Bá quyền với bản sắc Trung Quốc
(Phỏng dịch bài "Hegemony
with Chinese characteristics,"
National Interest, tháng 7-8,
2011, tr. 18-27)
Aaron L.
Friedberg
Giáo sư khoa Chính trị và Các Vấn đề Quốc tế Đại học Princeton, Mỹ
Giáo sư khoa Chính trị và Các Vấn đề Quốc tế Đại học Princeton, Mỹ
Hoa Kỳ và nước Cộng hòa
Nhân dân Trung Quốc bị dính vào nhau trong một cuộc tranh chấp thầm lặng nhưng
ngày càng mạnh mẽ nhằm giành quyền lực và ảnh hưởng, không chỉ ở châu Á mà còn
khắp thế giới. Mặc dù những gì mà nhiều nhà bình luận nghiêm chỉnh và đầy thiện
chí có vẻ tin, sự kình địch đang chớm nở giữa Mỹ và Trung Quốc không chỉ là hậu
quả của những ngộ nhận hay chính sách sai lầm, đàng sau chúng là những lực phát
xuất từ cấu trúc đang chuyển biến của hệ thống quốc tế và từ chính sự khác biệt
của thể chế chính trị ở hai nước này.
Trong suốt lịch sử, quan
hệ giữa các nước đang chế ngự và các nước đang vươn lên không bao giờ là dễ dàng
– và thường là dữ dội. Những nước hiện là cường quốc thì có khuynh hướng xem
mình là cảnh vệ một trật tự quốc tế mà họ đã có công sáng lập và nhờ nó mà họ
đang tiếp tục hưởng lợi. Mặt khác, những cường quốc đang vươn lên thì cảm thấy
bị kiềm hãm, thậm chí bị lừa bịp, bởi tình trạng hiện hữu; họ đấu tranh chống
lại tình trạng ấy để giành lấy cái mà họ cho rằng đúng ra là của họ. Thực vậy,
câu chuyện này, với những ngụ ý kiểu Shakespeare về trẻ và già, vững mạnh và suy
tàn, là thứ chuyện cỗ xưa nhất trong lịch sử còn ghi lại của loài người. Ngay từ
thế kỷ 5 trước công nguyên nhà sử học vĩ đại người Hy Lạp Thucydides bắt đầu
nghiên cứu về cuộc chiến tranh Peloponnesia với nhận xét tưởng chừng như đơn
giản rằng nguyên nhân sâu xa nhất, thực nhất, của chiến tranh này là "sự lớn lên
của sức mạnh Athena và sự sợ hãi mà nó gây cho Sparta."
Sự thật rằng quan hệ
Mỹ-Trung là quan hệ cạnh tranh thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Song hai nước
này không phải là hai cường quốc bất kỳ: Từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Mỹ là
nước giàu nhất và mạnh nhất thế giới; Trung Quốc, khác thế, là quốc gia mà khả
năng là tăng lên nhanh nhất. Mỹ vẫn còn là "số một," nhưng Trung Quốc đang nhanh
chóng thu ngắn khoảng cách giữa họ và Mỹ. Hậu quả của sự cạnh tranh này không
thể là hệ trọng hơn, và đặc biệt là đầy tiềm năng đưa đến xung đột.
Ít nhất là dưới mắt các
cường quốc hiện chế ngự, các nước đang lên có xu hướng là những kẻ gây rối. Khi
khả năng của một nước gia tăng thì, nói chung, các lãnh đạo của nước ấy xác định
lợi ích của họ một cách rộng rãi hơn, và muốn có ảnh hưởng nhiều hơn đối với
những gì xảy ra xung quanh họ. Điều này có nghĩa là, thông thường, những nước
đang lên không chỉ mưu đồ bảo vệ biên giới của họ mà còn muốn vượt ra ngoài biên
giới ấy, có những biện pháp cần thiết để đảm bảo tiếp cận các thị trường, vật
liệu và các đường giao thông, để bảo vệ công dân của họ đang làm việc xa nhà,
bảo vệ các bạn bè và đồng minh nước ngoài của họ; để truyền bá các tôn giáo và ý
thức hệ của họ; và để có những gì mà họ xem là quyền lợi chính đáng của họ trong
những vấn đề khu vực và ở cả thế giới.
Khi các nước đang trổi
lên bắt đầu mạnh dạn lên tiếng, họ thường cảm thấy phải thách thức các đường
biên giới cố hữu, các thiết chế quốc tế và hệ thống tôn ti trật tự uy tín đã
được sắp xếp khi họ còn tương đối yếu. Tương tự Nhật Bản cuối thế kỷ mười chín,
hay Đức ở bước ngoặt sang thế kỷ hai mươi, các cường quốc mới nổi muốn tìm chỗ
đứng dưới mặt trời. Tất nhiên điều này đặt họ đối đầu với các cường quốc hiện
ngự trị – cái gọi là các nước status quo (đang có) – vốn là những nhà
kiến trúc, những kẻ thừa hưởng chủ yếu, và những người bảo vệ chính của bất kỳ
hệ thống quốc tế hiện hữu nào.
Những cọ sát phát sinh từ
đó giữa các lợi ích của hai bên rất ít khi được giải quyết một cách hòa bình.
Nhận thấy mối đe dọa đang lớn lên đối với vị thế của họ, các cường quốc hiện có
ưu thế (hay một liên minh của các nước có địa vị ấy theo thực tế - status quo)
đôi khi tấn công và hủy diệt một đối thủ trước khi đối thủ này có thể lớn lên và
đủ mạnh để thành một nguy cơ. Vài cường quốc khác – mong tránh chiến tranh – đã
theo một chính sách ngược lại: cố gắng xoa dịu những nước có khả năng thách thức
mình, họ tìm cách thỏa mãn những đòi hỏi và tham vọng của nuớc ấy và tìm cách
đưa các nước ấy vào trật tự quốc tế hiện hữu một cách hòa bình.
