà văn VN tổ chức, ông chủ tịch hội Hữu Thỉnh đã
khen nức nở thơ nhập thần của ông Thuận. Ông Thỉnh dẫn ra bài Am xưa:
Sớm cưỡi mây chơi cùng non biếc
Đêm về bến nghỉ lót trăng nằm
Tiếng sáo thiền ca vui bất tận
Ngập tràn Yên Tử trăng trong trăng
Ông Thỉnh chủ tịch hội vỗ đùi đánh đét mà khen rằng "Đây là bài thơ tiêu biểu cho hai bút pháp thiêng liêng hóa và đời thường hóa, nhân vật trong bài thơ này phải là người tu đắc đạo mới lấy trăng thay cho giường chiếu mà không sợ phàm tục, nhìn thấy trong trăng còn nhiều trăng nữa, tức là qua một vật mà nhìn thấy cái vô biên của vạn giới” (theo báo Thanh Niên).
Ối giời,làm đến chủ tịch hội văn bút cả nước mà cứ khen ào ào lấy được. Xin mách nhỏ ông nhá, thơ nhái đấy. Chả tin thì ông đọc bài Hạnh An Bang phủ của Thượng hoàng thi sĩ Trần Thánh Tông xem:
幸安邦府
朝遊浮雲嶠,
暮宿明月灣。
忽然得佳趣,
萬象生毫端。
(Bản dịch này, hồi tôi còn đi học có nghe thầy Mai Cao Chương đọc, nay không nhớ của ai, nhưng không phải của cụ Phan Võ, bởi bản cụ Phan Võ dịch khác mấy chữ).
Xin hầu cụ Thỉnh ạ. Lần sau có ăn nói gì, cụ nhớ nhìn trước ngó sau nhé.
13.8.2012
Đêm về bến nghỉ lót trăng nằm
Tiếng sáo thiền ca vui bất tận
Ngập tràn Yên Tử trăng trong trăng
Ông Thỉnh chủ tịch hội vỗ đùi đánh đét mà khen rằng "Đây là bài thơ tiêu biểu cho hai bút pháp thiêng liêng hóa và đời thường hóa, nhân vật trong bài thơ này phải là người tu đắc đạo mới lấy trăng thay cho giường chiếu mà không sợ phàm tục, nhìn thấy trong trăng còn nhiều trăng nữa, tức là qua một vật mà nhìn thấy cái vô biên của vạn giới” (theo báo Thanh Niên).
Ối giời,làm đến chủ tịch hội văn bút cả nước mà cứ khen ào ào lấy được. Xin mách nhỏ ông nhá, thơ nhái đấy. Chả tin thì ông đọc bài Hạnh An Bang phủ của Thượng hoàng thi sĩ Trần Thánh Tông xem:
幸安邦府
朝遊浮雲嶠,
暮宿明月灣。
忽然得佳趣,
萬象生毫端。
Hạnh An Bang phủ
Triêu du phù vân kiệu,
Mộ túc minh nguyệt loan.
Hốt nhiên đắc giai thú,
Vạn tương sinh hào đoan.
Mộ túc minh nguyệt loan.
Hốt nhiên đắc giai thú,
Vạn tương sinh hào đoan.
Dịch:
Dạo chơi phủ An Bang
Dạo chơi phủ An Bang
Sớm chơi núi mây nổi
Tối ngủ bến trăng thanh
Thình lình thấy cảnh thú
Ngòi bút hiện muôn hình(Bản dịch này, hồi tôi còn đi học có nghe thầy Mai Cao Chương đọc, nay không nhớ của ai, nhưng không phải của cụ Phan Võ, bởi bản cụ Phan Võ dịch khác mấy chữ).
Xin hầu cụ Thỉnh ạ. Lần sau có ăn nói gì, cụ nhớ nhìn trước ngó sau nhé.
13.8.2012
Nguyễn Thông
Được đăng bởi
Nguyễn Thông
vào lúc
21:07:00
nguồn:http://thongcao55.blogspot.com/2012/08/tho-nhai-ma-cung-khen-nuc-no.html
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
THƠ NHẬP ĐỒNG, KHÔNG NÊN ĐÙA CỢT HAY TUNG HÔ CẦU DANH
THƠ NHẬP ĐỒNG, KHÔNG NÊN ĐÙA CỢT HAY TUNG HÔ CẦU DANH
Trần Đình Thu
Tôi tiếp xúc với 2 tập thơ của Hoàng Quang Thuận từ rất lâu, có giới thiệu vài bài trên web binhchonthohay.com. Gần đây tôi có số phone của ông Hoàng Quang Thuận nên gọi trực tiếp cho ông ấy, xin được cung cấp 2 file gốc của 2 tập thơ nhằm mục đích đưa nguyên vẹn lên trang web của tôi cho quý bạn yêu thơ doawnload về đọc. Nhưng ông Thuận có vẻ không mặn mà. Ông bảo tôi gọi cho vị viện phó nào đấy của ông ấy, còn ông thì bận lắm. Thấy người không có lòng nên tôi thôi. Thành ra mục “doawnload tác phẩm” của web tôi không có 2 bản thơ này. Thật tiếc.
Tôi có nhận xét ngắn gọn thế này về thơ do ông Hoàng Quang Thuận viết ra: Hơi thơ lạ, và “lạnh”, có cái gì đó rất “cõi trên”. Tôi từng biết hiện tượng nhập đồng thơ. Ở làng tôi (làng Hà Trung huyện Gio Linh tỉnh Quảng Trị) có khu Lăng Lầu rất linh thiêng. Một số người thường đến đó cầu cơ và xin thơ. Quả thật họ xin được những bài thơ khá lạ, dù có người bình thường không biết thơ phú là gì. Thí dụ vào năm 1990 họ xin được bài thơ đánh số đề như sau:
Năm Canh Ngọ nhiều người muốn lộc.
Ta giúp trần, trần phải giúp ta
Trên trời sao sáng hằng hà
Nghĩ ra mà đánh cả ba con đầu.
Nhưng tôi sẽ viết về những bài thơ đánh đề này trong một dịp khác. Bây giờ tôi xin nói về thơ nhập đồng của Hoàng Quang Thuận. Thực sự thì tôi tin là có hiện tượng nhập đồng thơ, dù chưa rõ vì sao có hiện tượng đó. Và tôi cũng tin là thơ của Hoàng Quang Thuận viết ra trong 2 tập thơ này chính là thơ nhập đồng. Nhưng thơ này khác với những bài thơ đánh đề mà tôi được đọc. Giả sử như có những tác giả “cõi trên” thật sự của những bài thơ nhập đồng, thì tác giả những bài thơ do Hoàng Quang Thuận viết ra phải là những bậc tao nhân mặc khách. Họ làm thơ khi đang dạo chơi ngắm nhìn non sông đất nước và thốt ra những lời thơ như thế chứ không phải cắm cúi làm thơ như chúng ta. Ví dụ bài Trường Thành sau đây:
Núi Đắm chạy sang núi Thanh Lâu
Tường đông vững chắc những trụ cầu
Bắc thành vững chãi hình Lân phục
Cát lũy thành cao cạnh hào sâu
Nghìn năm mưa nắng với đất trời
Thành cổ Hoa Lư giữa mây trôi
Vách núi dựng cao trời đất nước
Cờ lau gió thổi mãi không thôi
Hầu như là các vị ấy nói ra bằng ngôn ngữ thơ thôi. Đây là điểm mà chúng ta cần lưu ý, không nên so kè theo luật thơ Đường như ông Trần Trương viết theo suy nghĩ người trần mắt thịt của chúng ta.
Chúng ta hãy đọc một bài khác, bài Lăng mộ Định Tiên Hoàng chẳng hạn.
Vua Đinh nằm trên núi Mã Yên
Thanh Long Bạch Hổ ngự điện tiền
Chu Tước chim bằng bay sóng cả
Huyền vũ Quy nằm giấc mơ tiên
Vua Lê là quân tướng nhà Đinh
Chân núi Mã Yên nặng nghĩa tình
An nghỉ ngàn thu trong cõi mộng
Đại Việt bao giờ hết chiến chinh?
Bạn thấy đó, thật sự là những lời mây bay gió thổi. Thơ, nhưng không phải là thơ. Đó là tiếng thở dài, là lời vọng, là tiếng vi vu của ngàn xưa, là cái gì sâu thẳm ở đâu đó giữa cõi vô cùng. Thơ chỉ là hình thức, cái bên ngoài mà thôi. Còn bên trong là cái gì, chỉ người nào diễm phúc mới thấu thị được.
Chính vì vậy, việc đem thơ này để xoi mói như ông Trương, chê ỏng chê eo là không nên. Rồi thì Hội Nhà Văn Việt Nam đem nó ra hội thảo, phân tích mổ xẻ cũng là không phải. Chúng ta cần xem thơ này là những sản phẩm kỳ ảo, lạ lùng, từ đâu đó giáng xuống cho con người trần Hoàng Quang Thuận để chúng ta đọc. Ta cảm ơn ông Thuận còn ông Thuận cảm ơn đất trời. Non sông Việt chúng ta cũng có diễm phúc gì đây mới tụ được loại thơ tiên này. Dịch tiếng Anh tiếng Tàu để giới thiệu cho nước ngoài đọc thì cũng được, nhưng tham dự giải Nobel thì cần xem lại có nên hay không. Làm hội làm chợ lại càng không nên. Xin tiền xin bạc xin ngân quỹ nhà nước để làm rùm beng cũng không nên nốt. Hãy lặng yên để nghe cha ông vọng trong những lời tiên thơ ấy. Hãy lặng yên để nghe hồn non nước, nghe tiếng của ngàn lau lách trong cõi xưa.
Cuối cùng, tôi xin gửi gắm đôi điều. Ai đó cần cân nhắc để đối xử cho phải với đạo đất trời. Thơ này không phải để cho quý vị đùa chơi đâu! Thơ giáng trần, không đùa được. Bảo trọng! Bảo trọng!
TĐT
Nguyễn Thông: Thơ nhái mà cũng khen nức nở
Tôi tiếp xúc với 2 tập thơ của Hoàng Quang Thuận từ rất lâu, có giới thiệu vài bài trên web binhchonthohay.com. Gần đây tôi có số phone của ông Hoàng Quang Thuận nên gọi trực tiếp cho ông ấy, xin được cung cấp 2 file gốc của 2 tập thơ nhằm mục đích đưa nguyên vẹn lên trang web của tôi cho quý bạn yêu thơ doawnload về đọc. Nhưng ông Thuận có vẻ không mặn mà. Ông bảo tôi gọi cho vị viện phó nào đấy của ông ấy, còn ông thì bận lắm. Thấy người không có lòng nên tôi thôi. Thành ra mục “doawnload tác phẩm” của web tôi không có 2 bản thơ này. Thật tiếc.
Tôi có nhận xét ngắn gọn thế này về thơ do ông Hoàng Quang Thuận viết ra: Hơi thơ lạ, và “lạnh”, có cái gì đó rất “cõi trên”. Tôi từng biết hiện tượng nhập đồng thơ. Ở làng tôi (làng Hà Trung huyện Gio Linh tỉnh Quảng Trị) có khu Lăng Lầu rất linh thiêng. Một số người thường đến đó cầu cơ và xin thơ. Quả thật họ xin được những bài thơ khá lạ, dù có người bình thường không biết thơ phú là gì. Thí dụ vào năm 1990 họ xin được bài thơ đánh số đề như sau:
Năm Canh Ngọ nhiều người muốn lộc.
Ta giúp trần, trần phải giúp ta
Trên trời sao sáng hằng hà
Nghĩ ra mà đánh cả ba con đầu.
Nhưng tôi sẽ viết về những bài thơ đánh đề này trong một dịp khác. Bây giờ tôi xin nói về thơ nhập đồng của Hoàng Quang Thuận. Thực sự thì tôi tin là có hiện tượng nhập đồng thơ, dù chưa rõ vì sao có hiện tượng đó. Và tôi cũng tin là thơ của Hoàng Quang Thuận viết ra trong 2 tập thơ này chính là thơ nhập đồng. Nhưng thơ này khác với những bài thơ đánh đề mà tôi được đọc. Giả sử như có những tác giả “cõi trên” thật sự của những bài thơ nhập đồng, thì tác giả những bài thơ do Hoàng Quang Thuận viết ra phải là những bậc tao nhân mặc khách. Họ làm thơ khi đang dạo chơi ngắm nhìn non sông đất nước và thốt ra những lời thơ như thế chứ không phải cắm cúi làm thơ như chúng ta. Ví dụ bài Trường Thành sau đây:
Núi Đắm chạy sang núi Thanh Lâu
Tường đông vững chắc những trụ cầu
Bắc thành vững chãi hình Lân phục
Cát lũy thành cao cạnh hào sâu
Nghìn năm mưa nắng với đất trời
Thành cổ Hoa Lư giữa mây trôi
Vách núi dựng cao trời đất nước
Cờ lau gió thổi mãi không thôi
Hầu như là các vị ấy nói ra bằng ngôn ngữ thơ thôi. Đây là điểm mà chúng ta cần lưu ý, không nên so kè theo luật thơ Đường như ông Trần Trương viết theo suy nghĩ người trần mắt thịt của chúng ta.
Chúng ta hãy đọc một bài khác, bài Lăng mộ Định Tiên Hoàng chẳng hạn.
Vua Đinh nằm trên núi Mã Yên
Thanh Long Bạch Hổ ngự điện tiền
Chu Tước chim bằng bay sóng cả
Huyền vũ Quy nằm giấc mơ tiên
Vua Lê là quân tướng nhà Đinh
Chân núi Mã Yên nặng nghĩa tình
An nghỉ ngàn thu trong cõi mộng
Đại Việt bao giờ hết chiến chinh?
Bạn thấy đó, thật sự là những lời mây bay gió thổi. Thơ, nhưng không phải là thơ. Đó là tiếng thở dài, là lời vọng, là tiếng vi vu của ngàn xưa, là cái gì sâu thẳm ở đâu đó giữa cõi vô cùng. Thơ chỉ là hình thức, cái bên ngoài mà thôi. Còn bên trong là cái gì, chỉ người nào diễm phúc mới thấu thị được.