Tuy nhiên, dù có chân
thành đến mấy, những cố gắng này hầu như luôn luôn kết thúc trong thất bại. Đôi
khi, lý do rõ ràng là vì những đòi hỏi của quốc gia đang lên. Như nước Đức của
Adolf Hitler, một kẻ xâm lược có thể có những tham vọng quá lớn, đến mức các
nước trong trật tự hiện hữu (status quo) không thể đáp ứng mà không thực tế trở
thành kẻ phục tùng hay đưa dân tộc họ vào chỗ tự sát. Ngay khi những đòi hỏi của
các nước đang lên là không quá lớn, các nước đang có ưu thế cũng thường rất khó
chấp nhận nhượng bộ, do đó làm bừng thêm ngọn lửa oán giận và thất vọng của nước
đang lên, hoặc quá hăm hở nhượng bộ, thì lại bồi dưỡng tham vọng của các nước
này, khiến các đòi hỏi leo thang theo đường trôn ốc. Các chính sách nhượng bộ để
xoa dịu mà thắng lợi có thể hiểu được về mặt lý thuyết, nhưng việc thực hiện
chúng trong thực tế là rất khó khăn. Đó là lý do tại sao những thời kỳ chuyển
tiếp ̶ khi một cường quốc đang lên bắt đầu vượt các nước trước kia là vượt
trội ̶ đã luôn luôn được đánh dấu bằng chiến tranh.
♦
Dù họ cẩn thận không nói
thẳng, các nhà cầm quyền hiện nay của Trung Quốc có vẻ đang cố xây dựng quốc gia
họ như cường quốc nổi trội ở Đông Á, và có lẽ cả châu Á nói chung. Mục đích là
làm cho Trung Quốc thành nước mạnh nhất và có ảnh hưởng nhất trong vùng, một
nước có khả năng ngăn chặn các cuộc tấn công và các mối đe dọa; giải quyết các
tranh chấp lãnh thổ theo sở thích của Trung Quốc; ép buộc hoặc thuyết phục các
nước khác chấp nhận những ý muốn của Trung Quốc trên những vấn đề từ thương mại
và đầu tư đến liên minh và thỏa thuận căn cứ cho nước thứ ba, sự đối xử với Hoa
kiều; và, ít nhất trong vài trường hợp, gây ảnh hưởng đến bản chất và thành phần
chính phủ của các nước láng giềng. Bắc Kinh có thể không tìm cách chinh phục hay
trực tiếp kiểm soát về mặt vật chất những nước xung quanh Trung Quốc, nhưng,
chắc chắn là họ muốn thực hiện một dạng bá quyền khu vực, dù họ luôn luôn phủ
nhận điều này.
Trung Quốc không là quốc
gia duy nhất có những tham vọng như vậy. Xuyên suốt lịch sữ, bao giờ cũng có một
tương quan chặt chẽ giữa một bên là sự tăng trưởng của cải nhanh chóng và sức
mạnh tiềm năng của một nước, vùng địa lý của những quyền lợi của nước ấy, cường
độ và sự đa dạng của những đe dọa đã biết đối với những lợi ích, và bên kia là
mong muốn tăng cường các khả năng quân sự và dùng ảnh hưởng lớn hơn để bảo vệ
chúng. Chính sự tăng trưởng có xu hướng khuyến khích bành trướng, mà bành
trường thì sẽ dẫn đến mất an ninh, và mất an ninh thì càng tăng thêm ước muốn có
nhiều quyền lực hơn nữa. Mẫu hình này được thiết lập rất rõ trong thời trung cổ.
Khi nhìn lại các thế kỷ mười chín và hai mươi, Samuel Huntington thấy rằng
mọi cường quốc lớn khác, Anh và Pháp, Đức và Nhật, Mỹ và Liên xô, đã gắn liền với sự bành trướng, yêu sách ra bên ngoài, và chủ nghĩa đế quốc trùng khớp với hoặc tiếp ngay theo sau những năm công nghiệp hóa và tăng trưởng kinh tế nhanh chóng.
Đối với Trung Quốc,
Huntington kết luận “không có lý do gì để nghĩ rằng việc có được sức mạnh quân
sự và kinh tế không có những tác động tương tưˮ lên các chính sách của nước
này.
Tất nhiên, cách hành xử
trong quá khứ của các nước khác chỉ có tính gợi ý, khó là một chỉ dẫn chắc chắn
đến tương lai. Chỉ vì các cường quốc khác đã cư xử cách nào đó không nhất thiết
có nghĩa là Trung Quốc sẽ làm như vậy. Có lẽ, trong một thế giới mà thị trường
là toàn cầu và có vũ khí hạt nhân, những nỗi lo sợ và tham vọng thúc đẩy các
cường quốc nổi lên trước đây không còn mạnh mẽ như xưa. Có lẽ các lãnh đạo Trung
Quốc đã học được từ lịch sử rằng những cường quốc mới nổi thường khuấy lên những
bất mãn và chống đối.
Nhưng Trung Quốc không
phải là một cường quốc mới nổi bất kỳ nào, và lịch sử của họ cho thêm một lý do
để tin rằng họ sẽ tìm một hình thức ưu thắng nào đó trong khu vực. Trung Quốc là
một dân tộc có một quá khứ lâu dài và tự hào như là một trung tâm chủ đạo của
văn minh Đông Á. Gần đây hơn, quốc gia này cũng có một kinh nghiệm ít vẻ vang
hơn về sự đô hộ và nhục nhã trong tay ngọai xâm. Như một số nhà sử học gần đây
đã vạch rõ, Trung Quốc không chỉ "nổi lên" mà còn trở về cái địa vị vượt
trội trong khu vực mà có thời nó đã giữ, điều mà các lãnh đạo và nhiều người
trong nhân dân của họ vẫn nghĩ là đương nhiên và thích đáng. Cái mong muốn phục
hồi hệ thống lấy Hán làm trung tâm có thể nhất quán với điều mà nhà báo Martin
Jacques mô tả như
một giả định phổ biến về phần người Trung Quốc, rằng địa vị tự nhiên của họ nằm ở trung tâm Đông Á, rằng nền văn minh của họ không ai trong khu vực sánh nổi, và rằng cái địa vị xứng đáng của họ mà lịch sử ban cho, sẽ được khôi phục vào một thời điểm nào đó trong tương lai.
Học giả bảo thủ Diêm Học
Thông (Yan Xuetong) đặt vấn đề một cách ngắn gọn: Nhân dân Trung Quốc tự hào về
quá khứ vinh quang của đất nước mình và tin rằng việc Trung Quốc rơi khỏi địa vị
ưu việt là "một sai lầm lịch sử mà họ nên sửa chữa." Nếu có điều gì là đúng thì
đó chính là cái "thế kỷ nhục nhã" mà Trung Quốc bạc nhược và dễ bị tổn thương
càng làm cho việc theo đuổi quyền lực của họ thêm cấp bách. Với một dân tộc có
một lịch sử như của Trung Quốc, việc giành lại một địa vị quyền lực vô địch
không được xem một cách đơn giản là vấn đề tự hào mà đúng hơn như một điều kiện
tiên quyết thiết yếu để tiếp tục tăng trưởng, an ninh và, rất có thể, sự sống
còn.
♦
Những mẫu hình ngấm ngầm
của chính trị quyền lực như thế đang đẩy Mỹ và Trung Quốc vào chỗ nghi kỵ và
tranh đua, nếu không nhất thiết là đến xung đột công khai. Nhưng câu chuyện này
không chỉ có thế. Không như khẳng định của một số người theo chủ nghĩa thực tế,
các vấn đề tư tưởng hệ ít nhất cũng quan trọng như vấn đề quyền lực trong việc
quyết định tiến trình của các quan hệ giữa các quốc gia. Sự kiện Mỹ là một nền
dân chủ tự do trong khi Trung Quốc vẫn còn là một chế độ toàn trị là một sức đẩy
thêm rất mạnh cho sự tranh đua, một chướng ngại cho những quan hệ ổn định và hợp
tác, và tự nó là một nguồn gốc của thù địch và nghi ngờ lẫn nhau.
Quan hệ giữa các xã hội
dân chủ và không dân chủ luôn được thực hiện trong cái mà nhà chính trị học
Michael Doyle mô tả là một "bầu không khí hiềm nghi", phần nào vì "nhận thức của
các nước tự do rằng các nước không tự do luôn ở trong một tình trạng xâm lược
gây hấn chống lại chính nhân dân của họ." Các nước dân chủ, nói ngắn gọn, xem
các nước không dân chủ là ít chính đáng hơn bởi lẽ những nước sau này không có
sự đồng ý mà dân chúng của họ được tự do tỏ bày. Đơn giản là, trong thâm tâm,
phần lớn các công dân ở những nước dân chủ không tin rằng tất cả mọi quốc gia
đều được tạo ra một cách bình đẳng, hoặc là mọi quốc gia đều đáng đuợc kính
trọng như nhau, bất kể quốc gia ấy được cai trị như thế nào.
Nhìn dưới ánh sáng này,
những tranh cãi Mỹ - Trung Quốc về những vấn đề như kiểm duyệt và tự do tôn giáo
không chỉ gây khó chịu ngoài mặt -- những khó chịu có thể hóa giải hoặc rũ bỏ.
Trái lại, chúng là triệu chứng của những khó khăn sâu hơn. Đối với đa số người
Mỹ, sự vi phạm nhân quyền của Trung Quốc không chỉ tự nó đã là sai trái, nó còn
là dấu hiệu mạnh mẽ của bản chất tởm gớm về đạo đức của chế độ Bắc Kinh. Trong
khi Mỹ có thể giao dịch với một chính phủ như vậy ít ra về một số vấn đề, khả
năng có một quan hệ nồng ấm, tin cậy nhau, là xa vời, ấy là nói nhẹ
nhất.
Các xã hội dân chủ cũng
có xu hướng xem các xã hội không dân chủ là, tự căn bản, không đáng tin và có
khuynh hướng, một cách nguy hiểm, xâm lăng các nước khác. Vì những hành động của
các nước không dân chủ được che phủ trong bí mật, những mưu toan, và toàn bộ
thực lực quân sự của những nước này rất khó được nhận biết. Trong những năm gần
đây, các quan chức Mỹ đã thúc ép đối tác Trung Quốc của họ phải minh bạch hơn về
các chương trình quốc phòng, nhưng ít có hy vọng những yêu cầu này sẽ được đáp
ứng theo bất kỳ cách nào có ý nghĩa. Thậm chí, nếu Bắc Kinh bỗng nhiên công bố ồ
ạt những thông tin và những con số, thì các nhà phân tích Mỹ cũng sẽ nhìn chúng
với thái độ nghi ngờ sâu sắc, săm soi các dữ liệu ấy để tìm ra những dấu hiệu
dối trá và đánh lạc hướng. Và họ làm thế là đúng; chính phủ Trung Quốc tập quyền
và kiểm soát ngặt nghèo được đặt vào ưu thế tốt hơn nhiều để làm những âm mưu
như vậy, so với đối tác Mỹ của nó, vốn phân quyền, công khai và hay để lộ bí
mật.
Khả năng bảo mật của các
chính quyền không dân chủ cũng cho phép các quốc gia này dễ sử dụng vũ lực mà
không báo trước. Từ năm 1949, các nhà cầm quyền Trung Quốc đã bộc lộ một thiên
hướng đặc biệt về tấn công bất ngờ và đánh lừa. (Hãy nghĩ đến việc Bắc Kinh lao
vào Chiến tranh Triều Tiên tháng Chạp năm 1950, hay cuộc tấn công Ấn Độ của họ
vào tháng Mười 1962.) Khuynh hướng này có thể đã bắt rễ sâu trong văn hóa chiến
lược Trung Quốc từ thời Tôn Tử, nhưng nó cũng hoàn toàn nhất quán với tính cách
của chính sách đối nội hiện nay của nước này. Thật ra, hầu hết các nhà phân tích
Mỹ quan ngại về bản chất chuyên chế của chính phủ Trung Quốc nhiều hơn là về văn
hóa của Trung Quốc. Nếu Trung Quốc là một xã hội dân chủ, có lẽ nền tảng văn hóa
xã hội sâu xa của hành vi chiến lược và chính trị của nó có thể không khác nay
là mấy, nhưng các nhà lập định kế hoạch của Mỹ có thể đỡ lo lắng hơn nhiều vì
khả năng một nước Trung Quốc như thế có thể liều lĩnh thử một đòn tấn công như
sét đánh trên các lực lượng và các căn cứ Mỹ ở tây Thái Bình Dương sẽ rất thấp
hơn.