Chính vì vậy, việc đem thơ này để xoi mói như ông Trương, chê ỏng chê eo là không nên. Rồi thì Hội Nhà Văn Việt Nam đem nó ra hội thảo, phân tích mổ xẻ cũng là không phải. Chúng ta cần xem thơ này là những sản phẩm kỳ ảo, lạ lùng, từ đâu đó giáng xuống cho con người trần Hoàng Quang Thuận để chúng ta đọc. Ta cảm ơn ông Thuận còn ông Thuận cảm ơn đất trời. Non sông Việt chúng ta cũng có diễm phúc gì đây mới tụ được loại thơ tiên này. Dịch tiếng Anh tiếng Tàu để giới thiệu cho nước ngoài đọc thì cũng được, nhưng tham dự giải Nobel thì cần xem lại có nên hay không. Làm hội làm chợ lại càng không nên. Xin tiền xin bạc xin ngân quỹ nhà nước để làm rùm beng cũng không nên nốt. Hãy lặng yên để nghe cha ông vọng trong những lời tiên thơ ấy. Hãy lặng yên để nghe hồn non nước, nghe tiếng của ngàn lau lách trong cõi xưa.
Cuối cùng, tôi xin gửi gắm đôi điều. Ai đó cần cân nhắc để đối xử cho phải với đạo đất trời. Thơ này không phải để cho quý vị đùa chơi đâu! Thơ giáng trần, không đùa được. Bảo trọng! Bảo trọng!
TĐT
Thơ nhái mà cũng khen nức nở
Nghe anh em kể lại, trong cuộc hội thảo về thơ giáo sư
tiến sĩ Hoàng Quang Thuận do Hội nhà văn VN tổ chức, ông chủ tịch hội Hữu Thỉnh
đã khen nức nở thơ nhập thần của ông Thuận. Ông Thỉnh dẫn ra bài Am
xưa:
Sớm cưỡi mây chơi cùng non biếc
Đêm về bến nghỉ lót trăng nằm
Tiếng sáo thiền ca vui bất tận
Ngập tràn Yên Tử trăng trong trăng
Ông Thỉnh chủ tịch hội vỗ đùi đánh đét mà khen rằng "Đây là bài thơ tiêu biểu cho hai bút pháp thiêng liêng hóa và đời thường hóa, nhân vật trong bài thơ này phải là người tu đắc đạo mới lấy trăng thay cho giường chiếu mà không sợ phàm tục, nhìn thấy trong trăng còn nhiều trăng nữa, tức là qua một vật mà nhìn thấy cái vô biên của vạn giới” (theo báo Thanh Niên).
Ối giời,làm đến chủ tịch hội văn bút cả nước mà cứ khen ào ào lấy được. Xin mách nhỏ ông nhá, thơ nhái đấy. Chả tin thì ông đọc bài Hạnh An Bang phủ của Thượng hoàng thi sĩ Trần Thánh Tông xem:
幸安邦府
朝遊浮雲嶠,
暮宿明月灣。
忽然得佳趣,
萬象生毫端。
(Bản dịch này, hồi tôi còn đi học có nghe thầy Mai Cao Chương đọc, nay không nhớ của ai, nhưng không phải của cụ Phan Võ, bởi bản cụ Phan Võ dịch khác mấy chữ).
Xin hầu cụ Thỉnh ạ. Lần sau có ăn nói gì, cụ nhớ nhìn trước ngó sau nhé.
13.8.2012
Nguyễn Thông
Sớm cưỡi mây chơi cùng non biếc
Đêm về bến nghỉ lót trăng nằm
Tiếng sáo thiền ca vui bất tận
Ngập tràn Yên Tử trăng trong trăng
Ông Thỉnh chủ tịch hội vỗ đùi đánh đét mà khen rằng "Đây là bài thơ tiêu biểu cho hai bút pháp thiêng liêng hóa và đời thường hóa, nhân vật trong bài thơ này phải là người tu đắc đạo mới lấy trăng thay cho giường chiếu mà không sợ phàm tục, nhìn thấy trong trăng còn nhiều trăng nữa, tức là qua một vật mà nhìn thấy cái vô biên của vạn giới” (theo báo Thanh Niên).
Ối giời,làm đến chủ tịch hội văn bút cả nước mà cứ khen ào ào lấy được. Xin mách nhỏ ông nhá, thơ nhái đấy. Chả tin thì ông đọc bài Hạnh An Bang phủ của Thượng hoàng thi sĩ Trần Thánh Tông xem:
幸安邦府
朝遊浮雲嶠,
暮宿明月灣。
忽然得佳趣,
萬象生毫端。
Hạnh An Bang phủ
Triêu du phù vân kiệu,
Mộ túc minh nguyệt loan.
Hốt nhiên đắc giai thú,
Vạn tương sinh hào đoan.
Mộ túc minh nguyệt loan.
Hốt nhiên đắc giai thú,
Vạn tương sinh hào đoan.
Dịch:
Dạo chơi phủ An Bang
Dạo chơi phủ An Bang
Sớm chơi núi mây nổi
Tối ngủ bến trăng thanh
Thình lình thấy cảnh thú
Ngòi bút hiện muôn
hình(Bản dịch này, hồi tôi còn đi học có nghe thầy Mai Cao Chương đọc, nay không nhớ của ai, nhưng không phải của cụ Phan Võ, bởi bản cụ Phan Võ dịch khác mấy chữ).
Xin hầu cụ Thỉnh ạ. Lần sau có ăn nói gì, cụ nhớ nhìn trước ngó sau nhé.
13.8.2012
Nguyễn Thông
Được đăng bởi HUYNH NGOC CHENH vào lúc 17:37
nguồn:http://huynhngocchenh.blogspot.com/2012/08/tho-nhap-ong-khong-nen-ua-cot-hay-tung_12.html
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Phát hiện động trời: GS. TS Hoàng Quang Thuận đạo văn !?
Phát hiện động trời: "Thi Vân Yên tử " của GS. TS Hoàng Quang Thuận bí mật đạo văn từ một cuốn sách !?
Trang 53, cuốn sách viết :
“Cá tôm say nước nhảy lia thia. Trăm hoa khoe sắc bên bờ suối… Mới hay chín suối chỉ chung một dòng… Con suối cắt chia tuyến đường Hạ Kiệu – Nam Mẫu thành chín đoạn”.
Bài “Chín suối chung một dòng” (trang 36), anh Thuận viết :
Trăm hoa khoe sắc bên bờ suối
Cá tôm say nước nhảy lia thia
Mới hay chín suối chung dòng một
Đường đi Nam Mẫu suối cắt lìa.
*
Phát hiện động trời: GS. TS Hoàng Quang Thuận đạo văn !?
Trang 53, cuốn sách viết :
“Cá tôm say nước nhảy lia thia. Trăm hoa khoe sắc bên bờ suối… Mới hay chín suối chỉ chung một dòng… Con suối cắt chia tuyến đường Hạ Kiệu – Nam Mẫu thành chín đoạn”.
Bài “Chín suối chung một dòng” (trang 36), anh Thuận viết :
Trăm hoa khoe sắc bên bờ suối
Cá tôm say nước nhảy lia thia
Mới hay chín suối chung dòng một
Đường đi Nam Mẫu suối cắt lìa.
Tin liên quan: GS.TS Hoàng Quang Thuận và những vần thơ "thiên giáng"
![]() |
| GS.TS Hoàng Quang Thuận |
“THI VÂN
YÊN TỬ” ĐƯỢC SAO CHÉP TỪ ĐÂU?
Tôi quen anh Hoàng Quang Thuận đến hay cũng gần hai mươi năm, đã từng cùng nhau đi chùa dâng hương lễ Phật. Một sự trùng hợp thật ngẫu nhiên, hai cặp vợ chồng chúng tôi đều cùng tuổi Quý Tị và Giáp ngọ. Thời đó, hai gia đình thường gặp nhau. Đã lâu lắm, do bận công việc nên không gặp nhau nữa. Nhưng tôi vẫn nhớ về anh, như một người bạn tâm tình.
Khi anh viết xong và đem in 63 bài thơ trong tập ‘Thi vân Yên tử”, anh có nói chuyện với tôi về căn nguyên ra đời của các bài thơ ấy. Tôi cũng tin như vậy, vì tôi là người tin vào tâm linh, một niềm tin tự nhiên từ máu thịt của mình. Từ niềm tin ấy, tôi đã vô tư quảng bá tập thơ “Thi vân Yên Tử” với sự ra đời đặc biệt của nó với bạn bè. Nhưng hầu như, ai được tôi thông tin cũng chỉ cười mà không nói gì.
Tình cờ, khi lên Yên Tử, tôi vào quầy sách của Ban quản lý, thấy cuốn “CHÙA YÊN TỬ, LỊCH SỬ - TRUYỀN THUYẾT DI TÍCH VÀ DANH THẮNG” của tác giả Trần Trương, Trưởng Ban quản lý Yên Tử (1992-2003), tôi đã đọc ngấu nghiến bởi sự thôi thúc của tâm linh, một niềm tin bất diệt vào sự hiển linh của Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông, Người Anh Hùng dân tộc và Đệ Nhất Tổ Thiền Trúc Lâm Yên Tử.
Đọc xong cuốn sách, tự nhiên tôi có liên tưởng đến 63 bài thơ “Thiền” của anh Hoàng Quang Thuận và thật ngẫu nhiên, tôi phát hiện ra trong hầu hết các bài thơ anh Thuận viết, đều lấy từ nội dung cuốn sách này, thậm chí có nhiều bài thơ, câu thơ còn sao chép nguyên xi câu văn của tác giả Trần Trương. Tôi sững người và liên tưởng tới điều anh Thuận nói về xuất xứ của 63 bài thơ được anh viết trong ba đêm với trạng thái như “nhập đồng”, như có “ai” đó, từ cõi cao xanh thúc giục anh phải viết. Tuy nhiên, vì là bạn bè, nên tôi cũng không nỡ trao đổi với anh, e anh tự ái rồi giận tôi. Vả lại, tôi coi đó là một niềm vui riêng của anh, niềm vui có thể chia sẻ trong phạm vi bạn bè, chẳng ảnh hưởng gì đến nhân tình thế thái. Thế rồi, năm tháng trôi qua, do bận công việc, tôi cũng không còn để ý đến điều đó nữa.
Mấy ngày gần đây, tôi được biết Tạp chí Nhà văn (Hội Nhà văn Việt Nam) đã tổ chức Hội thảo “Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử” đã thu hút rất nhiều người quan tâm đến dự. Có nhiều ý kiến xung quanh hiện tượng này với các lời khen, chê khác nhau. Đặc biệt, tôi được biết anh Hoàng Quang Thuận đã khiêm tốn mà nói rằng : Anh không phải là tác giả của hai tập thơ mà “đó là do tiền nhân mượn bút tôi để viết thơ”. Tôi hiểu rằng, theo anh Thuận, tập thơ THI VÂN YÊN TỬ” gồm 63 bài đó không phải là của anh, mà là của “tiền nhân”. Tôi không dám khẳng định “tiền nhân” theo anh nói, có phải là Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông không? Tôi còn biết người ta đã giúp anh nộp hồ sơ những tập thơ “nhập đồng” của anh để tham gia dự Giải Noben văn chương nữa ! Điều này đã khiến tôi giật mình một lần nữa vì điều tôi cho là bình thường đã vượt qua cái ngưỡng bình thường của nó mất rồi.
Tôi quen anh Hoàng Quang Thuận đến hay cũng gần hai mươi năm, đã từng cùng nhau đi chùa dâng hương lễ Phật. Một sự trùng hợp thật ngẫu nhiên, hai cặp vợ chồng chúng tôi đều cùng tuổi Quý Tị và Giáp ngọ. Thời đó, hai gia đình thường gặp nhau. Đã lâu lắm, do bận công việc nên không gặp nhau nữa. Nhưng tôi vẫn nhớ về anh, như một người bạn tâm tình.
Khi anh viết xong và đem in 63 bài thơ trong tập ‘Thi vân Yên tử”, anh có nói chuyện với tôi về căn nguyên ra đời của các bài thơ ấy. Tôi cũng tin như vậy, vì tôi là người tin vào tâm linh, một niềm tin tự nhiên từ máu thịt của mình. Từ niềm tin ấy, tôi đã vô tư quảng bá tập thơ “Thi vân Yên Tử” với sự ra đời đặc biệt của nó với bạn bè. Nhưng hầu như, ai được tôi thông tin cũng chỉ cười mà không nói gì.
Tình cờ, khi lên Yên Tử, tôi vào quầy sách của Ban quản lý, thấy cuốn “CHÙA YÊN TỬ, LỊCH SỬ - TRUYỀN THUYẾT DI TÍCH VÀ DANH THẮNG” của tác giả Trần Trương, Trưởng Ban quản lý Yên Tử (1992-2003), tôi đã đọc ngấu nghiến bởi sự thôi thúc của tâm linh, một niềm tin bất diệt vào sự hiển linh của Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông, Người Anh Hùng dân tộc và Đệ Nhất Tổ Thiền Trúc Lâm Yên Tử.
Đọc xong cuốn sách, tự nhiên tôi có liên tưởng đến 63 bài thơ “Thiền” của anh Hoàng Quang Thuận và thật ngẫu nhiên, tôi phát hiện ra trong hầu hết các bài thơ anh Thuận viết, đều lấy từ nội dung cuốn sách này, thậm chí có nhiều bài thơ, câu thơ còn sao chép nguyên xi câu văn của tác giả Trần Trương. Tôi sững người và liên tưởng tới điều anh Thuận nói về xuất xứ của 63 bài thơ được anh viết trong ba đêm với trạng thái như “nhập đồng”, như có “ai” đó, từ cõi cao xanh thúc giục anh phải viết. Tuy nhiên, vì là bạn bè, nên tôi cũng không nỡ trao đổi với anh, e anh tự ái rồi giận tôi. Vả lại, tôi coi đó là một niềm vui riêng của anh, niềm vui có thể chia sẻ trong phạm vi bạn bè, chẳng ảnh hưởng gì đến nhân tình thế thái. Thế rồi, năm tháng trôi qua, do bận công việc, tôi cũng không còn để ý đến điều đó nữa.