Những nỗi lo xâm lược như
thế còn gia tăng bởi nhận định rằng chính cái lo lắng về sự thiếu tính chính
đáng trong nội bộ có thể khiến các nước không dân chủ sẽ lái sự thất vọng và bất
bình của dân chúng sang các kẻ thù bên ngoài. Chẳng hạn một số nhà quan sát
phương Tây lo ngại rằng nếu nền kinh tế Trung Quốc suy sụp, nhà cầm quyền Trung
Quốc có thể đổ lỗi cho nước ngoài, thậm chí ngụy tạo khủng hoảng với Đài Loan,
Nhật Bản hoặc Mỹ để huy động dân của họ và chuyển sự tức giận của dân chúng sang
một hướng khác. Dù chủ đích của Bắc Kinh thật sự là sao đi nữa, những cuộc đối
đầu như thế có thể dễ dàng leo thang khỏi tầm kiểm soát. Chẳng phải là lãnh đạo
các nuớc dân chủ không bao giờ bị cám dỗ phiêu lưu quân sự ở nuớc ngòai. Tuy
nhiên, vì hậu quả đối với họ là thấp hơn nhiều (bị bỏ phiếu bất tín nhiệm chứ
không phải bị lật đổ và vào tù, hoặc xấu hơn nữa), ít có khả năng là họ sẽ mạo
hiểm đến mức cực độ để bám giữ quyền lực của mình.
Sự nghi kỵ giữa
Washington và Bắc Kinh không phải một chiều - và với lý do dễ hiểu. Các nhà cầm
quyền hiện nay của Trung Quốc không coi mình là lãnh đạo phong trào cách mạng
thế giới như trước đây, nhưng họ vẫn tin rằng họ đang dính vào một cuộc đấu
tranh ý thức hệ, mặc dù trong cuộc đấu tranh ấy, cho đến gần đây họ đã hầu như
hoàn toàn ở thế tự vệ. Trong khi họ xem những tuyên bố của Washington rằng Mỹ
quan ngại về nhân quyền và các quyền tự do cá nhân là khá mỉa mai và có tính cơ
hội, các nhà lãnh đạo Trung Quốc không nghi ngờ gì rằng Mỹ được thực tình thúc
đẩy bởi hùng khí ý thức hệ. Nhìn từ Bắc Kinh, Washington là một cường quốc nguy
hiểm, thánh chiến, phóng khóang, hầu như có tính đế quốc, một quốc gia không
nghỉ yên chừng nào mà nó chưa thể áp đặt các quan điểm và lối sống của nó lên
toàn hành tinh. Ai chưa nắm được nhu cầu này của Mỹ chỉ cần đọc những diễn văn
của các quan chức Mỹ với những lời hứa hẹn mở rộng tầm ảnh hưởng của dân chủ và
tẩy sạch thế giới khỏi bạo quyền.
Thật ra, chính vì ý thức
hệ mà Mỹ có khuynh huớng nghi ngờ và thù địch Trung Quốc nhiều hơn là chỉ vì các
lý do chiến lược, ý thức hệ cũng có xu hướng làm tăng ở Washington ý muốn sẵn
sàng trợ giúp các quốc gia dân chủ khác khi những quốc gia dân chủ này cảm thấy
bị đe dọa bởi quyền lực Trung Quốc, ngay cả khi sự trợ giúp này không phải là
những gì mà những tính toán chính trị thực dụng thuần túy về những lợi ích của
nó có vẻ đòi hỏi. Chính vì lẽ đó, không thể giải thích được sự giúp đỡ kiên trì
– thật ra là đang sâu đậm hơn - cho Đài Loan trong những năm 1990 nếu không tham
chiếu sự kiện là hòn đảo này đã phát triển từ một thành trì chuyên chế của phe
chống cộng thành một nền dân chủ tự do. Bỏ đi những liên hệ cuối cùng của Mỹ với
Đài Loan sẽ gỡ bỏ nguồn gây xích mích chủ yếu với Trung Quốc và một nguyên nhân
tiềm tàng của chiến tranh. Một động thái như thế thậm chí vẫn có thể hiểu được
nếu Đài Loan vẫn còn hiện ra trong mắt nhiều người Mỹ -- như nó đã hiện ra trong
những năm 1970 -- như một nền độc tài tham nhũng và trấn áp. Nhưng sự kiện là
Đài Loan ngày nay được coi như nền dân chủ chân chính (nếu không hoàn thiện) sẽ
khiến Washington rất khó có khi nào tự ý bỏ rơi nó.
Sau khi nhìn thấy cách Mỹ
đánh quỵ Liên Xô bằng sự kết hợp giữa đối đầu bên ngòai và lật đổ bên trong, từ
cuối Chiến tranh Lạnh các nhà chiến lược Trung Quốc đã sợ rằng Washington có ý
định làm như thế với họ. Niềm tin này làm méo mó nhận thức của Bắc Kinh hầu như
về mọi khía cạnh của chính sách Mỹ đối với Trung Quốc, từ nhiệt tình giao hảo
kinh tế đến những cố gắng cổ vũ sự phát triển hệ thống pháp luật của Trung Quốc.
Niềm tin ấy cũng định hướng sự đánh giá của lãnh đạo Trung Quốc về những hoạt
động của Mỹ khắp châu Á, những họat động mà Bắc Kinh tin là nhằm bao vây Trung
Quốc bằng những nước dân chủ ủng hộ Mỹ, và điều đó tiêm nhiễm vào các chính sách
của Trung Quốc chống lại ảnh hưởng ấy.
Với sự nổi lên của Trung
Quốc trên vũ đài thế giới, nước này trở thành nguồn cảm hứng và hỗ trợ vật chất
cho các nhà độc tài đang bị khó khăn ở Trung Đông, châu Phi và châu Mỹ Latin,
cũng như châu Á – những người cầm cự cuối cùng của các chế độ phản dân chủ,
những người đã được cho là trên đường rơi vào đống rác của lịch sử sau khi Liên
Xô sụp đổ. Người Mỹ có thể tin từ lâu rằng điều kiện cần của tăng trưởng là
quyền tự do chọn lựa trong lãnh vực kinh tế (điều được giả định là sẽ tất yếu mở
rộng tự do chính trị), nhưng, ít nhất là hiện tại, Trung Hoa lục địa đã pha trộn
thành công một nền cai trị độc tài với kinh tế thị trường. Nếu nước này đi đến
chỗ được coi như đưa ra một mô hình phát triển thay thế (cho mô hình của Mỹ --
Người dịch) thì sự tiếp tục tăng trưởng của Trung Quốc dưới sự cai trị chuyên
chế có thể làm phức tạp và làm chậm lại những cố gắng từ lâu của Mỹ nhằm khuyến
khích truyền bá các thiết chế chính trị tự do khắp thế giới.
Nỗi lo sợ rằng Mỹ mưu
toan thay đổi chế độ cũng có một vai trò ngày càng quan trọng trong việc họach
định chính sách của Trung Quốc đối với các nước ở những vùng khác trên thế giới.
Nếu Mỹ có thể làm áp lực và có lẽ hạ bệ các lãnh đạo hiện nay ở Venezuela,
Zimbabwe và Iran, nó có thể trở nên táo bạo hơn trong cố gắng làm cái gì đó
tương tự với Trung Quốc. Bằng cách giúp cho những chế độ này sống còn, Bắc Kinh
có được bạn bè và đồng minh cho những cuộc đấu tương lai, làm yếu đi cái nhận
thức rằng dân chủ đang trên đường tiến tới và làm chệch một số năng lực phi
thường của Mỹ khỏi chính Trung Quốc. Những cố gắng của Washington làm cô lập, ép
buộc và có thể làm xói mòn những nhà nước chuyên chế "hoang đàng" (như Iran và
Bắc Triều Tiên) đã bị làm cho phức tạp nếu không nói là thất bại, bởi sự sốt
sắng của Bắc Kinh gắn kết với chúng. Đồng thời, tất nhiên, những hành động của
Trung Quốc cũng làm gia tăng mối lo ngại ở Washington về những động cơ và những
dự định của nó, bằng cách đó đổ thêm dầu vào ngọn lửa tranh đua.
♦
Có thể là, trong vị trí
địa chính trị của Bắc Kinh, bất kỳ một cường quốc nào đang trổi lên cũng muốn có
ảnh hưởng đáng kể trong khu vực kế cận với nước ấy. Cũng có thể là, với lịch sử
của họ, và cho dù họ được cai trị như thế nào, Trung Quốc cũng đặc biệt quan tâm
đến việc tự khẳng định mình và việc được láng giềng thừa nhận là đứng đầu giữa
những kẻ ngang hàng. Nhưng cuối cùng thì chính đặc điểm chính trị nội bộ Trung
Quốc là yếu tố quyết định chính xác cách Trung Quốc định nghĩa những mục tiêu
của họ đối với thế giới bên ngòai, và phương cách theo đuổi mục tiêu ấy của
họ
Như Ross Terrill của
Trung tâm Fairbank Đại học Harvard nhận xét, khi chúng ta nói về các ý định hay
chiến lược "của Trung Quốc", sự thật là chúng ta đang nói về các mục tiêu và kế
hoạch của các lãnh đạo chóp bu hiện nay của nước này mà, như ông mô tả, là "chín
ông kỷ sư làm thành Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng Sản Trung Quốc."
(Ross Terrill, "What
does China Want?" Wilson Quarterly. Mùa thu 2005). Tất cả những gì chúng ta
biết về những người này cho thấy rằng họ được thúc đẩy trên hết bởi niềm tin của
họ về sự cần thiết duy trì sự cầm quyền của Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Theo một
nghĩa nào đó, điều này hoàn toàn là vì lợi ích của chính họ. Những lãnh đạo hiện
nay và gia đình họ được hưởng những đặc quyền và những cơ hội mà những người
khác trong xã hội Trung Quốc không có được; những đặc quyền và cơ hội này xuất
phát từ chính sự gần gủi của họ với cội nguồn của quyền lực chính trị. Sự kết
thúc nhiều thập kỷ ngự trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ có những hậu quả lập
tức, đau đớn và có lẽ bi thảm đối với những người đang có địa vị chóp bu của hệ
thống. Những ngôi sao đang lên hy vọng một ngày nào đó sẽ chiếm những vị trí này
và ngay cả những quan chức nhỏ với những tham vọng khiêm tốn có lẽ cũng tính
tóan như vậy. Sự hội tụ quyền lợi cá nhân và một cảm giác chung số phận đem đến
cho nhà nước-đảng này một sự dính kết mà nó sẽ không có nếu tình thế là khác
hơn. Các đảng viên biết rằng nếu họ không đoàn kết với nhau họ rất có thể gặp
nguy hiểm riêng rẽ - và điều hiểu biết này thấm nhiễm cách suy nghĩ của họ đối
với mọi vấn đề mà họ đương đầu.
Nhưng động cơ để Đảng
Cộng Sản Trung Quốc tiếp tục nắm giữ quyền hành không chỉ có gốc rễ trong lợi
ích bản thân. Giới lãnh đạo của Đảng thành thực tin rằng Đảng đã có những thành
tựu vẻ vang trong quá khứ và ở sự cần thiết không thể thiếu được của Đảng trong
tương lai. Dù gì thì chính Đảng Cộng sản Trung Quốc đã giải cứu Trung Quốc khỏi
ngọai xâm, đã đưa nước này ra khỏi một thế kỷ bị áp bức và nhục nhã, nâng Trung
Quốc lên hàng những đại cường trên thế giới. Trong con mắt của những lãnh đạo
của nước này, và một bộ phận nhân dân Trung Quốc, những thành tựu này tự bản
thân chúng đã cho Đảng Cộng Sản Trung Quốc thẩm quyền đạo đức duy nhất và chính
đáng hóa sự cai trị của Đảng.