Mấy ngày gần đây, tôi được biết Tạp chí Nhà văn (Hội Nhà văn Việt Nam) đã tổ chức Hội thảo “Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử” đã thu hút rất nhiều người quan tâm đến dự. Có nhiều ý kiến xung quanh hiện tượng này với các lời khen, chê khác nhau. Đặc biệt, tôi được biết anh Hoàng Quang Thuận đã khiêm tốn mà nói rằng : Anh không phải là tác giả của hai tập thơ mà “đó là do tiền nhân mượn bút tôi để viết thơ”. Tôi hiểu rằng, theo anh Thuận, tập thơ THI VÂN YÊN TỬ” gồm 63 bài đó không phải là của anh, mà là của “tiền nhân”. Tôi không dám khẳng định “tiền nhân” theo anh nói, có phải là Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông không? Tôi còn biết người ta đã giúp anh nộp hồ sơ những tập thơ “nhập đồng” của anh để tham gia dự Giải Noben văn chương nữa ! Điều này đã khiến tôi giật mình một lần nữa vì điều tôi cho là bình thường đã vượt qua cái ngưỡng bình thường của nó mất rồi.
| Bìa tập thơ Thi vân Yên Tử |
Tôi đã bình tâm suy ngẫm mấy ngày nay để tìm cách xử xự thế
nào cho hợp lẽ, hợp tình. Trong tôi, có hai luồng tư tưởng ám ảnh : Một là, về
đời thực, nếu im lặng thì sẽ giữ được tình bạn với Hoàng Quang Thuận; và hai
là, tôi sợ, nếu sự thật như tôi phân tích dưới đây, thì anh Hoàng Quang Thuận
đã có một hành vi mà tự thân anh ấy sẽ phải lãnh theo luật Nhân – Quả của Nhà
Phật. Tôi không dám khẳng định điều gì, nhưng nếu như sự thật là không có
một “tiền nhân” nào mượn bút anh để viết thơ như anh nói, mà chỉ do anh
biên soạn lại thành thơ từ nội dung cuốn sách “ Chùa Yên Tử, Lịch sử - Truyền
thuyết di tích và Danh thắng”, thì Nam-Mô-A-Di-Dà-Phật, anh Thuận đã tạo
một NGHIỆP rất nặng nề, cần phải hồi tâm mới mong có thể chuyển được.
Tôi lục trong tủ sách gia đình để tìm cuốn sách “Chùa Yên tử, Lịch sử - Truyền thuyết di tích và Danh thắng” xuất bản lần đầu tiên, từ trước khi Anh Hoàng Quang Thuận viết 63 bài thơ gọi là “Thiền”. Thật tiếc, cuốn sách ấy đã bị thất lạc, chỉ còn cuốn được tái bản lần thứ tư do Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, xuất bản vào Quý 2/2005. Tôi đành phải sử dụng cuốn này vậy. Cuốn sách của Trần Trương gồm có Lời nói đầu và ba chương. Chương 1 : Đường về Cõi Phật. Chương 2: Bầu trời cảnh Bụt; và Chương 3 : Ông Vua hóa Phật. Toàn bộ cuốn sách gồm có 21 bài viết giới thiệu, miêu tả về các sự kiện lịch sử, những địa danh, cảnh vật, chùa chiền trong hệ thống Danh sơn Yên Tử để giúp người hành hương tìm hiểu nơi mình đến dâng hương lễ Phật.
Tôi lục trong tủ sách gia đình để tìm cuốn sách “Chùa Yên tử, Lịch sử - Truyền thuyết di tích và Danh thắng” xuất bản lần đầu tiên, từ trước khi Anh Hoàng Quang Thuận viết 63 bài thơ gọi là “Thiền”. Thật tiếc, cuốn sách ấy đã bị thất lạc, chỉ còn cuốn được tái bản lần thứ tư do Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, xuất bản vào Quý 2/2005. Tôi đành phải sử dụng cuốn này vậy. Cuốn sách của Trần Trương gồm có Lời nói đầu và ba chương. Chương 1 : Đường về Cõi Phật. Chương 2: Bầu trời cảnh Bụt; và Chương 3 : Ông Vua hóa Phật. Toàn bộ cuốn sách gồm có 21 bài viết giới thiệu, miêu tả về các sự kiện lịch sử, những địa danh, cảnh vật, chùa chiền trong hệ thống Danh sơn Yên Tử để giúp người hành hương tìm hiểu nơi mình đến dâng hương lễ Phật.
Với tấm lòng chân thành đó, tôi quyết định viết bài này để
hầu mong góp phần làm sáng tỏ sự thật về tập thơ “nhập đồng” của anh. Nếu
anh Thuận đọc mà buồn hoặc giận dữ thì tôi thành tâm tạ lỗi. Nhưng dù thế nào,
tôi cũng mong anh đọc và suy nghĩ để cảm nhận được động cơ, mục đích viết bài
của tôi, chỉ mong anh hiểu rằng, tôi viết với một cái tâm trong sáng, cái TÂM
của một NGƯỜI THEO ĐẠO PHẬT, để giúp anh.
Tôi dùng phương pháp so sánh để chứng minh suy nghĩ của tôi, rằng : những bài thơ của anh Hoàng Quang Thuận có xuất xứ từ cuốn sách nói trên của tác giả Trần Trương, chứ không phải là thơ “nhập đồng”. Tôi chỉ chọn một số bài trong tập thơ để so sánh và xin dẫn chiếu đến người đọc, nếu ai quan tâm thì tìm cuốn sách đó để so sánh các bài khác cho đầy đủ. Cách so sánh của tôi là : Nêu những đoạn văn trong cuốn sách của tác giả Trần Trương, sau đó là bài thơ của anh Hoàng Quang Thuận trong tập “Thi vân Yên Tử” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn, xuất bản tháng 3/1998 để người đọc cùng suy ngẫm.
1. Trang 20-21 cuốn sách của Trần Trương (sau đây gọi tắt là cuốn sách) viết :
“ Hồ Yên Trung nằm ở ngang lưng núi. Hồ rộng hàng ngàn mẫu, nằm lọt giữa bốn bề núi biếc. Nước từ khe suối đổ về. Đôi gò bồng đảo bập bềnh trên sóng nước giữa hồ. Bồng đảo phủ đầy thông… Thỉnh thoảng, một vài chú cá to phởn chí, tung mình lên cao rồi rơi xuống, tạo thành quần sóng lan xa, lan xa mãi.
Ở một góc hồ, thấp thoáng trong khe núi, bầy le le, vịt trời vui đùa nhau, tung cánh… Những đêm trăng sáng, lòng hồ đầy ánh trăng. Bốn bề im ắng, chỉ nghe tiếng chim gù trên núi. Thực là một bức tranh sơn thủy hữu tình… Hồ Yên Trung – Nàng Công Chúa Ngủ Quên nay đã thức… Tạo hóa khéo bày tuyệt tác của thiên thiên. Được kết tụ bởi mây trời non nước thanh hương sắc con người. Nàng vô tư không một chút ưu phiền”.
Trong bài thơ “Hồ Yên Trung” (trang 15), anh Thuận viết :
Yên Trung vắt vẻo ngang lưng núi
Bốn bề mây biếc sóng lô xô
Đôi bồng đảo bập bềnh trên sóng
Cả rừng thông xao động mặt hồ”.
Tạo hóa bày tuyệt tác thiên nhiên
Kết tụ bởi mây trời non nước
Nàng vô tư không chút ưu phiền
Ngắm sao trời đầu gối Hoa Yên.
- Trong bài “Đêm hồ Yên Tử” (trang 17), anh Thuận viết :
Cát vàng thoai thoải sóng lao xao
Cá to phởn chí nhảy lên cao
Le le xanh biếc đùa tung cánh
Chim gù trên núi cảnh tiêu dao
Sơn thủy hữu tình động tiên đào
Lạc đường Lưu – Nguyễn đếm trời sao
Lòng hồ đầy ắp đêm trăng sáng
Vua Trần thưởng nguyệt, nhớ năm nào.
2. Trang 24, cuốn sách viết :
“ Đến hẻm núi kia có ba tên cướp nhảy ra chặn đường, vua Trần khoan thai ra hiệu cho Bảo Sái cho chúng vài lạng bạc, cả suất cơm chay để độ đường. Đoạn ngồi trên mình ngựa, Ngài thuyết giáo, thức tỉnh từ tâm, đoạn trừ tam độc trong lòng chúng…
… Cả ba quỳ sụp xuống lạy tạ và hứa rằng “ sẽ trở về lương thiện làm ăn”. Kể từ ngày đó, chúng bỏ nghề đao búa, chăm chỉ nghề nông, siêng làm công đức xây dựng chùa miếu, trở thành các tín đồ ngoan đạo của Trúc Lâm. Và từ độ ấy, nạn cướp nơi đây được tiệt trừ. Con đường dốc gập ghềnh nơi hẻm núi, kẻ lại người qua được bình an”.
Trong bài “Kẻ cướp chắn đường” (trang 19), anh Thuận viết :
Ba tên kẻ cướp nhảy chắn đường
Vua Trần cho bạc lẫn phần cơm
Nhẹ nhàng thuyết giáo trừ tâm độc
Cả ba quỳ lạy hứa hoàn lương
Bỏ nghề đao búa thiện giáo đường
Sơn lâm từ ấy hết tai ương
Gập gềnh hẻm núi người qua lại
Bình an vô sự hết đạo cường”.
3. Trang 29, cuốn sách viết :
“ Trưa hè oi ả. Tiếng suối mùa mưa reo réo rắt hòa với tiếng chim rừng ca lảnh lót. Hoa rừng muôn sắc tỏa hương theo gió thơm ngào ngạt. Bụi đường trường quyện lẫn mồ hôi khiến cả hai bức bối. Vua Trần đóng khố, nhoài mình nơi dòng nước trong xanh. Dòng suối cuốn trôi bụi trần ra sông biển. Kể từ dịp ấy, suối được đặt tên : Suối Vua Tắm”.
Trong bài “Suối Tắm” (trang 20), anh Thuận viết :
Trưa hè oi ả tiếng suối reo
Chim ca lảnh lót giữa lưng đèo
Hoa rừng hương sắc hương theo gió
Đàn cá xuôi dòng nước trong veo”.
4.Trang 34, cuốn sách viết :
“ Phía bên kia cầu là cổng tam quan, dáng vẻ cổ kính, đắp nổi đôi câu đổi viết theo chữ thảo “Cổ tự lưu danh Linh Nhâm Tự”… Xung quanh chùa xum xuê cây trái. Quả trứng gà sai chíu chít vàng ươm. Quả hồng đỏ thắm như hàng trăm chiếc đèn lồng treo lơ lửng. Quả mận tím trĩu cành lúc lỉu… Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Linh Nhâm là tên của một vị Thiền sư đã được Tổ Trúc Lâm giao xây dựng ngôi chùa và nhiều năm trụ trì ở chùa này. Tên của Thiền sư được đặt tên cho chùa…”.
Trong bài “Chùa Cầm Thực” (trang 26), anh Thuận viết :
Tam quan đắp nổi Linh Nham Tự
Thiền sư có phải đặt tên thầy
Mận chín trĩu cành lúc lỉu quả
Trứng gà chiu chít cả trong mây
Linh Nham đâu khác nơi tiên cảnh
Hồng đỏ như trăm đèn lồng cầy…
5. Trang 40, cuốn sách viết :
“ Thưở xưa, cánh đồng Nam Mẫu nước ngập trắng. Từ dốc Quàng Hái, muốn vào Yên Tử, phải đi bè mà vào. Hay tin Vua Trần vào Yên Tử, các cung tần mĩ nữ của triều đình đã tìm về, gặp Vua ở tại con dốc này. Họ than khóc thảm thiết, xin Vua quay trở lại triều đình… Vua cho lập đàn tràng cầu Phật Tổ Như Lai. Vài ngày sau, nước ở hồ Nam Mẫu rút hết. Lòng hồ phơi ra, khá bằng phẳng. Đất nơi đáy hồ thật màu mỡ. Dân bản ùa ra bắt tôm, cá, khai khẩn bãi hoang, thành ruộng vườn. Cánh đồng Nam Mẫu được khai sinh”.
Trong bài “Làng Cung Nữ” (trang 28), anh Thuận viết :
Làng Mụ, Làng Nương đường Nam Mẫu
Xưa kia nước ngập trắng lòng hồ
Vua Trần thương xót đoàn cung nữ
Lòng trung không trở lại kinh đô
Vua lập đàn cầu Phật Như Lai
Nước hồ rút hết ruộng đất dài
Đáy hồ mầu mỡ - tôm cùng cá
Làng Mụ, làng Nương được sinh khai.
6. Trang 53, cuốn sách viết :
“Cá tôm say nước nhảy lia thia. Trăm hoa khoe sắc bên bờ suối… Mới hay chín suối chỉ chung một dòng… Con suối cắt chia tuyến đường Hạ Kiệu – Nam Mẫu thành chín đoạn”.
6. Bài “Chín suối chung một dòng” (trang 36), anh Thuận viết :
Trăm hoa khoe sắc bên bờ suối
Cá tôm say nước nhảy lia thia
Mới hay chín suối chung dòng một
Đường đi Nam Mẫu suối cắt lìa.
7. Trang 79-80-82, cuốn sách viết :
“ Hãy vào Lăng Quy Đức. Lăng quây bốn mặt thành vuông vức, bao quanh ngôi tháp cổ… Mái tường lăng lợp bằng ngói mũi hài, đổ về hai phía, dáng cong theo dáng mái chùa…Mặt ngoài các tảng đá chạm nổi hoa văn sóng nước hình quả núi, đường nét cách điệu uốn lượn rất tinh tế…Bệ tháp tạo nên bởi hàng chục phiến đá xanh ghép lại…Tầng đầu mở hướng chính nam, bên trong thờ tượng Trần Nhân Tông ngồi thiền ở thế liên hoa, vẻ mặt dung dị, cảm thông, thanh cao và trí huệ… Thi thoảng vẫn thấy xuất hiện cặp rắn đen nằm chầu bên tượng Tổ trong tháp. Trông thấy bóng người, rắn thu mình ẩn núp vào trong… Bốn cây đại cổ, thân dáng hình rồng đứng nép sau tường Lăng Quy Đức, lá rủ vào sân lăng. Cành đại trổ đầy hoa. Hương hoa thơm ngào ngạt. Cánh hoa rắc vàng sân mộ Tổ”.
Trong bài “Lăng Quy Đức (trang 43), anh Thuận viết :
Lăng quây vuông vức bốn mặt thành
Ngói hài hai phía dáng thanh thanh
Mặt ngoài đá chạm hoa văn sóng
Bệ tháp nằm trên phiến đá xanh
Tầng đầu mở cửa hướng chánh nam
Vua Trần nhập diệt cõi Niết Bàn
Rắn đen một cặp chầu bên tượng
Nền Lăng xưa chính Ngọa Vân am.
Hai cây đại cổ dáng hình rồng
Đứng nép bên tường đã trổ bông
Hương hoa thơm nát vườn mộ Tổ
Ngày xưa Tam tổ đã vun trồng
8. Trang 84, cuốn sách viết :
“ Những đêm trăng sáng, bên tháp ngắm trăng thật thú vị. Trăng treo trên cành Tùng. Trăng rắc vàng trên cánh hoa Đại sực nức hương và đính hạt sương đêm. Trăng gắn váo đỉnh Tháp . Mỗi bước trăng trôi, cảnh vật nơi đây lung linh huyền ảo”.
Bài “Trăng Yên Tử (trang 46), anh Thuận viết :
Trăng treo lơ lửng trên cành Tùng
Trăng rắc vàng lên cánh hoa nhung
Sương đêm sực nức mùi hoa đại
Mỗi bước trăng trôi giữa núi rừng
Lung linh huyền ảo ánh trăng rơi
Tiếng hạc trong đêm tận cõi trời…
9. Trang 98, cuốn sách viết :
“Trong ngách hang, có một núm đá, nước nhỏ tí tách từng giọt một, cả đêm chưa đầy một bát con. Nhà sư gọi đó là sữa mẹ. Một điều kì lạ : Khi bát nước đầy, từ núm không nhỏ thêm giọt nào nữa. Nền chùa sạch khô không giọt nước thừa tràn”.
Trong bài “Sữa mẹ” (trang 52), anh Thuận viết :
Ngách hang núi đá núm vú con
Sữa mẹ linh thiêng nhỏ giọt tràn
Nhỏ dần từng giọt đêm đầy bát
Nước đầy chỉ một bát con con.
10. Trang 103, cuốn sách viết :
“ Bóng Tùng thấp thoáng bên ô cửa. ngày nay, các “ông” Rồng xanh thi thoảng lại xuất hiện… Những lúc trở trời, các “ông” bò ra nằm la liệt… Một con rắn lớn từ xà ngang buông mình xuống ban thờ, náu mình vào Tượng Phật nhìn ra”.
Trong bài “Rắn xanh Yên Tử” (trang 31), anh Thuận viết :
Bóng Tùng thấp thoáng bên ô cửa
Rồng xanh thi thoảng nghỉ trên bàn
Mấy ông rắn lớn nằm trên mái
Náu mình tượng Phật ngắm giang san.
11. Trang 108, cuốn sách viết :
“Quanh am là rừng trúc bạt ngàn. Trúc chen nhau mọc dưới tán lá của rừng cây cổ thụ. Trúc lách qua kẽ đá nền am, vươn lên những đọt măng mập mạp. Đây là phế tích Am Thiền Định. Xưa chưa dựng chùa, các nhà sư tu hành nơi am cỏ, hòa mình với chim muông, với thiên nhiên hoang dã”.
Trong bài “Am xưa” (trang 58), anh Thuận viết :
Trúc lách qua kẽ đá nền am
Đọt măng mập mạp giữa đá vàng
Bạt ngàn trúc biếc chen hoa nở
Gió thổi lau thưa vọng tiếng đàn.
12. Trang 110, cuốn sách viết :
“Thác vàng còn lớn gấp bội phần. Vách đá cao dốc đứng. Nước từ đỉnh dốc tuôn trắng xóa, khác nào dải lụa khổng lồ. Ngọn nước như từ trời đổ xuống. Cây rừng khép tán, đứng dưới chân thác ngước nhìn lên, ta chỉ thấy mảnh trời trên ngọn tháp. Nhà văn Vũ Khai đặt tên cho thác là “Thiên Thủy” (nước trời). Với Thác Vàng, nước không hề khô cạn”.
Trong bài “Thác Vàng” (trang 54), anh Thuận viết :
Ngọn nước như từ trời đổ xuống
Cây rừng khép tán nép bên khe
Mảnh trời ngọn tháp thiên thu thủy
Đâu biết nơi đây có nắng hè.
13. Trang 111, cuốn sách viết :
“ Rừng ở đây nguyên sơ và tuyệt đẹp. Cây cổ thụ vươn cao, xòe tán rộng. Rừng già âmn u. Ánh nắng mặt trời không lọt rơi xuống đất…Dây leo chằng chịt, vắt từ cây này sang cây kia. Một thế giới chim muông, hoa lá dần hiện ra…. Cành khô kêu răng rắc dưới chân. Hương cây, lá mục nồng ngai ngái. Trên đường, từng đoạn lại thấy cây Tùng cổ, như thể người xưa đánh dấu đường”.
Trong bài “Đường rừng” (trang 22), anh Thuận viết :
“ Cổ thụ vươn cao xòe tán rộng
Rừng già nắng lọt đốm hoa rơi
Dây leo chằng chịt vắt cành lá
Chim rừng líu lót với hương trời.
Cây khô răng rắc dưới chân đi
Lá mục nồng ngai hoa từ bi
Trên đường lác đác cây tùng cổ
Thợ trời khéo đặt cảnh thiên trì.
14. Trang 126, cuốn sách viết :
“ Gọi là chùa Vân Tiêu, bởi chùa tọa lạc trên triền núi phía Tây dãy Yên Tử. Dãy núi như trường thành chắn ngang luồng gió biển thổi vào. Hơi nước tới đây, ngưng đọng lại thành mây. Mây, gió bị chắn ở sườn Nam, được thoát ra nơi triền núi phía Tây. Mây trôi lờ lững trên triền non Yên Tử, tới đây lập tức bị tiêu tan. Nên dù ở gần đỉnh núi, chùa Vân Tiêu ít khi bị mây mù che phủ, khác hẳn chùa Bảo Sái ở cùng một độ cao. Ở nơi mây cứ đến là tan, nên chùa mang tên là Vân Tiêu… Phía trước cửa chùa là vườn tháp chín tầng, giống như Hòn Ngọc… Cả khối nặng tòa tháp đè lên lưng của một ông rùa đá to lớn…”.
Trong bài Chùa Vân Tiêu (trang 50), anh Thuận viết :
Vân Tiêu quay hướng phía Tây phương
Dãy núi Yên Tử án thành đường
Mây trôi lờ lững trên Yên Tử
Tùng xanh lãng đãng bóng trong sương
Mây đến Vân Tiêu mây tự tan
Chín tầng chùa tháp giữa non ngàn
Im lìm trên một ông rùa đá
Hoa cười rung cánh khóm địa lan.
15. Trang 135, cuốn sách viết :
“ Chóp núi cách tượng An Kỳ Sinh 721 mét, ban đầu, đường đi trên núi khá bằng phẳng, qua một vạt rừng cây lúp xúp, một vạt rừng cây cảnh tự nhiên, chỉ cao hơn đầu người một chút, gốc rễ còi cọc, cong queo và mốc thếch, tô điểm những đóa hoa trà mi, hoa trứng gà, hoa mai…muôn hồng nghìn tía… Chếch về phía phải, có một vạt cây rừng sú, vẹt. Thật kỳ lạ : Sú vẹt ở bờ sông lại ngự trên đỉnh núi (!). Những chú ốc sên, những chú còng… ẩn mình trong kẽ đá suốt mùa đông, chỉ đợi xuân sang là xuất hiện. chúng biến nơi đây thành vương quốc riêng, xa cách cõi trần nơi bờ sông bãi sú.
Qua khỏi vạt cây là bãi đá. Dọc sống núi cơ man nào là đá. Những phiến đá nhỏ, to, cao, thấp thiên hình vạn trạng. Đá xếp thành bậc thang nâng bước chân du khách. Có những phiến đá giống như bầy cá Sấu nằm trườn ườn phơi nắng, xen lẫn với cá voi, éch ộp, thờn bơn…Dưới chân chùa Đồng, ngổn ngang xếp những tảng đá lớn vuông vức như quân cờ. Lưng đá hằn sâu ngấn sóng nước. Những vỏ sò, vỏ ốc hóa thạch còn lưu trong kẽ đá. Đã một thời, đỉnh ngọn Yên Sơn là bờ biển. Trải qua kỳ kiến tạo vỏ trái đất cách đây hàng triệu năm, bờ bể lại trở thành chóp núi. Và đỉnh Yên Sơn đã trở thành một bảo tàng tự nhiên lưu dấu tích sự đồi thay dâu bể thời Hồng hoang”.
Trong bài “Đỉnh non thiêng” (trang 70), anh Thuận viết :
Yên Sơn tô điểm đóa trà mi
Sú vẹt non cao thật dị kỳ
Ốc, còng, sên nhỏ nằm trong đá
Quốc vương xa lánh cõi trần bi
Bậc đá làm thang giỏi thợ trời
Đá hình cá sấu nằm chơi vơi
Cá voi, éch ộp, thờn bơn dẹt
Biển cả - đại dương giữa lưng trời
Có lẽ ngày xưa thưở hồng hoang
Yên Sơn bể biếc của kim hoàng
Trải bao biến địa sông thành núi
Đỉnh Yên nay thành một bảo tàng
16. Trang 143 - 144, cuốn sách viết :
“Trên non Yên Tử, vào ngày trời quang, phóng tầm mắt tới chân trời xa tắp : Một vùng đồi núi nhấp nhô như sóng, lúp xúp dưới chân ta. Thị xã Uông Bí, mỏ than Vàng Danh, vùng Tràng Lương Đông Triều và Hà Bắc hiện ra như bức tranh thủy mạc. Xa xa, Vịnh Hạ Long xanh xanh mờ vệt đảo. Mặt Vịnh lung linh dưới ánh mặt trời. Dòng sông Bạch Đằng in bóng núi Tràng Kênh…Gió lùa vào kẽ đá, phát ra muôn tiếng nhạc bổng trầm. Giữa khung cảnh đất trời kỳ vĩ và ngoạn mục, du khách xốn xang đến khó tả. Tâm hồn nhẹ nhỏm và thanh thoát. Bao nỗi ưu phiền trần tục được tiêu tan. Cảm giác kỳ diệu ấy, chỉ khi lên chùa Đồng mới có”.
Trong bài “Trời quang Yên Tử” (trang 71), anh Thuận viết :
Trên non Yên Tử ngày trời quang
Bức tranh thủy mặc dưới nắng vàng
Nhấp nhô như sóng triền đồi núi
Xa xa một dãy Bạch Đằng Giang
Trời đất kỳ vĩ lòng xôn xang
Gió reo thánh thót những cung đàn
Chùa Đồng Yên Tử trời đất Phật
Ưu phiền trần tục thảy tiêu tan.
…
Tôi chỉ xin trích dẫn để so sánh một số bài như trên, còn nhiều bài thơ khác cũng có nội dung tương tự với các bài trong cuốn sách của Trần Trương. Trong số 63 bài, tôi kiểm lại thì thấy có một số bài không có liên quan gì tới cuốn sách. Cụ thể là các bài : Xúc cảm non thiêng; Cô chú thăm Yên Tử; Vân du Yên Tử; Nghỉ lại chùa Yên; Kim xà; Ân hận; Tặng sư thầy, là do anh Thuận cảm tác mà viết ra.
Từ những so sánh trên, tôi có thể suy luận rằng : Tập thơ “Thi Vân Yên Tử” của anh Hoàng Quang Thuận không phải là thơ “nhập đồng”, cũng không phải là “thơ Thiền” mà có xuất xứ từ cuốn sách của tác giả Trần Trương. Vì những bài thơ ấy thuần túy chỉ là tả cảnh vật qua con mắt của người phàm trần. Nếu thơ “nhập đồng” sẽ có giọng thơ khác, thâm linh, huyền bí và mang hồn cách của “người nhập”.
Tôi dùng phương pháp so sánh để chứng minh suy nghĩ của tôi, rằng : những bài thơ của anh Hoàng Quang Thuận có xuất xứ từ cuốn sách nói trên của tác giả Trần Trương, chứ không phải là thơ “nhập đồng”. Tôi chỉ chọn một số bài trong tập thơ để so sánh và xin dẫn chiếu đến người đọc, nếu ai quan tâm thì tìm cuốn sách đó để so sánh các bài khác cho đầy đủ. Cách so sánh của tôi là : Nêu những đoạn văn trong cuốn sách của tác giả Trần Trương, sau đó là bài thơ của anh Hoàng Quang Thuận trong tập “Thi vân Yên Tử” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn, xuất bản tháng 3/1998 để người đọc cùng suy ngẫm.
1. Trang 20-21 cuốn sách của Trần Trương (sau đây gọi tắt là cuốn sách) viết :
“ Hồ Yên Trung nằm ở ngang lưng núi. Hồ rộng hàng ngàn mẫu, nằm lọt giữa bốn bề núi biếc. Nước từ khe suối đổ về. Đôi gò bồng đảo bập bềnh trên sóng nước giữa hồ. Bồng đảo phủ đầy thông… Thỉnh thoảng, một vài chú cá to phởn chí, tung mình lên cao rồi rơi xuống, tạo thành quần sóng lan xa, lan xa mãi.