Nhìn về tương lai, các
quan chức Đảng tin rằng chỉ có họ là đang đứng giữa một bên là tiếp tục ổn định,
thịnh vượng, tiến bộ và vươn lên tầm vĩ đại không thể chặn lại, và một bên là
quay lại với hỗn loạn và bạc nhược. Như một phân tích của hồ sơ cá nhân bí mật
bị rò rỉ của "thế hệ thứ tư" các lãnh đạo Trung Quốc hiện nay (với Mao Trạch
Đông, Đặng Tiểu Bình, và Giang Trạch Dân là ba thế hệ lãnh đạo đầu) của các nhà
Trung Quốc học Andrew Nathan và Bruce Gilley cho thấy, về vấn đề này, không có
dấu hiệu bất đồng hay nghi ngờ gì trong nội bộ Đảng. Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, các
đồng nhiệm của ông và những người có khả năng kế tục ông thấy rõ nhiều thách
thức cả trong lẫn ngòai mà họ đang đối diện, nhưng họ tin rằng họ, và chỉ có họ,
mới có thể tìm ra giải pháp cần thiết để giữ cho đất nước của họ tiến lên và làm
cho quốc gia này giành lại được số phận của nó. Quả thật, họ tin rằng chính tầm
cỡ và sự phức tạp của những vấn đề đang đối diện với Trung Quốc là lý do khiến
sự tiếp tục cầm quyền của họ là tuyệt đối cần thiết.
Ước muốn của Đảng tiếp
tục cầm quyền định hình mọi khía cạnh của chính sách quốc gia. Về mặt đối ngoại,
điều ấy có nghĩa là mục đích tối hậu của Bắc Kinh là "làm cho thế giới an toàn
cho chủ nghĩa chuyên chế" hay ít nhất để tiếp tục chế độ độc đảng ở Trung Quốc.
Trong nhiều thập kỷ gần đây, sự tập trung chú ý vào an toàn của chế độ đã dẫn
đến, trước hết, việc duy trì những điều kiện quốc tế cần thiết để tiếp tục tăng
trưởng kinh tế. Khả năng của Đảng trong việc nhanh chóng nâng cao thu nhập và
phúc lợi cá nhân là thành tựu thật nhất trong ba mươi năm qua và là nguồn gốc
của những đòi hỏi mạnh nhất của Đảng rằng nhân dân Trung Quốc phải biết ơn và
trung thành với Đảng. Đồng nghiệp Thomas Christensen của tôi ở Princeton lập
luận rằng, tăng trưởng kinh tế "tạo ra sự thỏa mãn và xao lãng của dân chúng,
và, do đó thu được sự ủng hộ trong nước đối với Đảng (hay ít nhất cũng làm giảm
sự tích cực chống đối)" Tăng trưởng còn tạo ra thu nhập mà chính phủ có thể dùng
để "mua chuộc đối lập và tài trợ cho những địa phương nghèo và các vùng dân tộc
thiểu số để cố gắng ngăn ngừa những cuộc nổi dậy có bạo lực."
Với một nước Trung Quốc
đang trở nên giàu và mạnh hơn, sự theo đuổi an ninh của quốc gia này cũng đã dẫn
họ tìm cách tăng cường kiểm soát thế giới bên ngoài. Sự "đẩy ra ngoài" này có
động lực cả công lẫn thủ. Là người cai quản sự vĩ đại của dân tộc, Đảng có trách
nhiệm đưa Trung Quốc trở về địa vị đúng của nước này ở trung tâm châu Á. Sự tôn
trọng rõ ràng của những nước khác đối với Trung Quốc là bằng chứng thành công
của chế độ về mặt này và gia tăng tính chính đáng của chế độ đối với nhân dân
Trung Quốc. Đặc biệt, nếu tăng trưởng kinh tế có thể vấp ngã, thì sự "đứng lên"
trước kẻ thù truyền thống và giải quyết vấn đề Đài Loan và các cuộc tranh chấp
khác theo quan điểm của Bắc Kinh dễ trở thành những phần quan trọng trong chiến
lược của Đảng Cộng Sản Trung Quốc nhằm duy trì quyền lực của họ. Các lãnh đạo
Trung Quốc tin rằng đất nước họ càng tỏ ra mạnh về mặt đối ngọai, thì chế độ của
họ càng mạnh trong nước.
Ngược lại, nếu đối ngọai
Trung Quốc có vẻ bạc nhược hoặc nhận thức phổ biến rằng nước này đã bị thua
thiệt hay bị khinh bỉ, thì có thể là cực kỳ nguy hiểm đối với triển vọng tiếp
tục cầm quyền của Đảng. Những lo lắng ngấm ngầm về tính chính đáng của Đảng
khiến chế độ nhạy cảm hơn với sự khinh rẽ và thất bại, và càng khiến họ kiên
quyết hơn trong việc ngăn chặn những thử thách và tránh thất bại. Sự bảo đảm tốt
nhất chống lại những nguy cơ như thế đối với Trung Quốc là tích lũy một ưu thế
sức mạnh áp đảo trong khu vực láng giềng của nuớc này.
Hơn nữa, sự cực kỳ nhạy
cảm của Đảng Cộng Sản Trung Quốc đối với cái mà Đảng coi là "chủ nghĩa ly khai"
là hậu quả trực tiếp của việc họ tin rằng họ phải duy trì kiểm soát tập trung ở
mọi nơi mọi lúc. Vì thế, yêu sách tăng tự trị ở Tây Tạng và Tân Cương được xem
như mối đe dọa "chết người" đối với sự thống nhất quốc gia và như vậy là đối với
sự tiếp tục cầm quyền của Đảng. Chế độ này tin rằng nếu họ buông lơi dù chỉ một
chút sự nắm chặt của họ thì cả nước sẽ vỡ tung. Các lãnh đạo Trung Quốc thấy cần
phát triển đủ sức mạnh để ngăn chặn các nước láng giềng của họ cung cấp viện trợ
và nhu yếu cho các nhóm ly khai và sẽ tạo ra những khả năng để can thiệp trực
tiếp nhằm ngăn chặn chúng, nếu điều đó trở nên cần thiết.
Ngay khi Đảng mạnh hơn
và, trong vài khía cạnh, tự tin hơn, họ vẫn tiếp tục lo sợ sự ô nhiễm tư tưởng.