Ở một góc hồ, thấp thoáng trong khe núi, bầy le le, vịt trời vui đùa nhau, tung cánh… Những đêm trăng sáng, lòng hồ đầy ánh trăng. Bốn bề im ắng, chỉ nghe tiếng chim gù trên núi. Thực là một bức tranh sơn thủy hữu tình… Hồ Yên Trung – Nàng Công Chúa Ngủ Quên nay đã thức… Tạo hóa khéo bày tuyệt tác của thiên thiên. Được kết tụ bởi mây trời non nước thanh hương sắc con người. Nàng vô tư không một chút ưu phiền”.
Trong bài thơ “Hồ Yên Trung” (trang 15), anh Thuận viết :
Yên Trung vắt vẻo ngang lưng núi
Bốn bề mây biếc sóng lô xô
Đôi bồng đảo bập bềnh trên sóng
Cả rừng thông xao động mặt hồ”.
Tạo hóa bày tuyệt tác thiên nhiên
Kết tụ bởi mây trời non nước
Nàng vô tư không chút ưu phiền
Ngắm sao trời đầu gối Hoa Yên.
- Trong bài “Đêm hồ Yên Tử” (trang 17), anh Thuận viết :
Cát vàng thoai thoải sóng lao xao
Cá to phởn chí nhảy lên cao
Le le xanh biếc đùa tung cánh
Chim gù trên núi cảnh tiêu dao
Sơn thủy hữu tình động tiên đào
Lạc đường Lưu – Nguyễn đếm trời sao
Lòng hồ đầy ắp đêm trăng sáng
Vua Trần thưởng nguyệt, nhớ năm nào.
2. Trang 24, cuốn sách viết :
“ Đến hẻm núi kia có ba tên cướp nhảy ra chặn đường, vua Trần khoan thai ra hiệu cho Bảo Sái cho chúng vài lạng bạc, cả suất cơm chay để độ đường. Đoạn ngồi trên mình ngựa, Ngài thuyết giáo, thức tỉnh từ tâm, đoạn trừ tam độc trong lòng chúng…
… Cả ba quỳ sụp xuống lạy tạ và hứa rằng “ sẽ trở về lương thiện làm ăn”. Kể từ ngày đó, chúng bỏ nghề đao búa, chăm chỉ nghề nông, siêng làm công đức xây dựng chùa miếu, trở thành các tín đồ ngoan đạo của Trúc Lâm. Và từ độ ấy, nạn cướp nơi đây được tiệt trừ. Con đường dốc gập ghềnh nơi hẻm núi, kẻ lại người qua được bình an”.
Trong bài “Kẻ cướp chắn đường” (trang 19), anh Thuận viết :
Ba tên kẻ cướp nhảy chắn đường
Vua Trần cho bạc lẫn phần cơm
Nhẹ nhàng thuyết giáo trừ tâm độc
Cả ba quỳ lạy hứa hoàn lương
Bỏ nghề đao búa thiện giáo đường
Sơn lâm từ ấy hết tai ương
Gập gềnh hẻm núi người qua lại
Bình an vô sự hết đạo cường”.
3. Trang 29, cuốn sách viết :
“ Trưa hè oi ả. Tiếng suối mùa mưa reo réo rắt hòa với tiếng chim rừng ca lảnh lót. Hoa rừng muôn sắc tỏa hương theo gió thơm ngào ngạt. Bụi đường trường quyện lẫn mồ hôi khiến cả hai bức bối. Vua Trần đóng khố, nhoài mình nơi dòng nước trong xanh. Dòng suối cuốn trôi bụi trần ra sông biển. Kể từ dịp ấy, suối được đặt tên : Suối Vua Tắm”.
Trong bài “Suối Tắm” (trang 20), anh Thuận viết :
Trưa hè oi ả tiếng suối reo
Chim ca lảnh lót giữa lưng đèo
Hoa rừng hương sắc hương theo gió
Đàn cá xuôi dòng nước trong veo”.
4.Trang 34, cuốn sách viết :
“ Phía bên kia cầu là cổng tam quan, dáng vẻ cổ kính, đắp nổi đôi câu đổi viết theo chữ thảo “Cổ tự lưu danh Linh Nhâm Tự”… Xung quanh chùa xum xuê cây trái. Quả trứng gà sai chíu chít vàng ươm. Quả hồng đỏ thắm như hàng trăm chiếc đèn lồng treo lơ lửng. Quả mận tím trĩu cành lúc lỉu… Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Linh Nhâm là tên của một vị Thiền sư đã được Tổ Trúc Lâm giao xây dựng ngôi chùa và nhiều năm trụ trì ở chùa này. Tên của Thiền sư được đặt tên cho chùa…”.
Trong bài “Chùa Cầm Thực” (trang 26), anh Thuận viết :
Tam quan đắp nổi Linh Nham Tự
Thiền sư có phải đặt tên thầy
Mận chín trĩu cành lúc lỉu quả
Trứng gà chiu chít cả trong mây
Linh Nham đâu khác nơi tiên cảnh
Hồng đỏ như trăm đèn lồng cầy…
5. Trang 40, cuốn sách viết :
“ Thưở xưa, cánh đồng Nam Mẫu nước ngập trắng. Từ dốc Quàng Hái, muốn vào Yên Tử, phải đi bè mà vào. Hay tin Vua Trần vào Yên Tử, các cung tần mĩ nữ của triều đình đã tìm về, gặp Vua ở tại con dốc này. Họ than khóc thảm thiết, xin Vua quay trở lại triều đình… Vua cho lập đàn tràng cầu Phật Tổ Như Lai. Vài ngày sau, nước ở hồ Nam Mẫu rút hết. Lòng hồ phơi ra, khá bằng phẳng. Đất nơi đáy hồ thật màu mỡ. Dân bản ùa ra bắt tôm, cá, khai khẩn bãi hoang, thành ruộng vườn. Cánh đồng Nam Mẫu được khai sinh”.
Trong bài “Làng Cung Nữ” (trang 28), anh Thuận viết :
Làng Mụ, Làng Nương đường Nam Mẫu
Xưa kia nước ngập trắng lòng hồ
Vua Trần thương xót đoàn cung nữ
Lòng trung không trở lại kinh đô
Vua lập đàn cầu Phật Như Lai
Nước hồ rút hết ruộng đất dài
Đáy hồ mầu mỡ - tôm cùng cá
Làng Mụ, làng Nương được sinh khai.
6. Trang 53, cuốn sách viết :
“Cá tôm say nước nhảy lia thia. Trăm hoa khoe sắc bên bờ suối… Mới hay chín suối chỉ chung một dòng… Con suối cắt chia tuyến đường Hạ Kiệu – Nam Mẫu thành chín đoạn”.
6. Bài “Chín suối chung một dòng” (trang 36), anh Thuận viết :
Trăm hoa khoe sắc bên bờ suối
Cá tôm say nước nhảy lia thia
Mới hay chín suối chung dòng một
Đường đi Nam Mẫu suối cắt lìa.
7. Trang 79-80-82, cuốn sách viết :
“ Hãy vào Lăng Quy Đức. Lăng quây bốn mặt thành vuông vức, bao quanh ngôi tháp cổ… Mái tường lăng lợp bằng ngói mũi hài, đổ về hai phía, dáng cong theo dáng mái chùa…Mặt ngoài các tảng đá chạm nổi hoa văn sóng nước hình quả núi, đường nét cách điệu uốn lượn rất tinh tế…Bệ tháp tạo nên bởi hàng chục phiến đá xanh ghép lại…Tầng đầu mở hướng chính nam, bên trong thờ tượng Trần Nhân Tông ngồi thiền ở thế liên hoa, vẻ mặt dung dị, cảm thông, thanh cao và trí huệ… Thi thoảng vẫn thấy xuất hiện cặp rắn đen nằm chầu bên tượng Tổ trong tháp. Trông thấy bóng người, rắn thu mình ẩn núp vào trong… Bốn cây đại cổ, thân dáng hình rồng đứng nép sau tường Lăng Quy Đức, lá rủ vào sân lăng. Cành đại trổ đầy hoa. Hương hoa thơm ngào ngạt. Cánh hoa rắc vàng sân mộ Tổ”.
Trong bài “Lăng Quy Đức (trang 43), anh Thuận viết :
Lăng quây vuông vức bốn mặt thành
Ngói hài hai phía dáng thanh thanh
Mặt ngoài đá chạm hoa văn sóng
Bệ tháp nằm trên phiến đá xanh
Tầng đầu mở cửa hướng chánh nam
Vua Trần nhập diệt cõi Niết Bàn
Rắn đen một cặp chầu bên tượng
Nền Lăng xưa chính Ngọa Vân am.
Hai cây đại cổ dáng hình rồng
Đứng nép bên tường đã trổ bông
Hương hoa thơm nát vườn mộ Tổ
Ngày xưa Tam tổ đã vun trồng
8. Trang 84, cuốn sách viết :
“ Những đêm trăng sáng, bên tháp ngắm trăng thật thú vị. Trăng treo trên cành Tùng. Trăng rắc vàng trên cánh hoa Đại sực nức hương và đính hạt sương đêm. Trăng gắn váo đỉnh Tháp . Mỗi bước trăng trôi, cảnh vật nơi đây lung linh huyền ảo”.
Bài “Trăng Yên Tử (trang 46), anh Thuận viết :
Trăng treo lơ lửng trên cành Tùng
Trăng rắc vàng lên cánh hoa nhung
Sương đêm sực nức mùi hoa đại
Mỗi bước trăng trôi giữa núi rừng
Lung linh huyền ảo ánh trăng rơi
Tiếng hạc trong đêm tận cõi trời…
9. Trang 98, cuốn sách viết :
“Trong ngách hang, có một núm đá, nước nhỏ tí tách từng giọt một, cả đêm chưa đầy một bát con. Nhà sư gọi đó là sữa mẹ. Một điều kì lạ : Khi bát nước đầy, từ núm không nhỏ thêm giọt nào nữa. Nền chùa sạch khô không giọt nước thừa tràn”.
Trong bài “Sữa mẹ” (trang 52), anh Thuận viết :
Ngách hang núi đá núm vú con
Sữa mẹ linh thiêng nhỏ giọt tràn
Nhỏ dần từng giọt đêm đầy bát
Nước đầy chỉ một bát con con.
10. Trang 103, cuốn sách viết :
“ Bóng Tùng thấp thoáng bên ô cửa. ngày nay, các “ông” Rồng xanh thi thoảng lại xuất hiện… Những lúc trở trời, các “ông” bò ra nằm la liệt… Một con rắn lớn từ xà ngang buông mình xuống ban thờ, náu mình vào Tượng Phật nhìn ra”.
Trong bài “Rắn xanh Yên Tử” (trang 31), anh Thuận viết :
Bóng Tùng thấp thoáng bên ô cửa
Rồng xanh thi thoảng nghỉ trên bàn
Mấy ông rắn lớn nằm trên mái
Náu mình tượng Phật ngắm giang san.
11. Trang 108, cuốn sách viết :
“Quanh am là rừng trúc bạt ngàn. Trúc chen nhau mọc dưới tán lá của rừng cây cổ thụ. Trúc lách qua kẽ đá nền am, vươn lên những đọt măng mập mạp. Đây là phế tích Am Thiền Định. Xưa chưa dựng chùa, các nhà sư tu hành nơi am cỏ, hòa mình với chim muông, với thiên nhiên hoang dã”.
Trong bài “Am xưa” (trang 58), anh Thuận viết :
Trúc lách qua kẽ đá nền am
Đọt măng mập mạp giữa đá vàng
Bạt ngàn trúc biếc chen hoa nở
Gió thổi lau thưa vọng tiếng đàn.
12. Trang 110, cuốn sách viết :
“Thác vàng còn lớn gấp bội phần. Vách đá cao dốc đứng. Nước từ đỉnh dốc tuôn trắng xóa, khác nào dải lụa khổng lồ. Ngọn nước như từ trời đổ xuống. Cây rừng khép tán, đứng dưới chân thác ngước nhìn lên, ta chỉ thấy mảnh trời trên ngọn tháp. Nhà văn Vũ Khai đặt tên cho thác là “Thiên Thủy” (nước trời). Với Thác Vàng, nước không hề khô cạn”.
Trong bài “Thác Vàng” (trang 54), anh Thuận viết :
Ngọn nước như từ trời đổ xuống
Cây rừng khép tán nép bên khe
Mảnh trời ngọn tháp thiên thu thủy
Đâu biết nơi đây có nắng hè.
13. Trang 111, cuốn sách viết :
“ Rừng ở đây nguyên sơ và tuyệt đẹp. Cây cổ thụ vươn cao, xòe tán rộng. Rừng già âmn u. Ánh nắng mặt trời không lọt rơi xuống đất…Dây leo chằng chịt, vắt từ cây này sang cây kia. Một thế giới chim muông, hoa lá dần hiện ra…. Cành khô kêu răng rắc dưới chân. Hương cây, lá mục nồng ngai ngái. Trên đường, từng đoạn lại thấy cây Tùng cổ, như thể người xưa đánh dấu đường”.
Trong bài “Đường rừng” (trang 22), anh Thuận viết :
“ Cổ thụ vươn cao xòe tán rộng
Rừng già nắng lọt đốm hoa rơi
Dây leo chằng chịt vắt cành lá
Chim rừng líu lót với hương trời.
Cây khô răng rắc dưới chân đi
Lá mục nồng ngai hoa từ bi
Trên đường lác đác cây tùng cổ
Thợ trời khéo đặt cảnh thiên trì.
14. Trang 126, cuốn sách viết :
“ Gọi là chùa Vân Tiêu, bởi chùa tọa lạc trên triền núi phía Tây dãy Yên Tử. Dãy núi như trường thành chắn ngang luồng gió biển thổi vào. Hơi nước tới đây, ngưng đọng lại thành mây. Mây, gió bị chắn ở sườn Nam, được thoát ra nơi triền núi phía Tây. Mây trôi lờ lững trên triền non Yên Tử, tới đây lập tức bị tiêu tan. Nên dù ở gần đỉnh núi, chùa Vân Tiêu ít khi bị mây mù che phủ, khác hẳn chùa Bảo Sái ở cùng một độ cao. Ở nơi mây cứ đến là tan, nên chùa mang tên là Vân Tiêu… Phía trước cửa chùa là vườn tháp chín tầng, giống như Hòn Ngọc… Cả khối nặng tòa tháp đè lên lưng của một ông rùa đá to lớn…”.
Trong bài Chùa Vân Tiêu (trang 50), anh Thuận viết :
Vân Tiêu quay hướng phía Tây phương
Dãy núi Yên Tử án thành đường
Mây trôi lờ lững trên Yên Tử
Tùng xanh lãng đãng bóng trong sương
Mây đến Vân Tiêu mây tự tan
Chín tầng chùa tháp giữa non ngàn
Im lìm trên một ông rùa đá
Hoa cười rung cánh khóm địa lan.
15. Trang 135, cuốn sách viết :
“ Chóp núi cách tượng An Kỳ Sinh 721 mét, ban đầu, đường đi trên núi khá bằng phẳng, qua một vạt rừng cây lúp xúp, một vạt rừng cây cảnh tự nhiên, chỉ cao hơn đầu người một chút, gốc rễ còi cọc, cong queo và mốc thếch, tô điểm những đóa hoa trà mi, hoa trứng gà, hoa mai…muôn hồng nghìn tía… Chếch về phía phải, có một vạt cây rừng sú, vẹt. Thật kỳ lạ : Sú vẹt ở bờ sông lại ngự trên đỉnh núi (!). Những chú ốc sên, những chú còng… ẩn mình trong kẽ đá suốt mùa đông, chỉ đợi xuân sang là xuất hiện. chúng biến nơi đây thành vương quốc riêng, xa cách cõi trần nơi bờ sông bãi sú.
Qua khỏi vạt cây là bãi đá. Dọc sống núi cơ man nào là đá. Những phiến đá nhỏ, to, cao, thấp thiên hình vạn trạng. Đá xếp thành bậc thang nâng bước chân du khách. Có những phiến đá giống như bầy cá Sấu nằm trườn ườn phơi nắng, xen lẫn với cá voi, éch ộp, thờn bơn…Dưới chân chùa Đồng, ngổn ngang xếp những tảng đá lớn vuông vức như quân cờ. Lưng đá hằn sâu ngấn sóng nước. Những vỏ sò, vỏ ốc hóa thạch còn lưu trong kẽ đá. Đã một thời, đỉnh ngọn Yên Sơn là bờ biển. Trải qua kỳ kiến tạo vỏ trái đất cách đây hàng triệu năm, bờ bể lại trở thành chóp núi. Và đỉnh Yên Sơn đã trở thành một bảo tàng tự nhiên lưu dấu tích sự đồi thay dâu bể thời Hồng hoang”.
Trong bài “Đỉnh non thiêng” (trang 70), anh Thuận viết :
Yên Sơn tô điểm đóa trà mi
Sú vẹt non cao thật dị kỳ
Ốc, còng, sên nhỏ nằm trong đá
Quốc vương xa lánh cõi trần bi
Bậc đá làm thang giỏi thợ trời
Đá hình cá sấu nằm chơi vơi
Cá voi, éch ộp, thờn bơn dẹt
Biển cả - đại dương giữa lưng trời
Có lẽ ngày xưa thưở hồng hoang
Yên Sơn bể biếc của kim hoàng
Trải bao biến địa sông thành núi
Đỉnh Yên nay thành một bảo tàng
16. Trang 143 - 144, cuốn sách viết :
“Trên non Yên Tử, vào ngày trời quang, phóng tầm mắt tới chân trời xa tắp : Một vùng đồi núi nhấp nhô như sóng, lúp xúp dưới chân ta. Thị xã Uông Bí, mỏ than Vàng Danh, vùng Tràng Lương Đông Triều và Hà Bắc hiện ra như bức tranh thủy mạc. Xa xa, Vịnh Hạ Long xanh xanh mờ vệt đảo. Mặt Vịnh lung linh dưới ánh mặt trời. Dòng sông Bạch Đằng in bóng núi Tràng Kênh…Gió lùa vào kẽ đá, phát ra muôn tiếng nhạc bổng trầm. Giữa khung cảnh đất trời kỳ vĩ và ngoạn mục, du khách xốn xang đến khó tả. Tâm hồn nhẹ nhỏm và thanh thoát. Bao nỗi ưu phiền trần tục được tiêu tan. Cảm giác kỳ diệu ấy, chỉ khi lên chùa Đồng mới có”.
Trong bài “Trời quang Yên Tử” (trang 71), anh Thuận viết :
Trên non Yên Tử ngày trời quang
Bức tranh thủy mặc dưới nắng vàng
Nhấp nhô như sóng triền đồi núi
Xa xa một dãy Bạch Đằng Giang
Trời đất kỳ vĩ lòng xôn xang
Gió reo thánh thót những cung đàn
Chùa Đồng Yên Tử trời đất Phật
Ưu phiền trần tục thảy tiêu tan.
…
Tôi chỉ xin trích dẫn để so sánh một số bài như trên, còn nhiều bài thơ khác cũng có nội dung tương tự với các bài trong cuốn sách của Trần Trương. Trong số 63 bài, tôi kiểm lại thì thấy có một số bài không có liên quan gì tới cuốn sách. Cụ thể là các bài : Xúc cảm non thiêng; Cô chú thăm Yên Tử; Vân du Yên Tử; Nghỉ lại chùa Yên; Kim xà; Ân hận; Tặng sư thầy, là do anh Thuận cảm tác mà viết ra.
Từ những so sánh trên, tôi có thể suy luận rằng : Tập thơ “Thi Vân Yên Tử” của anh Hoàng Quang Thuận không phải là thơ “nhập đồng”, cũng không phải là “thơ Thiền” mà có xuất xứ từ cuốn sách của tác giả Trần Trương. Vì những bài thơ ấy thuần túy chỉ là tả cảnh vật qua con mắt của người phàm trần. Nếu thơ “nhập đồng” sẽ có giọng thơ khác, thâm linh, huyền bí và mang hồn cách của “người nhập”.
Những so sánh trên đã cho thấy, từ những bài viết
trong cuốn sách của Trần Trương, anh Thuận đã có cảm xúc và dùng năng khiếu thơ
của mình viết lại thành các bài thơ. Có thể trong ba đêm, nguồn cảm xúc từ cảnh
vật thật, từ tấm lòng thành kính đối với Tam tổ Trúc Lâm và Danh sơn Yên
Tử, lại được thông tin từ cuốn sách của Trần Trương, anh đã thành tâm
viết nên 63 bài thơ ấy, để ghi lại cảm xúc của mình. Tôi chắc khi đó, anh chưa
hề nghĩ đến việc quảng bá cho những bài thơ này theo hướng “nhập đồng”
hoặc “thơ thiền”. Có lẽ, những tán dương sau này của nhiều người quá thái, đã
khiến anh say sưa với ý tưởng ấy và thổi vào đó yếu tố tâm linh, huyền
bí, càng về sau càng mãnh liệt như chúng ta đã thấy diễn biến của “Thi Vân Yên
Tử” từ đó đến nay.
Để kết thúc, tôi xin xác quyết một điều rằng : Tôi viết bài này chỉ với một cái tâm trong sáng của một phật tử có pháp danh là THIỆN HÒA, hầu mong anh Thuận sẽ đọc và suy ngẫm về những điều đã làm, để trả về cho “Thi Vân Yên Tử” đúng giá trị của nó. Đó là điều tôi quan niệm rằng : đã giúp anh, vì tôi vẫn là người – bạn – của – anh !
Để kết thúc, tôi xin xác quyết một điều rằng : Tôi viết bài này chỉ với một cái tâm trong sáng của một phật tử có pháp danh là THIỆN HÒA, hầu mong anh Thuận sẽ đọc và suy ngẫm về những điều đã làm, để trả về cho “Thi Vân Yên Tử” đúng giá trị của nó. Đó là điều tôi quan niệm rằng : đã giúp anh, vì tôi vẫn là người – bạn – của – anh !
TP. Hồ Chí Minh, 02 giờ đêm ngày 12 tháng 8 năm 2012
nguồn:http://www.tintuchangngay.org/2012/08/phat-hien-ong-troi-gs-ts-hoang-quang.html
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
CHỊ DẬU, CHÓ VÀ THI SĨ THỜI THỔ TẢ
nguồn:http://www.tintuchangngay.org/2012/08/thong-bao-cua-thuong-vu-hoi-nha-va
-------------------------------------------------------------------------------
CHUYỆN “DÂNG HƯƠU NÓI NGỰA” THỜI TẦN CÓ LẶP LẠI TRÊN VĂN ĐÀN VIỆT ?
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để
xả stress
CHỊ DẬU, CHÓ VÀ THI SĨ THỜI THỔ TẢ
Đất nước mình ai cũng biết làm thơ, điều đó dễ hiểu,
ai cũng có thể đạt giải nô ben về thơ, điều đó cũng dễ hiểu. Thời thổ tả, có
thằng nào thoát dịch ỉa chảy đâu. Nhưng chuyện chị Dậu làm thơ thì hơi lạ, chị Dậu
lên ngồi trên đầu thiên hạ, làm chủ tịch hội nhà văn, càng lạ, bút danh là Hữu
Dậu. Hữu Dậu xuất thân nông dân nghèo khổ (chuyện này ai cũng biết), sau khi
thoát khỏi thân phận nô lệ bèn nhảy phát ra làm thơ, làm luôn mấy cái trường
ca, thiên hạ phục sát đất, tôn lên làm chủ tịch. Dậu vì nghèo nên có tật tham,
thấy tiền là tối mắt. Trong một năm, Dậu tổ chức mấy cái hội thảo về thơ văn,
trống kèn inh ỏi, thu tiền về đút túi dễ như bỡn.
Được đà đưa mũi dao tung phá, Dậu ta mới làm tiếp một
cái hội thảo về thơ hạt nhân cho một thi sĩ vốn bị nhiễm phóng xạ nên bị bệnh
hoang tưởng (nghe bảo bệnh viện trả về chờ chết). Dậu kêu lính lác viết bài
tung hô, bản thân Dậu cũng bịt mũi khen nức nở, lại lấy tiền. Bởi vì nhà thơ
hạt nhân có bút danh Hai Quả Thận tuy bị trọng bệnh nhưng lại rất giàu, nghe
đâu vợ bỏ mối thuốc Tây xuyên quốc gia, tiền như nước. Thế là Dậu lại có tiền
cấp cho thằng con trai nghiện hút.
Thi sĩ Ngọng Quy Thiền vốn là cấp dưới của Dậu, vốn
chỉ kém Dậu một bậc về thói háo danh và lưu manh, thấy Dậu làm hội thảo về thơ
hạt nhân thối quá, không chịu được, bèn la lối om sòm:
-
Anh vừa phải
thôi, làm vậy bằng bôi cứt vào mặt em!
-
Chú nói quá lời,
anh không hiểu.
-
Anh làm hội thảo
về thằng điên đó thì mấy cái hội thảo trước đây về thơ hậu hậu đậu của em coi
như vứt cho chó gặm.
-
Sao chú nói thế,
thơ hậu hậu đậu của chú và thơ hạt nhân là hai trường phái khác nhau, chú đừng
lo, nước sông không phạm nước biển.
-
Nhưng mà thối
quá!
-
Không thối đâu,
nói nhỏ nè, thằng nhiễm xạ đó không biết làm thơ đâu, tất tần tật là thơ của
thằng Trần Nhuận Tối nó làm dùm, tụi mình cứ nhắm mắt tung lên mây mà lấy tiền,
tiền mà, chó mà chê c… à!
Ngọng
Quy Thiền nghe Hữu Dậu nói chí lý bèn vén áo quỳ xuống vái lia lịa:
-
Bái phục, bái
phục, em đã chó, thiên hạ còn có thằng chó hơn!
Hữu
Dậu tái mặt, lắp bắp:
-
Thì chúng ta đều là chó cả, huề cả làng nhé! Nhưng mà chú nên nhớ, ở
ngoài cửa đang còn hàng chục thằng sắp
hàng xin vào đây cùng làm chó với anh em mình mà anh chưa ký đấy, đừng tưởng
bở.
Được đăng bởi
Nguyễn Văn Thiện
vào lúc
21:50
nguồn:http://thiendl.blogspot.com/2012/08/chi-dau-cho-va-thi-si-thoi-tho-ta.html
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
THƠ "BÀ NHẬP" HAY BỘ MÁY TUYÊN TRUYỀN KHỔNG LỒ CỦA ĐẢNG BỊ "BÀ NHẬP"?
Xã hội bát nháo và nhiễu nhương nầy không đẻ ra những sản phẩm như Hoàng Quang Thuận mới là chuyện lạ. Khởi nghiệp từ cái bằng phó tiến sĩ mờ ám, rồi vù một cái lên tiến sĩ, lên hàm giáo sư, lên viện trưởng viện công nghệ viễn thông, nhưng ông ta vẫn chưa vừa lòng lại bày trò lừa dối thánh thần, chôm sách của người khác sửa lại thành một cái thứ ngô nghê gọi là "thơ bà nhập" đòi mang đi thi...kiếm giải Nô Ben. Hết biết.
Nói như anh bạn Đà Nhân của tôi, "loại Xuân Tóc Đỏ ấy đầy rẫy trong xã hội đảo điên" vào thời mạt vận nầy, không đáng để chúng ta nói đến.
Cái cần nói là cả một bộ máy tuyên truyền to lớn của đảng do những ông to bà lớn tín cẩn của đảng đứng đầu lại a dua theo, biến cái đồ ăn cắp ấy thành cái gì đó cực kỳ cao quý, cực kỳ linh thiêng, tuyệt phẩm của nhân loại và biến một tay ăn cắp vặt thành ra người chói sáng, được thần linh tín nhiệm.
Nào ông Nhà xuất bản Giáo Dục cho in ấn và phát hành làm cho mọi người hiểu rằng đây là sách tham khảo của bộ Giáo dục và chưa biết chừng có thể được đưa vào chương trình giảng dạy.
Nào các tờ báo lớn của Đảng như Báo Điện Tử ĐCSVN, báo Nhân Dân, báo CAND, báo ANTĐ, SGGP, Tiền Phong, Thanh Niên, Văn Nghệ, tạp chí Nhà Văn...đua nhau đưa tin và viết bài nặng ký lăng xê.