Các nước dễ bảo và đồng tâm nằm dọc theo biên giới của Trung Quốc có khả năng
giúp Bắc Kinh đối phó với nguy cơ này rất nhiều hơn những quốc gia dân chủ phóng
khoáng có quan hệ chặt chẽ với phương Tây. Mong muốn ngăn chặn "diễn biến hòa
bình" trong nước cho chế độ một lý do thuyết phục hơn để muốn định hướng sự phát
triển chính trị của các láng giềng của Trung Quốc.
Tóm lại: không phải những
người cầm quyền hiện nay ở Trung Quốc mưu cầu ưu thế cho quốc gia của họ chỉ vì
họ là lãnh đạo của một cường quốc đang lên, hay đơn giản vì họ là người Trung
Quốc. Mong muốn thống trị và kiểm soát của họ, phần lớn, là một phó sản của loại
hệ thống chính trị mà họ đang cầm đầu. Một Trung Quốc mạnh, dân chủ tự do, chắc
chắn cũng sẽ tìm một vai trò lãnh đạo trong khu vực của nó và có lẽ một quyền
phủ quyết trên thực tế đối với những sự phát triển mà quốc gia này cho là đi
ngược những lợi ích của họ. Tuy nhiên, một chế độ (dân chủ tự do) như thế cũng
sẽ ít sợ mất ổn định trong nưóc, ít cảm thấy bị đe dọa bởi sự hiện diện của các
nước láng giềng dân chủ, và cũng có xu hướng tìm ủng hộ của dân chúng trong nước
qua sự chế ngự và lệ thuộc của những nước khác.
♦
Dù không phải ai cũng tin
như thế, nhưng, cuối cùng, một nước Trung Quốc dân chủ hơn sẽ đem đến một môi
trường hòa bình hơn, khó có chiến tranh hơn, ở châu Á. Theo quan điểm của nhiều
người theo chủ nghĩa thực tế, những cải cách nội bộ sẽ chỉ làm cho Bắc Kinh phồn
thịnh hơn, hùng cường hơn và vì vậy là một đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ hơn mà
không làm nước này chệch khỏi ý muốn thống trị Đông Á và giải quyết những tranh
cãi với một số láng giềng của nó. Có một sự thật chắc chắn rằng ngay cả nếu
trong dài hạn, Trung Quốc trở thành một nền dân chủ hòa bình và ổn định đi nữa
thì cuộc chuyển đổi của nó cũng sẽ đầy chông gai. Việc mở cửa hệ thống chính trị
của đất nước cho những bất đồng và tranh luận dễ đưa một yếu tố bất ổn vào chính
sách đối ngoại của nó khi các tiếng nói khác được nghe và các lãnh đạo đầy tham
vọng tranh giành nhau sự ủng hộ của dân chúng. Như một nhà quan sát, nhà kinh tế
học David Hale buồn bã chỉ ra: "Một Trung Quốc chuyên chế có thể dễ dàng đoán
trước. Một Trung Quốc mở cửa và dân chủ hơn có thể sinh ra những bất trắc mới
trong cả chính sách đối nội và các quan hệ quốc tế."
Chủ nghĩa dân tộc, có lẽ
dưới dạng độc hại và hung hăng nhất của nó, là một nhân tố có thể đóng vai trò
nổi bật trong việc định hướng chính sách ngoại giao của một Trung Quốc (Middle
Kingdom – vương quốc ở giữa) tự do hóa. Nhờ có sự lan tràn của mạng lưới
Internet và nới lỏng kiềm chế trên ít nhất một số dạng biểu hiện chính trị của
"lòng yêu nước", chế độ hiện nay đã thấy mình là đối tượng phê phán bất cứ khi
nào nó giữ lập trường mà một số "cư dân mạng" cho là dễ dãi quá đáng đối với
Nhật Bản, Đài Loan và Mỹ. Bắc Kinh lâu lâu lại tìm cách khuấy động tình cảm yêu
nước, nhưng, sợ rằng cơn giận dữ đối với các nước ngoài cũng có thể dễ dàng quay
trở lại chống lại đảng, chế độ cũng đã hết sức giữ gìn những cơn cuồng nhiệt của
quần chúng trong vòng kiểm soát. Một chính phủ được bầu ra một cách dân chủ có
thể ít rụt rè hơn nhiều. Nhà khoa học chính trị Fei Ling Wang cho rằng một chế
độ hậu cộng sản thực tế sẽ mạnh hơn trong việc đòi chủ quyền đối với Đài Loan,
Tây Tạng và Biển Nam Trung Quốc. Như ông giải thích:
Một chế độ ''dân chủ" ở Bắc Kinh, thoát khỏi những nỗi lo lắng làm suy nhược về sự sống còn của chính nó nhưng chắc chắn sẽ bị lôi kéo bởi những tình cảm của dân chúng, có thể làm cho cường quốc Trung Quốc đang lên thành một sức mạnh quả quyết, nôn nóng, tham chiến và hung hăng hơn, ít nhất trong thời kỳ bất ổn leo nhanh lên vị trí của một cường quốc đẳng cấp thế giới.
Điều cuối cùng là then
chốt. Ngay cả những người tin tưởng nhất vào những tác động làm hòa dịu của quá
trình dân chủ hóa cũng nhìn nhận khả năng của một cuộc chuyển đổi hỗn loạn.
Trong tác phẩm Tương lai Dân chủ của Trung Quốc (China's Democratic
Future), Bruce Gilley thừa nhận rằng các cuộc cách mạng dân chủ trong các
nước khác thường dẫn đến bùng nổ các cuộc xâm lược nước ngoài, và ông nhận xét
rằng từ đầu thế kỷ hai mươi, phong trào ủng hộ dân chủ ở Trung Quốc cũng có tính
dân tộc chủ nghĩa cao độ. Dù có những tiền lệ này, Gilley tiên đoán rằng sau một
quãng cách có lẽ một thập kỷ, một nước được chuyển đổi sẽ yên hàn đi vào những
mối quan hệ hợp tác và ổn định hơn với Mỹ cũng như với các nước dân chủ láng
giềng của nó.