Nhà thơ Dương Kỳ Anh, nguyên tổng biên tập báo Tiền Phong không những viết bài ca ngợi hết lời trên báo Tiền Phong mà còn đứng ra làm chứng gian cho cái sự "bà nhập" đầy láo toét và nhiễm mùi mê tín dị đoan phản khoa học của ông Thuận
Ông trùm Hội Nhà Văn Việt Nam là nhà thơ Hữu Thỉnh không tiếc lời ngợi ca tài năng "bà nhập" nầy khắp mọi nơi. Ông dẫn ra một bài thơ "bà nhập" để khen hết lời, bốc lên tận mây xanh thì bài thơ đó có 4 câu đã ăn cắp của vua Trần Thánh Tông hết hai câu.
Đỉnh cao của sự "bà nhập" quái gỡ ấy là tạp chí của Hội Nhà Văn đứng ra tổ chức hội thảo “Hoàng Quang Thuận với Non thiêng Yên Tử” tại trụ sở của hội Nhà Văn và tuyên bố đưa mấy tập thơ "bà nhập" ấy đi dự giải Nobel văn học.
Đọc tường thuật buổi hội thảo đăng trên các báo về danh sách các nhân vật dự hội thảo mới thấy ghê hồn về cái tài quan hệ của ông Thuận:
Đến dự hội thảo có nhà thơ Hữu Thỉnh – Chủ tịch UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Chủ tịch Hội NVVN; Ông Nguyễn Dy Niên – nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Ông Nguyễn Thanh Sơn – Thứ trưởng Bộ ngoại giao; Ông Lê Trần Trường An – Chủ tịch, Tổng giám đốc sách Kỷ lục VN; PGS., TS. Nguyễn Hồng Vinh – Chủ tịch Hội đồng LLPB VHNT Trung ương; TS. Lê Thị Bích Hồng – Vụ phó Vụ Văn hóa Văn nghệ, Ban Tuyên giáo trung ương; Trung tướng, nhà văn Hữu Ước – Phó Tổng cục Tổng cục XDLL, Bộ Công an; Các vị hòa thượng tại Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử; các Ủy viên BCH Hội NVVN, các nhà văn, nhà thơ, nhà báo cùng đông đảo bạn đọc quan tâm tới tập “Thi Vân Yên Tử”.
Xem ảnh và chú thích ảnh dưới đây đăng kèm theo, thấy còn ghê hơn nữa:
Từ trái sang: Nhà văn Võ Thị Xuân Hà, nhà thơ Hữu Thỉnh, nhà thơ Hoàng Quang Thuận, nhà LLPB Nguyễn Hữu Sơn
THƠ "BÀ NHẬP" HAY BỘ MÁY TUYÊN TRUYỀN KHỔNG LỒ CỦA ĐẢNG BỊ "BÀ NHẬP"?
Xã hội bát nháo và nhiễu nhương nầy không đẻ ra những sản phẩm như Hoàng Quang Thuận mới là chuyện lạ. Khởi nghiệp từ cái bằng phó tiến sĩ mờ ám, rồi vù một cái lên tiến sĩ, lên hàm giáo sư, lên viện trưởng viện công nghệ viễn thông, nhưng ông ta vẫn chưa vừa lòng lại bày trò lừa dối thánh thần, chôm sách của người khác sửa lại thành một cái thứ ngô nghê gọi là "thơ bà nhập" đòi mang đi thi...kiếm giải Nô Ben. Hết biết.
Nói như anh bạn Đà Nhân của tôi, "loại Xuân Tóc Đỏ ấy đầy rẫy trong xã hội đảo điên" vào thời mạt vận nầy, không đáng để chúng ta nói đến.
Cái cần nói là cả một bộ máy tuyên truyền to lớn của đảng do những ông to bà lớn tín cẩn của đảng đứng đầu lại a dua theo, biến cái đồ ăn cắp ấy thành cái gì đó cực kỳ cao quý, cực kỳ linh thiêng, tuyệt phẩm của nhân loại và biến một tay ăn cắp vặt thành ra người chói sáng, được thần linh tín nhiệm.
Nào ông Nhà xuất bản Giáo Dục cho in ấn và phát hành làm cho mọi người hiểu rằng đây là sách tham khảo của bộ Giáo dục và chưa biết chừng có thể được đưa vào chương trình giảng dạy.
Nào các tờ báo lớn của Đảng như Báo Điện Tử ĐCSVN, báo Nhân Dân, báo CAND, báo ANTĐ, SGGP, Tiền Phong, Thanh Niên, Văn Nghệ, tạp chí Nhà Văn...đua nhau đưa tin và viết bài nặng ký lăng xê.
Nhà thơ Dương Kỳ Anh, nguyên tổng biên tập báo Tiền Phong không những viết bài ca ngợi hết lời trên báo Tiền Phong mà còn đứng ra làm chứng gian cho cái sự "bà nhập" đầy láo toét và nhiễm mùi mê tín dị đoan phản khoa học của ông Thuận
Ông trùm Hội Nhà Văn Việt Nam là nhà thơ Hữu Thỉnh không tiếc lời ngợi ca tài năng "bà nhập" nầy khắp mọi nơi. Ông dẫn ra một bài thơ "bà nhập" để khen hết lời, bốc lên tận mây xanh thì bài thơ đó có 4 câu đã ăn cắp của vua Trần Thánh Tông hết hai câu.
Đỉnh cao của sự "bà nhập" quái gỡ ấy là tạp chí của Hội Nhà Văn đứng ra tổ chức hội thảo “Hoàng Quang Thuận với Non thiêng Yên Tử” tại trụ sở của hội Nhà Văn và tuyên bố đưa mấy tập thơ "bà nhập" ấy đi dự giải Nobel văn học.
Đọc tường thuật buổi hội thảo đăng trên các báo về danh sách các nhân vật dự hội thảo mới thấy ghê hồn về cái tài quan hệ của ông Thuận:
Đến dự hội thảo có nhà thơ Hữu Thỉnh – Chủ tịch UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Chủ tịch Hội NVVN; Ông Nguyễn Dy Niên – nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Ông Nguyễn Thanh Sơn – Thứ trưởng Bộ ngoại giao; Ông Lê Trần Trường An – Chủ tịch, Tổng giám đốc sách Kỷ lục VN; PGS., TS. Nguyễn Hồng Vinh – Chủ tịch Hội đồng LLPB VHNT Trung ương; TS. Lê Thị Bích Hồng – Vụ phó Vụ Văn hóa Văn nghệ, Ban Tuyên giáo trung ương; Trung tướng, nhà văn Hữu Ước – Phó Tổng cục Tổng cục XDLL, Bộ Công an; Các vị hòa thượng tại Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử; các Ủy viên BCH Hội NVVN, các nhà văn, nhà thơ, nhà báo cùng đông đảo bạn đọc quan tâm tới tập “Thi Vân Yên Tử”.
Xem ảnh và chú thích ảnh dưới đây đăng kèm theo, thấy còn ghê hơn nữa:
Từ trái sang: Nhà văn Võ Thị Xuân Hà, nhà thơ Hữu Thỉnh, nhà thơ Hoàng Quang Thuận, nhà LLPB Nguyễn Hữu Sơn
![]() |
Nhà
văn Võ Thị Xuân Hà, Trưởng ban tổ chức Hội thảo lên chúc mừng nhà thơ
Hoàng Quang Thuận. Trong quá trình chuẩn bị và tổ chức, nhà văn Võ Thị
Xuân Hà đã vất vả không kể ngày đêm để hội thảo được thành công trên tất
cả mọi mặt.
| Tất cả những lời ngợi ca khác, bấm vào Google sẽ thấy hiện lên hàng triệu kết quả. Tại sao cả một bộ máy tuyên truyền khổng lồ của đảng cùng với những ông to bà lớn lại đều bị "bà nhập" để tuyên truyền cho cái điều mê tín dị đoan láo toét phản khoa học như vậy? Một người bạn của tôi lý giải: Phần lớn những quan chức trong cái bộ máy nầy đều không ngờ rằng xuất thân như mình mà cũng có được cái địa vị như ngày hôm nay. Từ đó nghĩ rằng là do thần linh phù hộ mình mới được như vậy. Vì thế hầu hết họ đều rất tin vào thánh thần, rất mê tín dị đoan. Nhìn vào cảnh cướp giật ấn ở lễ hội Đền Trần hàng năm thì thấy rõ điều đó. Chuyện của Thuận, cũng như bao nhiêu chuyện mê tín lừa đảo khác mà thôi, nhưng Thuận được tuyên truyền quá mức bình thường là do Thuận giỏi tài quan hệ và có nhiều...tiền. Ừ, quan trọng là có nhiều tiền. Cái bộ máy tuyên truyền tưởng như to lớn vững chắc ấy xem vậy chứ cũng dễ bị kẻ xấu dùng tiền điều khiển. Chỉ với một chút tiền như ông Thuận mà đã làm được như vậy rồi, thử hỏi tiền đông như Nguyên của Trung cộng thì chuyện gì họ không làm được. Hèn gì đến 2 lần xảy ra sự cố cờ 6 sao, biển Đà Nẵng thì ghi là China Beach, sách giáo khoa của nhà Xuất bản Giáo Dục lại in bản đồ Trung cộng ngoài bìa, báo đảng lại đưa tin hoan hô hải quân Trung cộng tập trận ở Trường Sa....Lo cho đảng nầy quá!
Mời đọc thêm:
Comment trên trang Trương Duy Nhất:
|
- Gia Nguyễn says:12/08/2012 at 8:51 amLão nầy sau 1975 là giáo viên trường Bổ Túc Văn Hóa Cấp Ba Đà Nẵng, sau mấy chục năm, từ một anh thầy giáo quá bình thường của Ty Giáo Dục Quảng Nam_Đà Nẵng,nay trở thành một nhân vật…có cơ ẳm giải Nobel…Ôi bà nhập ,bà nhập…
Nguyễn văn An ĐN says:
Hoàng Quang Thuận sau năm 75 là giáo viên dạy môn Lý trường bổ túc văn hóa, nhà tại số 36 đường Trần Hưng Đạo Đà Nẵng ( gần chợ Hàn), tính tình cũng ngông nghênh như bây chừ, lúc đó Quang Thuận có quen 2 anh thợ sửa chữa điện tử tên là Tuấn và Cường, Tuấn và Cường tận dụng thiết bị cũ hư hỏng chế thành cái máy rung, sau đó kết hợp với phương pháp châm cứu họ đặt tên máy châm tê, nhưng do 2 anh thợ Tuấn và Cường không có trình độ nên Quang Thuận lấy công trình nầy làm luận án bảo vệ Phó Tiến Sĩ.
Cũng như nhiều người cơ hội khác, Hoàng Quang Thuận nhận bà con dòng tộc với Hoàng Minh Thắng -lúc đó là Bí Thư Tỉnh QN-ĐN -( mặc dù HMT dân Thăng Bình, còn QT dân Quảng Bình) từ đó Quang Thuận tìm cách chụp chung hình với nhiều quan chức như Hoàng Minh Thắng, với Đại Tướng Võ Nguyễn Giáp, tấm hình chụp chung với Đại Tướng Võ Nguyên Giáp là một trong những tấm hình được Quang Thuận sang thật lớn và treo trong nhà mà ai đi ngoài đường nhìn vào cũng đều thấy rõ (để lòe bàn dân thiên hạ).
Sau nầy chúng tôi được biết Quang Thuận là Viện Trưởng Viện cộng nghệ viễn thông, chúng tôi cũng không mấy ngạc nhiên mặc dù trình độ Tiến sĩ của Quang Thuận có được cũng bằng tiền và bằng sự khôn khéo dựa vào ông nầy ộng nọ để đi lên, nhưng chúng tôi rất kinh ngạc về sự làm thơ của ông, không khéo thơ của ông cũng sao chép xào nấu từ nhiều nguồn thơ nào đó giống như MÁY CHÂM TÊ mà ông làm luấn án bảo vệ Phó Tiến sĩ lấy từ công trình của 2 người thợ sửa chữa điện tử là Tuần & Cường.“THI VÂN YÊN TỬ” ĐƯỢC SAO CHÉP TỪ ĐÂU?- LS Nguyễn Minh TâmLIÊN DANH THƠ THẨN HOÀNG QUANG THUẬN-HỮU THỈNH, MỘT VỤ LỪA ĐẢO LỚN, LỪA ĐẢO CẢ TRỜI PHẬT…
Trần Mạnh Hảo
Được đăng bởi
HUYNH NGOC CHENH
vào lúc
21:10
nguồn:http://huynhngocchenh.blogspot.com/2012/08/tho-ba-nhap-hay-ca-bo-may-tuyen-truyen.html
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Thông báo của Thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam
Thông báo của Thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam
Đăng bởi Hai Hoang Van vào Thứ bảy, ngày 18 tháng tám năm 2012
Ngày 16 tháng 8 năm 2012 tại Hà Nội, Ban Thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam
đã tiến hành phiên họp thường kỳ có sự tham gia của đại diện Ban Kiểm
tra Hội Nhà văn. Nội dung phiên họp như sau:
1/ Nghe báo cáo và cho ý kiến của chỉ đạo tổ chức Hội nghị Nhà văn ba nước Việt Nam, Lào và Cămpuchia và trao Giải thưởng Văn học sông Mê Kông lần thứ IV sẽ được tiến hành tại thành phố Đà Nẵng vào trung tuần tháng 9 năm 2012.
2/ Nghe báo cáo và cho ý kiến chuẩn bị Hội nghị Ban Chấp hành lần thứ VII vào cuối tháng 9 năm 2012.
3/ Nghe báo cáo về công tác xét Giải thưởng Hội Nhà văn 2012.
4/ Nghe báo cáo hoạt động của các cơ quan cấp II của Hội. Trong báo cáo của Tạp chí Nhà văn có việc tổ chức hội thảo “Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử” đang có những ý kiến trái chiều. Về việc này, ý kiến của Ban Thường vụ Hội Nhà văn như sau:
1. Hội thảo “Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử” do Tạp chí Nhà văn tổ chức trong phạm vi chức năng và quyền hạn của Tạp chí Nhà văn.
2. Cuộc hội thảo nói trên được tổ chức tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam (số 9, phố Nguyễn Đình Chiểu, Hà Nội), đây là nơi thường xuyên diễn ra các cuộc hội thảo, tọa đàm, giới thiệu tác phẩm, giao lưu với bạn đọc của các nhà văn và là nơi tổ chức lễ tưởng niệm các nhà văn đã quá cố.
3. Trước dư luận về Hội thảo “Hoàng Quang Thuận và non thiêng Yên Tử”, Ban Thường vụ Hội Nhà văn đã đưa ra những đánh giá về hội thảo này, đồng thời rút kinh nghiệm một cách nghiêm khắc những thiếu sót trong việc quản lý hoạt động của các cơ quan báo chí Hội Nhà văn, trong đó có việc chọn lựa tác giả và tác phẩm để hội thảo.
4. Ngay sau cuộc họp này, Ban Thường vụ Hội Nhà văn đã có văn bản yêu cầu Tạp chí Nhà văn giải trình một số vấn đề liên quan đến việc tổ chức Hội thảo “Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử” mà dư luận đang đề cập.
5. Hiện nay, qua bài viết của Luật sư Nguyễn Minh Tâm, nhiều hội viên Hội Nhà văn và dư luận xã hội đang đặt câu hỏi nhà thơ Hoàng Quang Thuận có đạo văn hay không và đề nghị Hội Nhà văn có ý kiến về vấn đề này. Ban Thường vụ Hội Nhà văn nhận thấy chuyện đạo văn là một trong những vấn đề hệ trọng liên quan đến danh dự của nhà văn mà trường hợp cụ thể ở đây là nhà thơ Hoàng Quang Thuận. Thông tin bước đầu trên báo chí cho thấy: ông Trần Trương, người được cho là bị nhà thơ Hoàng Quang Thuận đạo văn đã trả lời báo chí khẳng định không có việc này. Tuy vậy, với trách nhiệm đối với tư cách hội viên của mình, Hội Nhà văn tiếp tục lắng nghe ý kiến của dư luận, đặc biệt là của những người liên quan trực tiếp đến vấn đề đó là nhà thơ Hoàng Quang Thuận và ông Trần Trương. Đồng thời, Thường vụ Hội Nhà văn sẽ chỉ đạo trực tiếp Ban Kiểm tra của Hội thực hiện đúng quyền hạn và trách nhiệm của mình khi có yêu cầu để có kết luận về vấn đề trên một cách thỏa đáng và công bằng dựa trên luật pháp.
6. Cũng trong phiên họp này, Thường vụ Hội Nhà văn đã giao cho Văn phòng Hội Nhà văn soạn thảo các quy chế đối với việc tổ chức các sự kiện của Hội Nhà văn trong đó có những điều khoản quy định hoạt động của các cơ quan báo chí của Hội trong việc tổ chức hội thảo, tọa đàm… và việc sử dụng hội trường Hội Nhà văn Việt Nam tại số 9, Nguyễn Đình Chiểu, Hà Nội một cách sang trọng và đúng mục đích.
Thay mặt Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Ban Thường Vụ Hội Nhà văn Việt Nam xin trân trọng cám ơn những ý kiến đóng góp của các hội viên Hội nhà văn Việt Nam và bạn đọc về những vấn đề liên quan đến Hội thảo “Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử”, tiếp thu những ý kiến xây dựng để các cuộc hội thảo sắp tới đạt kết quả tốt hơn.
Xin trân trọng cám ơn.
1/ Nghe báo cáo và cho ý kiến của chỉ đạo tổ chức Hội nghị Nhà văn ba nước Việt Nam, Lào và Cămpuchia và trao Giải thưởng Văn học sông Mê Kông lần thứ IV sẽ được tiến hành tại thành phố Đà Nẵng vào trung tuần tháng 9 năm 2012.
2/ Nghe báo cáo và cho ý kiến chuẩn bị Hội nghị Ban Chấp hành lần thứ VII vào cuối tháng 9 năm 2012.
3/ Nghe báo cáo về công tác xét Giải thưởng Hội Nhà văn 2012.
4/ Nghe báo cáo hoạt động của các cơ quan cấp II của Hội. Trong báo cáo của Tạp chí Nhà văn có việc tổ chức hội thảo “Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử” đang có những ý kiến trái chiều. Về việc này, ý kiến của Ban Thường vụ Hội Nhà văn như sau:
1. Hội thảo “Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử” do Tạp chí Nhà văn tổ chức trong phạm vi chức năng và quyền hạn của Tạp chí Nhà văn.
2. Cuộc hội thảo nói trên được tổ chức tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam (số 9, phố Nguyễn Đình Chiểu, Hà Nội), đây là nơi thường xuyên diễn ra các cuộc hội thảo, tọa đàm, giới thiệu tác phẩm, giao lưu với bạn đọc của các nhà văn và là nơi tổ chức lễ tưởng niệm các nhà văn đã quá cố.
3. Trước dư luận về Hội thảo “Hoàng Quang Thuận và non thiêng Yên Tử”, Ban Thường vụ Hội Nhà văn đã đưa ra những đánh giá về hội thảo này, đồng thời rút kinh nghiệm một cách nghiêm khắc những thiếu sót trong việc quản lý hoạt động của các cơ quan báo chí Hội Nhà văn, trong đó có việc chọn lựa tác giả và tác phẩm để hội thảo.
4. Ngay sau cuộc họp này, Ban Thường vụ Hội Nhà văn đã có văn bản yêu cầu Tạp chí Nhà văn giải trình một số vấn đề liên quan đến việc tổ chức Hội thảo “Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử” mà dư luận đang đề cập.
5. Hiện nay, qua bài viết của Luật sư Nguyễn Minh Tâm, nhiều hội viên Hội Nhà văn và dư luận xã hội đang đặt câu hỏi nhà thơ Hoàng Quang Thuận có đạo văn hay không và đề nghị Hội Nhà văn có ý kiến về vấn đề này. Ban Thường vụ Hội Nhà văn nhận thấy chuyện đạo văn là một trong những vấn đề hệ trọng liên quan đến danh dự của nhà văn mà trường hợp cụ thể ở đây là nhà thơ Hoàng Quang Thuận. Thông tin bước đầu trên báo chí cho thấy: ông Trần Trương, người được cho là bị nhà thơ Hoàng Quang Thuận đạo văn đã trả lời báo chí khẳng định không có việc này. Tuy vậy, với trách nhiệm đối với tư cách hội viên của mình, Hội Nhà văn tiếp tục lắng nghe ý kiến của dư luận, đặc biệt là của những người liên quan trực tiếp đến vấn đề đó là nhà thơ Hoàng Quang Thuận và ông Trần Trương. Đồng thời, Thường vụ Hội Nhà văn sẽ chỉ đạo trực tiếp Ban Kiểm tra của Hội thực hiện đúng quyền hạn và trách nhiệm của mình khi có yêu cầu để có kết luận về vấn đề trên một cách thỏa đáng và công bằng dựa trên luật pháp.
6. Cũng trong phiên họp này, Thường vụ Hội Nhà văn đã giao cho Văn phòng Hội Nhà văn soạn thảo các quy chế đối với việc tổ chức các sự kiện của Hội Nhà văn trong đó có những điều khoản quy định hoạt động của các cơ quan báo chí của Hội trong việc tổ chức hội thảo, tọa đàm… và việc sử dụng hội trường Hội Nhà văn Việt Nam tại số 9, Nguyễn Đình Chiểu, Hà Nội một cách sang trọng và đúng mục đích.
Thay mặt Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Ban Thường Vụ Hội Nhà văn Việt Nam xin trân trọng cám ơn những ý kiến đóng góp của các hội viên Hội nhà văn Việt Nam và bạn đọc về những vấn đề liên quan đến Hội thảo “Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử”, tiếp thu những ý kiến xây dựng để các cuộc hội thảo sắp tới đạt kết quả tốt hơn.
Xin trân trọng cám ơn.
Theo: HNVVN
nguồn:http://www.tintuchangngay.org/2012/08/thong-bao-cua-thuong-vu-hoi-nha-va
-------------------------------------------------------------------------------
CHUYỆN “DÂNG HƯƠU NÓI NGỰA” THỜI TẦN CÓ LẶP LẠI TRÊN VĂN ĐÀN VIỆT ?
La Quán
Cơm.
Trên văn đàn Việt vừa rộ lên chuyện bốc thơm ngất trời 2 tập thơ vớ vẩn của Hoàng
Quang Thuận tại
trụ sở Hội Nhà văn VN; chuyện này làm cho chúng ta liên tưởng tới câu chuyện Triệu Cao
dâng hươu cho Hồ Hợi ( Tần Nhị Thế ) nhưng lại bảo là ngựa được ghi lại trong Sử
ký Tư Mã Thiên...
Chuyện kể rằng: “Hồ Hợi vinh dự được ngồi lên ngai vàng hoàng đế đời thứ hai, người đắc
ý nhất đương nhiên là Triệu Cao. Với sự xúi bẩy của ông ta, nhiều lão thần, lão
tướng của triều đình từ xưa đều trở thành hồn ma dưới đao của Triệu Cao, các
con trai, con gái khác của Tần Thủy Hoàng cũng bị sát hại. Thừa tướng Lý Tư, một
kẻ tiểu nhân chỉ đồ lợi ích cá nhân, tha thứ sẽ sinh hư cuối cùng không thể may
mắn tránh được vận đen bị chém đầu ở Mãn Môn. Lý Tư vừa chết, Triệu Cao kiêm
nhiệm luôn chức Trung Thừa tướng, trở thành vị trọng thần mãi mãi dưới một người
mà trên vạn người. Mục tiêu tiếp theo của ông ta chính là Hồ Hợi - vị hoàng đế
đời thứ hai. Triệu Cao muốn tạo lên một uy thế khiến cả triều đình phải phục
tùng ý của ông ta.
Nhìn từ bên ngoài, Triệu Cao lúc này vẫn tận trung với Hồ Hợi. Mọi người nghĩ xem, ông ta nói rằng muốn dâng cho hoàng thượng một con ngựa tốt. Hồ Hợi không biết bị lừa vội nói: "Thừa tướng đã tặng nhất định phải là ngựa tốt". Nhưng khi được dẫn vào thì xuất hiện trước mắt không phải là ngựa mà là một con hươu.
"Thừa tướng nói nhầm rồi! Đây đâu có phải là ngựa. Rõ ràng là hươu mà!" Hồ Hợi vừa cười vừa nói:
"Không! Bệ hạ nhìn kỹ lại xem, đây làm sao có thể là hươu được? Bệ hạ ngay cả con ngựa cũng không nhận ra được sao?" Triệu Cao tỏ vẻ nghiêm túc.
Hồ Hợi bị làm cho mơ hồ rối cả lên. Nhìn quanh hai bên, những vị đại thần trên triều, các quan thái giám trong nội cung ai nấy đều đưa mắt nhìn nhau. Khiếp sợ trước uy thế của Triệu Cao, người nào dám nói đây là hươu. Mọi người đều nói là ngựa một cách "biết điều”.
Triệu Cao đã đạt được mục đích. Từ đó, Hồ Hợi hoàn toàn nghe theo sự chi phối của ông ta. Những lời ông ta nói, Hồ Hợi rất tin tưởng, không nghi ngờ, nói một là một không thể là hai...”
Nhìn từ bên ngoài, Triệu Cao lúc này vẫn tận trung với Hồ Hợi. Mọi người nghĩ xem, ông ta nói rằng muốn dâng cho hoàng thượng một con ngựa tốt. Hồ Hợi không biết bị lừa vội nói: "Thừa tướng đã tặng nhất định phải là ngựa tốt". Nhưng khi được dẫn vào thì xuất hiện trước mắt không phải là ngựa mà là một con hươu.
"Thừa tướng nói nhầm rồi! Đây đâu có phải là ngựa. Rõ ràng là hươu mà!" Hồ Hợi vừa cười vừa nói:
"Không! Bệ hạ nhìn kỹ lại xem, đây làm sao có thể là hươu được? Bệ hạ ngay cả con ngựa cũng không nhận ra được sao?" Triệu Cao tỏ vẻ nghiêm túc.
Hồ Hợi bị làm cho mơ hồ rối cả lên. Nhìn quanh hai bên, những vị đại thần trên triều, các quan thái giám trong nội cung ai nấy đều đưa mắt nhìn nhau. Khiếp sợ trước uy thế của Triệu Cao, người nào dám nói đây là hươu. Mọi người đều nói là ngựa một cách "biết điều”.
Triệu Cao đã đạt được mục đích. Từ đó, Hồ Hợi hoàn toàn nghe theo sự chi phối của ông ta. Những lời ông ta nói, Hồ Hợi rất tin tưởng, không nghi ngờ, nói một là một không thể là hai...”
Qua việc đưa 2 tập thơ dở của Hoàng
Quang Thuận ra hội thảo, một kiểu thử lòng các “ đại thần “ phê bình trong lĩnh
vực văn chương vừa qua tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam liệu có giống như chuyện
Triệu Cao ngày xưa: do muốn thâu tóm quyền sinh, quyền sát, quyền khen quyền
chê: Cho Nobel sẽ được phần Nobel... nên đã đưa thơ Hoàng Quang Thuận thối
như...nhưng lại bắt khen như là khen Thơ Nobel ???
Kết quả rất nhiều “ đại thần “ văn
chương đã lao vào tung hô ầm ỹ: biết là “hươu” nhưng vẫn cứ hô bừa đi là “ ngựa”;
biết tỏng thơ Hoàng Quang Thuận là loại thơ thối...những cứ tung hô ào lên là thơ
bí hiểm, Thơ Thiền, Thơ Thần...
L.Q.C.
Được đăng bởi
Nhà văn Phạm Viết Đào vào lúc
Thứ bảy, tháng tám 18, 2012
nguồn:http://phamvietdao2.blogspot.com/2012/08/chuyen-dang-huou-noi-ngua-thoi-tan-co.html
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Sẽ xóa những comment nói tục
Thinhoi001