Tất nhiên một kết quả như
thế không hề là chắc chắn, và phụ thuộc vào những sự kiện và những tương tác khó
biết trước và thậm chí khó kiểm soát. Nếu những va chạm ban đầu giữa một nền dân
chủ non trẻ và những đối tác được thiết lập tốt hơn của nó bị xử lý tồi dẫn đến
một cuộc xung đột vũ trang thật sự, lịch sử có thể xoay sang những hướng rất
khác và ít hứa hẹn hơn nhiều [so với] nếu chúng được giải quyết thỏa đáng. Tuy
nhiên, giả sử cuộc chuyển đổi có thể được dẫn hướng không gây ra thảm họa, có
đầy đủ lý do để tin rằng các quan hệ sẽ được cải thiện với thời gian. Một người
Trung Quốc ủng hộ cải cách chính trị, Liu Junning, đã tổng kết tóm tắt rõ ràng
các viễn cảnh. Trong khi một nước Trung Quốc "dân tộc chủ nghĩa và độc tài" sẽ
là một mối đe dọa đang hiện hình," thì một nước Trung Quốc dân chủ, tự do cuối
cùng sẽ chứng tỏ là một "đối tác xây dựng."
Kỳ vọng này xuất phát
không phải chỉ từ sự viễn mơ. Khi các giá trị và các thiết chế của dân chủ tự do
có đuợccmột nền móng vững chắc, sẽ bắt đầu có cuộc tranh biện công khai và có ý
nghĩa chính trị và cuộc tranh đua thật sự giữa các mục tiêu quốc gia và sự phân
phối tài nguyên của đất nước. Các nhà lãnh đạo có tham vọng và những người tạo
dư luận lưu tâm đến uy tín, danh dự, quyền lực và thanh toán nợ nần sẽ phải cạnh
tranh với những người khác, nhấn mạnh đến tính ưu việt của sự ổn định quốc tế,
hợp tác, hòa giải và thúc đẩy tăng tiến phúc lợi xã hội. Những yêu cầu của quân
đội và những liên minh công nghiệp của nó sẽ có những đối trọng, ít nhất đến một
mức độ nào đó, bởi các nhóm muốn chi tiêu nhiều hơn vào giáo dục y tế và chăm
sóc người già. Phiên bản dân tộc chủ nghĩa thái quá và quyết đoán của lịch sử
Trung Quốc và những nỗi bất bình của nó sẽ bị thách thức bởi những quan điểm
thừa nhận sự có tội của chế độ cũ trong việc đàn áp các dân tộc thiểu số và từ
chối tìm kiếm sự dàn xếp trên các vấn đề chủ quyền. Một giàn lãnh đạo bị ám ảnh
với sự sống còn của chính nó và với những mối đe dọa từ các cường quốc bên ngoài
sẽ được thay thế bởi một chính phủ vững vàng trong tính chính đáng của nó và
không có lý do gì để sợ rằng các nền dân chủ trên thế giới đang tìm cách bao vây
và lật đổ nó.
Một nước Trung Quốc dân
chủ có thể sẽ thấy dễ dàng sống hòa thuận với Nhật Bản, Ấn Độ, và Nam Triều
Tiên, cùng nhiều nước khác. Sự tin cậy và tôn trọng lẫn nhau cuối cùng lớn lên
giữa các nước dân chủ và xua tan nỗi sợ rằng người ta sẽ dùng sức mạnh chống lại
nhau, sẽ làm tăng lợi thế của việc đạt được những dàn xếp thông qua thương lượng
đối với những tranh chấp về biên giới, biển đảo và các nguồn tài nguyên. Một
chính phủ dân chủ ở Bắc Kinh cũng sẽ đồng ý với một cơ hội tốt hơn để đạt được
một giải pháp hai bên cùng chấp nhận cho sự xa cách sáu mươi năm với Đài Loan.
Trái với những nhà cầm quyền Đảng Cộng Sản Trung Quốc hiện nay, một chế độ ở lục
địa được dân bầu sẽ có thấy các cuộc xung đột ít có lợi cho họ hơn, chế độ ấy sẽ
có nhiều khả năng bày tỏ sự tôn trọng đối với một chính phủ dân chủ khác được ưa
thích hơn, và chế độ ấy cũng sẽ hấp dẫn hơn đối với nhân dân Đài Loan như một
đối tác trong một số kiểu bố trí liên bang có thể sẽ thỏa mãn những mong muốn và
xoa dịu những nỗi sợ hãi của cả hai bên.
Chừng nào mà Trung Quốc
còn được cai trị như hiện nay, thì sự lớn lên của sức mạnh của quốc gia này còn
đặt một thách thức sâu xa lên các quyền lợi của Mỹ. Nếu Mỹ muốn ngăn chặn xâm
lược, ngăn cản áp bức và duy trì một trật tự mở, đa phương, thì Washington và
các nước bạn và đồng minh của Mỹ sẽ phải hành động tích cực hơn, và hợp tác chặt
chẽ hơn, để duy trì sự cân bằng thuận lợi của sức mạnh trong khu vực. Trong dài
hạn, Mỹ có thể học cách sống với một nước Trung Quốc dân chủ như một cường quốc
vượt trội ở Đông Á, như nước Anh đã đi đến chấp nhận Mỹ như một cường quốc vượt
trội ở Tây Bán cầu. Từ nay đến ngày đó, Washington và Bắc Kinh sẽ vẫn còn bị hãm
trong một cuộc đấu tranh ngày càng mãnh liệt để giành ngôi bá chủ ở châu
Á.
© Bản dịch Thời Đại
Mới
Bản thảo đăng trên viet-studies ngày 13-7-11
Bản thảo một bài dịch sẽ được đăng trên tạp chí Thởi Đại Mới số sắp ra
(nếu đăng lại, xin nêu rõ nguồn bản dịch là của tạp chí Thời Đại Mới)
nguồn:http://www.viet-studies.info/kinhte/BaQuyenTrungHoa_NI_trans.htm
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Chú ý: Nhấn vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
Sẽ xóa những comment nói tục
Thinhoi001
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Chú ý: Điền vào “nhận xét” ở cuối bài để xả stress
Sẽ xóa những comment không phù hợp
Thinhoi001